Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được triển khai trong bối cảnh bước vào những năm đầu của thập kỷ thứ hai thế kỷ XXI, khi kinh tế toàn cầu trải qua nhiều biến động phức tạp và khó lường dưới tác động của toàn cầu hóa. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bùng phát từ Mỹ kéo theo sự phục hồi chậm chạp của kinh tế thế giới, nguy cơ suy thoái mới xuất hiện cùng tình trạng khủng hoảng nợ công kéo dài tại Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone). Trái ngược với tình trạng trì trệ ở các nước tư bản, một số quốc gia xã hội chủ nghĩa như Việt Nam và Trung Quốc vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, bảo đảm an sinh xã hội; phong trào cánh tả tại Mỹ Latinh mở rộng xu hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn lịch sử cho thấy chủ nghĩa tư bản dù không thể giải quyết triệt để các mâu thuẫn nội tại nhưng đã nhiều lần vượt qua nguy cơ sụp đổ nhờ sự can thiệp và điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước. Tại Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tiếp thu có chọn lọc các thành tựu, luận thuyết và kinh nghiệm quản lý thể chế kinh tế của các nước phát triển. Nghiên cứu thể chế kinh tế các nước tư bản phát triển là đòi hỏi thực tiễn nhằm cung cấp luận cứ tham khảo khoa học cho công tác hoạch định chính sách kinh tế trong nước.

Mục đích nghiên cứu:

  1. Làm rõ thực trạng những điều chỉnh về thể chế kinh tế của nhà nước tư bản ở một số nước tư bản phát triển hiện nay.
  2. Đề xuất những dự báo về tình hình kinh tế thế giới trong hai thập niên sắp tới và những điều chỉnh mới về thể chế kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại, từ đó hình thành nhận thức và thái độ ứng xử phù hợp cho Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản, phân tích các mô hình thể chế kinh tế tiêu biểu.
  2. Khảo sát, thu thập và xử lý thông tin nhằm đánh giá nguyên nhân, thực trạng điều chỉnh thể chế kinh tế ở một số nước tư bản phát triển, phát hiện các vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra.
  3. Luận chứng các dự báo về xu hướng vận động kinh tế thế giới trong hai thập niên tiếp theo và đề xuất định hướng nhận thức, giải pháp ứng xử chính sách cho Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự điều chỉnh về thể chế kinh tế của nhà nước tư bản.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chính sách, cơ chế và mô hình điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản dưới góc độ Kinh tế chính trị.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát 06 quốc gia tư bản phát triển đại diện gồm: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Thụy Điển, Australia và Đức.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung dữ liệu và khảo sát từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đến thời điểm nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý luận của khoa học Kinh tế chính trị Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về thể chế kinh tế và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước. Nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc luận điểm của F. Ăngghen về chức năng kinh tế xã hội chung của nhà nước với vai trò "người nhạc trưởng" điều hành quá trình sản xuất xã hội dựa trên tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng chính trị.

Đồng thời, đề tài đối chiếu với lý thuyết kinh tế học phương Tây, trọng tâm là học thuyết của John Maynard Keynes trong tác phẩm "Lý thuyết chung về việc làm, lợi tức và tiền tệ" (1935) về "quy luật tâm lý xã hội cơ bản", "sự ưa chuộng thanh khoản", sự thiếu hụt tổng cầu và sự cần thiết của sự can thiệp từ "bàn tay hữu hình" của nhà nước thông qua hai trụ cột chính sách tài chính và tiền tệ. Nghiên cứu cũng đánh giá học thuyết Chủ nghĩa tự do mới (Neo-liberalism) của Friedrich Hayek với chủ trương thị trường tự do, phi điều tiết và tư nhân hóa các dịch vụ công.

Khóa luận xác lập khái niệm thể chế là hệ thống luật lệ, quy tắc, bộ máy quản lý và cơ chế vận hành điều chỉnh hoạt động xã hội. Thể chế kinh tế bao gồm: hệ thống quy phạm pháp luật, các tổ chức kinh tế và cơ chế vận hành nền kinh tế. Đề tài phân tích 05 vai trò của thể chế kinh tế (định hướng khung khổ hoạt động, xác lập nền tảng sở hữu - quyền tài sản, cung cấp công cụ quản lý nhà nước, đồng bộ hóa hệ thống thị trường, hạn chế khuyết tật thị trường) và 07 nhân tố tác động đến sự hình thành thể chế (phương thức sản xuất, chế độ sở hữu, hệ tư tưởng, mô hình kinh tế, cơ cấu quyền lực chính trị, trình độ chủ thể quản lý vĩ mô, tập tục thông lệ).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của kinh tế chính trị học để phân tích sự tương tác giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
  • Phương pháp cụ thể: Kết hợp phân tích - tổng hợp lý thuyết, phương pháp lịch sử và logic, so sánh - đối chiếu giữa các mô hình kinh tế, thống kê kinh tế để xử lý dữ liệu vĩ mô.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thống kê và báo cáo từ Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Mỹ (NBER), Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS), hãng thông tin tài chính Nikkei, Ngân hàng Trung ương Anh, các tài liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY

Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về thể chế kinh tế và tổng kết tiến trình điều chỉnh thể chế của nhà nước tư bản qua các giai đoạn lịch sử:

  1. Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX: Nhà nước tư bản chuyển từ vai trò "người gác cổng" thụ động sang can thiệp trực tiếp sau cuộc Đại khủng hoảng 1929 - 1933. Cuộc khủng hoảng khiến thị trường chứng khoán New York sụt giảm 40% chỉ trong ngày 24/10/1929 (bán tháo 12,8 triệu cổ phiếu), giá cổ phiếu bình quân giảm từ 252 USD xuống 61 USD giai đoạn 1929 - 1932, 500 ngân hàng Mỹ phá sản, ngành gang thép chỉ vận hành ở mức 12% công suất (1932), thu nhập quốc dân và sản lượng công nghiệp giảm gần một nửa (1933). Sự sụp đổ của Ngân hàng Viên tại Áo (tháng 5/1931) và Ngân hàng Nhà nước Đức (tháng 7/1931) cho thấy sự bế tắc của cơ chế tự điều tiết. Dưới ảnh hưởng của mô hình kế hoạch hóa tập trung từ Liên Xô và lý thuyết của Keynes, Tổng thống F. Roosevelt thực hiện "Chính sách mới" (New Deal), mở ra thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
  2. Giai đoạn từ thập niên 1980 đến trước năm 2008: Sự trỗi dậy của Chủ nghĩa tự do mới dẫn đến làn sóng tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước (khởi xướng từ chính quyền Thatcher ở Anh) và cắt giảm chi tiêu công nhằm giải quyết tình trạng thua lỗ của khu vực kinh tế nhà nước và "căn bệnh phúc lợi". Điển hình tại Thụy Điển năm 1990, sản xuất giảm 5%, thất nghiệp lên 7%, chi phí phúc lợi cao khiến tỷ lệ nghỉ làm thường xuyên đạt 25%, mức thuế thu nhập lũy tiến lên đến 84%.
Chỉ tiêu so sánh Mô hình Mỹ Mô hình Đức Mô hình Thụy Điển Mô hình Nhật Bản
Bản chất mô hình Kinh tế thị trường tự do Kinh tế thị trường xã hội Kinh tế hỗn hợp ("Con đường thứ ba") Kinh tế thị trường định hướng phát triển
Vai trò của Nhà nước Can thiệp gián tiếp qua tài chính - tiền tệ; hạn chế sở hữu trực tiếp Can thiệp điều tiết, bảo đảm trật tự thị trường và cân bằng xã hội Can thiệp sâu qua phân phối lại và phúc lợi công cộng Kết hợp điều tiết kế hoạch hóa mềm và bảo hộ có chọn lọc
Cơ chế quản trị lao động Tự do cạnh tranh, tôn sùng cá nhân Chế độ "cùng quyết sách" (Mitbestimmung) Đàm phán tập thể ba bên (Chính phủ - Giới chủ - Công đoàn) Quan hệ việc làm dài hạn, văn hóa doanh nghiệp đồng thuận
Hệ thống an sinh & Phúc lợi Tỷ trọng chi bảo trợ xã hội ~18% GDP; chú trọng thị trường tư nhân Tỷ trọng chi bảo trợ xã hội ~28% GDP; an sinh bắt buộc Tỷ trọng chi bảo trợ xã hội ~35% GDP; hệ thống bảo hiểm 5 trụ cột toàn diện Tỷ trọng chi bảo trợ xã hội ~11% GDP; gắn liền với phúc lợi công ty
Cơ cấu sở hữu đặc thù Khu vực tư nhân tuyệt đối; kinh tế nhà nước nhỏ nhất Tư nhân sở hữu tài sản kết hợp trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp tư nhân (85%), kinh tế hợp tác xã (2%), nhà nước công ích Doanh nghiệp tư nhân đan xen mạng lưới tập đoàn liên kết

Chương 2: ĐIỀU CHỈNH THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN Ở MỘT SỐ NƯỚC TƯ BẢN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Chương 2 phân tích các nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp dẫn tới yêu cầu tái điều chỉnh thể chế kinh tế tư bản trong giai đoạn sau năm 2008:

  1. Nguyên nhân khách quan:
    • Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại: Các nước tư bản phát triển nắm giữ trên 80% thành tựu khoa học công nghệ mới. Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đòi hỏi nhà nước phải đứng ra đầu tư hạ tầng quy mô lớn, nghiên cứu cơ bản và cải cách giáo dục đào tạo khi tư bản tư nhân không mặn mà do vốn lớn, thu hồi chậm và tỷ suất lợi nhuận thấp.
    • Sự cạnh tranh kinh tế quốc tế: Quá trình toàn cầu hóa đẩy nhanh chiến tranh thương mại, cạnh tranh tiền tệ và chuyển giao công nghệ, buộc nhà nước phải điều chỉnh thể chế để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
  2. Nguyên nhân trực tiếp từ Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009:
    • Bắt nguồn từ sự đổ vỡ của hoạt động cho vay thế chấp dưới chuẩn (subprime mortgage) và sự phát triển mất kiểm soát của "nền kinh tế ảo" tại Mỹ. Tháng 3/2008, Ngân hàng Bear Stearns đứng bên bờ phá sản; ngân hàng thế chấp IndyMac (tài sản 32 tỷ USD) tê liệt; ngày 15/9/2008, Lehman Brothers (158 năm lịch sử, 26.000 nhân viên) tuyên bố phá sản với khoản nợ 768 tỷ USD. Tổn thất giá trị vốn hóa bất động sản và chứng khoán Mỹ lên tới 13.000 tỷ USD.
    • Thị trường lao động Mỹ thiệt hại nặng nề: 1,9 triệu người mất việc trong 4 tháng cuối năm 2008 (cả năm 2008 mất 2,6 triệu việc làm); tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 8,1% vào tháng 2/2009. Ngành dịch vụ (chiếm 70% lực lượng lao động và 80% GDP Mỹ) chịu tác động mạnh. Doanh số ô tô giảm trên 50% trong quý I/2009.
  3. Mức độ lan rộng và các gói can thiệp kinh tế:
    • Tại châu Âu: Kinh tế Anh năm 2009 suy giảm 1,7%, thất nghiệp vượt 2 triệu người; Ngân hàng Trung ương Anh phải công bố gói cứu trợ 95 tỷ USD vào tháng 4/2008. Khu vực Eurozone suy giảm 1,9% năm 2009; thất nghiệp quý I/2009 đạt mức kỷ lục 8% (12,5 triệu người không có việc làm). Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2008 - 2009 tại Pháp là 9,8%, Đức là 7,8%. Chính phủ Pháp thông qua gói kích thích 26 tỷ Euro cho 1.000 dự án nhằm tạo 120.000 việc làm.
    • Tại Nhật Bản: GDP quý IV/2008 giảm 3,2%; xuất khẩu quý III/2008 giảm 13,9% và giảm kỷ lục 26,7% vào tháng 11/2008. Khoảng 30% trong tổng số 3.820 công ty lớn bị thua lỗ trong năm 2008. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 12/2008 đạt 4,4% (mức cao nhất từ 1960). Các tập đoàn Panasonic, Pioneer, Nissan, NEC sa thải 65.000 lao động đầu năm 2009; Toyota lần đầu thua lỗ và cắt giảm 50% sản lượng nội địa. Quốc hội Nhật Bản phải thông qua gói giải cứu 88.500 tỷ Yên vào tháng 4/2009.
    • Tác động toàn cầu: Thương mại thế giới năm 2009 giảm 9%, tổng số người thất nghiệp toàn cầu dao động từ 210 đến 240 triệu người.

Chương 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG HAI THẬP NIÊN SẮP TỚI VÀ NHỮNG ĐIỀU CHỈNH MỚI VỀ THỂ CHẾ KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI; NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA THẾ GIỚI NÓI CHUNG, CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NÓI RIÊNG

Chương 3 xây dựng các dự báo xu hướng và xác định định hướng chiến lược:

  1. Dự báo tình hình kinh tế thế giới và điều chỉnh thể chế tư bản: Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng; mô hình tăng trưởng dựa vào tài chính hóa và chủ nghĩa tự do mới chấm dứt vai trò thống trị tuyệt đối. Nhà nước tư bản buộc phải tăng cường giám sát hệ thống tài chính - ngân hàng, can thiệp vào các ngành công nghiệp mũi nhọn và tái cân bằng chính sách phân phối thu nhập để duy trì ổn định chính trị - xã hội.
  2. Nhận thức và ứng xử của Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa:
    • Khẳng định bản chất quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản luôn gắn liền với khủng hoảng chu kỳ do mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
    • Việc tham khảo thể chế kinh tế các nước phát triển là cần thiết nhưng phải mang tính chọn lọc, không rập khuôn giáo điều theo bất kỳ hình mẫu duy nhất nào.
    • Kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường năng lực điều tiết vĩ mô của nhà nước pháp quyền, hoàn thiện khung pháp lý giám sát thị trường tài chính và kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa các dữ liệu lịch sử và thực trạng điều chỉnh thể chế kinh tế của các nước tư bản phát triển qua các chỉ số cụ thể:

Sự kiện / Phạm vi Dữ liệu định lượng trích xuất từ văn bản
Đại khủng hoảng 1929 - 1933 (Mỹ & Châu Âu) 12,8 triệu cổ phiếu bán tháo ngày 24/10/1929; giá cổ phiếu New York giảm từ 252 USD xuống 61 USD; 500 ngân hàng Mỹ phá sản; công nghiệp thép hoạt động 12% công suất; sản lượng công nghiệp giảm gần 50%.
Tỷ lệ chi bảo hiểm xã hội / GDP giai đoạn ổn định Thụy Điển (~35%), Pháp và Đức (~28%), Anh (~20%), Mỹ (~18%), Nhật Bản (~11%).
Chi phí lao động công nghiệp (Đức vs Mỹ/Nhật) Đức: 43 Mác/giờ (gồm 100 Mác lương + 80 Mác phúc lợi); Nhật Bản: 38 Mác/giờ; Mỹ: 20 Mác/giờ.
Thiệt hại tài chính Mỹ (Khủng hoảng 2008) Lehman Brothers phá sản với nợ 768 tỷ USD; IndyMac tê liệt với tài sản 32 tỷ USD; bốc hơi 13.000 tỷ USD vốn hóa thị trường địa ốc và chứng khoán Mỹ.
Thất nghiệp & Việc làm (2008 - 2009) Mỹ mất 2,6 triệu việc làm năm 2008 (thất nghiệp 8,1% tháng 2/2009); Anh trên 2 triệu người thất nghiệp; Eurozone 12,5 triệu người thất nghiệp (8%); Thất nghiệp toàn cầu 210 - 240 triệu người.
Các gói cứu trợ vĩ mô được phê duyệt Nhật Bản: 88.500 tỷ Yên (tháng 4/2009); Pháp: 26 tỷ Euro (1.000 dự án); Ngân hàng Trung ương Anh: 95 tỷ USD hỗ trợ tín dụng.

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa các luận điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và học thuyết kinh tế tư sản hiện đại về vai trò kinh tế của nhà nước, làm rõ cơ chế chuyển hóa từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền nhà nước.
  • Làm rõ tính hai mặt của quá trình điều chỉnh thể chế: vừa là công cụ xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và trì hoãn suy thoái, vừa là bước chuẩn bị tiền đề vật chất cho xã hội mới theo nhận định của V.I. Lênin.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phân tích có hệ thống cấu trúc 04 mô hình kinh tế thị trường tiêu biểu (Mỹ, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản), chỉ ra ưu thế và giới hạn của từng mô hình trước các cú sốc kinh tế toàn cầu.
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn về sự thất bại của chính sách tự do hóa tài chính cực đoan, đóng góp tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách tại Việt Nam trong tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị, giới hạn phạm vi khảo sát thực nghiệm tại 06 quốc gia tư bản phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Anh, Thụy Điển, Australia, Đức) với mốc thời gian trọng tâm từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Đề tài chưa đi sâu phân tích cơ chế điều chỉnh thể chế tại các nền kinh tế tư bản phát triển có quy mô nhỏ hơn hoặc các nền kinh tế thị trường mới nổi.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo dõi chu kỳ điều chỉnh thể chế của các nước tư bản trong giai đoạn phục hồi hậu khủng hoảng, đánh giá tác động trung và dài hạn của các gói cứu trợ quy mô lớn đối với nợ công quốc gia, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển biến của thể chế kinh tế dưới tác động của các làn sóng chuyển đổi số và công nghệ mới.


Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật có giá trị cho:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ so sánh quốc tế về các công cụ can thiệp tài chính, tiền tệ và an sinh xã hội, phục vụ công tác xây dựng thể chế và kiểm soát rủi ro thị trường tài chính vĩ mô.
  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế quốc tế, Quản trị công và Luật kinh tế: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về lý thuyết thể chế, lịch sử các cuộc khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa và sự vận hành thực tế của các mô hình kinh tế thị trường điển hình.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Phần tổng hợp dữ liệu chi tiết về cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2009 (Chương 2) và khung so sánh 04 mô hình kinh tế thị trường tư bản (Chương 1).

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân trực tiếp châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 bắt nguồn từ Mỹ là gì?
Nguyên nhân trực tiếp là hoạt động cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn (subprime mortgage) thiếu kiểm soát và sự phát triển mất kiểm soát của "nền kinh tế ảo" phi điều tiết. Sự suy giảm giá trị bất động sản dẫn đến tình trạng vỡ nợ dây chuyền, khởi đầu bằng sự sụp đổ của các tổ chức tài chính lớn như Bear Stearns, IndyMac và đỉnh điểm là sự phá sản của Lehman Brothers vào ngày 15/9/2008 với khoản nợ 768 tỷ USD.

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa mô hình kinh tế của Mỹ và mô hình kinh tế của Đức theo phân tích trong khóa luận là gì?
Mô hình Mỹ đề cao chủ nghĩa cá nhân, thị trường tự do, chính phủ can thiệp gián tiếp chủ yếu qua công cụ tài chính - tiền tệ ngắn hạn và tỷ lệ chi an sinh xã hội thấp (~18% GDP). Ngược lại, mô hình Đức là kinh tế thị trường xã hội, đề cao nguyên tắc "hiệp thương nhất trí", áp dụng chế độ "cùng quyết sách" cho phép đại biểu công nhân tham gia hội đồng quản trị doanh nghiệp, ngân hàng trung ương độc lập và duy trì hệ thống bảo trợ xã hội bắt buộc chiếm khoảng 28% GDP.

3. Khóa luận ghi nhận sự khác biệt về tỷ trọng chi bảo hiểm xã hội trong GDP giữa các nước tư bản phát triển như thế nào?
Tỷ trọng chi phí bảo hiểm xã hội trong GDP phân hóa rõ rệt: Thụy Điển dẫn đầu với tỷ lệ cao nhất đạt khoảng 35%, tiếp theo là Pháp và Đức khoảng 28%, Anh khoảng 20%, Mỹ khoảng 18% và Nhật Bản thấp nhất trong nhóm khảo sát với khoảng 11%.

4. Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam định hướng nguyên tắc nào trong việc tiếp thu thể chế kinh tế của các nước phát triển?
Văn kiện Đại hội XII khẳng định phải nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, đồng thời học hỏi một cách có chọn lọc các luận thuyết và thể chế kinh tế của các nước phát triển, trên nguyên tắc phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam và không sao chép giáo điều bất kỳ hình mẫu quốc gia nào.

5. Quốc hội Nhật Bản đã phê duyệt gói giải cứu kinh tế quy mô bao nhiêu để đối phó với khủng hoảng năm 2008 - 2009?
Để ngăn chặn đà tụt dốc kinh tế sau khi GDP quý IV/2008 giảm 3,2% và xuất khẩu giảm kỷ lục 26,7%, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua gói giải cứu kinh tế khổng lồ trị giá 88.500 tỷ Yên có hiệu lực thực hiện từ tháng 4/2009.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã làm rõ tiến trình và bản chất của việc điều chỉnh thể chế kinh tế của nhà nước tư bản qua các giai đoạn lịch sử, khẳng định vai trò can thiệp tất yếu của nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản trước các cuộc đại khủng hoảng. Thông qua việc phân tích sâu sắc thực trạng khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 và so sánh các mô hình thể chế tiêu biểu (Mỹ, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản), đề tài chỉ ra tính giới hạn lịch sử của Chủ nghĩa tự do mới. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị phục vụ quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.