Tổng quan nghiên cứu
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy ngành du lịch trở thành một ngành công nghiệp không khói có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới, đóng góp bình quân hơn 9% vào GDP toàn cầu theo các báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới. Tại Việt Nam, khi đất nước chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2007, hoạt động du lịch quốc tế đã bước vào một giai đoạn hội nhập sâu rộng và toàn diện. Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng bề dày di sản văn hóa lịch sử hàng nghìn năm, du lịch quốc tế của Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế về năng lực cạnh tranh, sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ và hiệu quả kinh tế thu về chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để khai thác tối ưu các cơ hội từ quá trình mở cửa thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ và định vị thương hiệu du lịch quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch quốc tế, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch quốc tế tại Việt Nam qua các giai đoạn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch quốc tế trong giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động đón khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trên bình diện cả nước, với chuỗi dữ liệu thứ cấp được khảo sát từ năm 1990 đến năm 2009 và trọng tâm phân tích từ năm 2000 đến năm 2009. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, gia tăng nguồn thu ngoại tệ và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động trong xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các lý thuyết kinh tế quốc tế hiện đại và các mô hình chuyên ngành du lịch học:
Thứ nhất, lý thuyết thương mại dịch vụ quốc tế và phân công lao động quốc tế. Lý thuyết này luận giải bản chất của du lịch quốc tế như một hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Thông qua việc đón tiếp và phục vụ du khách nước ngoài, quốc gia điểm đến thu về nguồn ngoại tệ trực tiếp, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ.
Thứ hai, mô hình cấu thành sản phẩm du lịch của nhà kinh tế học Jost Krippendorf. Mô hình này phân chia sản phẩm du lịch thành bốn nhóm thành phần cơ bản gồm: thành phần tài nguyên tự nhiên, hoạt động và sự kiện văn hóa của con người, kết cấu hạ tầng cơ sở và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành du lịch. Khung lý thuyết này kết hợp với mô hình phân loại tài nguyên du lịch 7 yếu tố của Tổ chức Du lịch Thế giới để đánh giá toàn diện tiềm năng phát triển điểm đến.
Bên cạnh đó, luận văn làm rõ ba khái niệm then chốt:
- Du lịch quốc tế: Là tổng thể các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ các chuyến hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ngoài phạm vi quốc gia cư trú thường xuyên.
- Du lịch đón khách và Du lịch đưa khách ra nước ngoài: Trong đó nghiên cứu tập trung chủ yếu vào loại hình đón khách quốc tế nhằm phân tích năng lực thu hút và tiêu dùng của khách nước ngoài tại thị trường nội địa.
- Khách du lịch quốc tế: Theo Điều 10 và Điều 20 của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam cùng định nghĩa chuẩn của Tổ chức Du lịch Thế giới, khách du lịch quốc tế là người nước ngoài hoặc kiều dân cư trú ở nước ngoài đến một quốc gia khác với thời gian lưu trú ít nhất một đêm và không quá một năm, với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, công vụ mà không thực hiện các hoạt động tìm kiếm việc làm có trả lương tại nơi đến.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng hệ phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét hoạt động du lịch quốc tế trong mối liên hệ hữu cơ với quá trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước.
Về nguồn dữ liệu, tác giả thu thập và xử lý hệ thống dữ liệu thứ cấp định lượng từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch Việt Nam, các báo cáo chuyên ngành của Tổ chức Du lịch Thế giới, Hội đồng Lữ hành và Du lịch Quốc tế, cùng Hiệp hội Du lịch Châu Á - Thái Bình Dương trong giai đoạn liên tục từ năm 1995 đến năm 2009.
Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với chuỗi số liệu thống kê vĩ mô 15 năm (1995-2009) về lượng khách quốc tế, cơ cấu thị trường nguồn, phân loại phương tiện vận chuyển và cơ cấu mục đích chuyến đi. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp phương pháp phỏng vấn chuyên gia với cỡ mẫu khảo sát định tính gồm 20 nhà quản lý và chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lữ hành, khách sạn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm đảm bảo tính bao quát của các chỉ báo kinh tế lượng vĩ mô, đồng thời bổ sung các góc nhìn chuyên sâu từ thực tiễn kinh doanh để giải thích các biến động phức tạp của thị trường du lịch quốc tế.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực trạng hoạt động du lịch quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 mang lại bốn phát hiện trọng tâm:
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng lượng khách quốc tế duy trì ở mức cao nhưng còn thiếu tính ổn định. Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng từ 1,35 triệu lượt năm 1995 lên hơn 4,25 triệu lượt vào năm 2008, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 9,5% mỗi năm. Tuy nhiên, thị trường du lịch quốc tế Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước các biến động bên ngoài, thể hiện rõ qua sự sụt giảm lượng khách trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998, đại dịch SARS năm 2003 (giảm khoảng 7,6%) và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008-2009.
Thứ hai, cơ cấu mục đích chuyến đi và phương tiện vận chuyển có sự mất cân đối rõ rệt. Dữ liệu phân tích cho thấy khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích du lịch thuần túy và nghỉ ngơi luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 65%, trong khi du lịch kết hợp công vụ, hội nghị triển lãm chỉ chiếm khoảng 15% đến 18%. Về phương tiện di chuyển, đường hàng không chiếm ưu thế tuyệt đối với trên 78% tổng lượng khách, tiếp theo là đường bộ chiếm khoảng 17% và đường biển chỉ chiếm khoảng 5%.
Thứ ba, mức chi tiêu bình quân và thời gian lưu trú của khách quốc tế còn rất hạn chế so với các nước trong khu vực. Thời gian lưu trú trung bình của du khách quốc tế tại Việt Nam chỉ dao động từ 5,2 đến 5,8 ngày, với mức chi tiêu bình quân ước tính khoảng 75 đến 85 USD mỗi ngày. Con số này thấp hơn đáng kể so với mức chi tiêu tại Thái Lan (trung bình trên 115 USD mỗi ngày) và Malaysia (thời gian lưu trú 5 đến 7 ngày với mức chi tiêu đa dạng).
Thứ tư, kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch còn nhiều nút thắt. Tỷ lệ lao động ngành du lịch được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ chỉ đạt dưới 42%. Cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp 4 đến 5 sao chỉ tập trung cục bộ tại các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh và Đà Nẵng, dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ trong mùa cao điểm.
Thảo luận kết quả
Khi xem xét các số liệu qua các bảng thống kê và đồ thị diễn tiến giai đoạn 1995 - 2008, nguyên nhân căn bản của việc du lịch Việt Nam chưa đạt hiệu quả kinh tế cao xuất phát từ công tác xúc tiến quảng bá còn manh mún, ngân sách quốc gia dành cho tiếp thị du lịch chỉ bằng khoảng 1/15 so với Thái Lan và 1/20 so với Malaysia.
So sánh đối chuẩn quốc tế cho thấy những bài học kinh nghiệm rất rõ ràng:
- Thái Lan đã xây dựng thành công thương hiệu quốc gia thông qua các chiến dịch như Thailand - Happiness on Earth, đón 15,12 triệu lượt khách và thu về 12,76 tỷ USD vào năm 2006. Đặc biệt, chiến lược phát triển mạng lưới hơn 7.000 nhà hàng Thái trên toàn cầu đã trở thành cầu nối tiếp thị văn hóa và kích thích nhu cầu du lịch hiệu quả.
- Malaysia định vị vững chắc khẩu hiệu Malaysia - Truly Asia, tổ chức các kỳ lễ hội mua sắm Mega Sale kéo dài 3 tháng với mức giảm giá từ 20% đến 80%, thu hút từ 14 đến 15 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm và vươn lên nhóm 20 quốc gia phát triển du lịch hàng đầu thế giới.
- Trung Quốc sau cải cách mở cửa năm 1978 đã đưa doanh thu ngoại tệ du lịch từ 26,3 triệu USD lên mức kỷ lục 41,484 tỷ USD vào năm 2008, đồng thời quy hoạch bài bản 12 khu nghỉ dưỡng quốc gia và gắn từng năm với một chủ đề xúc tiến du lịch chuyên biệt.
Thực tiễn trên chỉ ra rằng Việt Nam cần nhanh chóng chuyển đổi mô hình từ tăng trưởng dựa trên số lượng khách sang tăng trưởng theo chiều sâu, gia tăng giá trị gia tăng trên mỗi lượt khách quốc tế.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính chiến lược và hành động cụ thể:
Thứ nhất, cải cách chính sách visa và tạo thuận lợi hóa thủ tục xuất nhập cảnh.
- Hành động: Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với Bộ Công an và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện mở rộng diện miễn thị thực đơn phương cho các thị trường trọng điểm có mức chi tiêu cao như Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Á; đơn giản hóa thủ tục cấp visa tại cửa khẩu và triển khai hệ thống thị thực điện tử.
- Mục tiêu: Giảm thời gian xử lý thủ tục xuống dưới 24 giờ, phấn đấu gia tăng tỷ lệ khách quay lại Việt Nam từ mức dưới 15% lên 25% vào năm 2015.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2010 - 2013.
Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch đặc thù.
- Hành động: Tổng cục Du lịch và chính quyền các địa phương trọng điểm tập trung nguồn lực đầu tư phát triển 4 dòng sản phẩm chủ đạo gồm: Du lịch di sản văn hóa, Du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao, Du lịch ẩm thực và Du lịch MICE. Khuyến khích các doanh nghiệp lữ hành liên kết tạo chuỗi sản phẩm trải nghiệm liên vùng dọc hành lang kinh tế Đông - Tây.
- Mục tiêu: Tăng mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế lên mức trên 110 USD mỗi ngày và nâng thời gian lưu trú bình quân lên 7,5 ngày.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2011 - 2015.
Thứ ba, chuyên nghiệp hóa công tác xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu quốc gia.
- Hành động: Chính phủ xem xét thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch quốc gia, đồng thời mở các văn phòng đại diện du lịch Việt Nam tại các thị trường trọng điểm quốc tế như Tokyo, Paris, Frankfurt và Sydney theo mô hình 39 văn phòng của Malaysia. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp thị số và tổ chức thường niên các sự kiện du lịch mang tầm vóc quốc tế.
- Mục tiêu: Tiếp cận trực tiếp trên 10 triệu lượt khách hàng mục tiêu tại các thị trường nguồn mỗi năm.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2010 - 2015.
Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch.
- Hành động: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Hiệp hội Du lịch Việt Nam xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề du lịch quốc gia tương thích với khung chuẩn nghề du lịch chung ASEAN; tổ chức các chương trình đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng ngoại ngữ và quản trị khách sạn cao cấp cho đội ngũ nhân sự.
- Mục tiêu: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn trong ngành đạt 70% vào năm 2015, trong đó 100% nhân sự quản lý khách sạn từ 3 sao trở lên đạt chứng chỉ nghề chuẩn khu vực.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương (Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch vùng, ban hành chính sách kích cầu và cải thiện môi trường kinh doanh du lịch.
Thứ hai, ban lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành quốc tế, tập đoàn khách sạn và đơn vị vận chuyển du lịch. Các đơn vị này có thể vận dụng các phân tích về xu hướng thị hiếu khách quốc tế, phân khúc thị trường nguồn và kinh nghiệm định giá sản phẩm của Thái Lan, Malaysia để tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và phát triển tour tuyến mới.
Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh tế đối ngoại. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp tiếp cận kinh tế học du lịch, mô hình phân tích số liệu thứ cấp và phương pháp so sánh đối chuẩn quốc tế.
Thứ tư, các hiệp hội nghề nghiệp và tổ chức hợp tác quốc tế (Hiệp hội Du lịch Việt Nam, các tổ chức phát triển du lịch tiểu vùng Mê Kông mở rộng). Tài liệu hỗ trợ đắc lực trong việc xây dựng các chương trình liên kết xúc tiến du lịch đa phương và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thành viên.
Câu hỏi thường gặp
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam được định nghĩa và phân loại theo những tiêu chí nào? Theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam và Tổ chức Du lịch Thế giới, khách du lịch quốc tế đến là công dân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư tại nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, hội nghị trong thời gian từ 1 đêm trở lên và không quá 1 năm, không kiếm tiền tại Việt Nam.
Đâu là nguyên nhân chính khiến doanh thu từ khách quốc tế tại Việt Nam thấp hơn các nước trong khu vực? Nguyên nhân chủ yếu do sản phẩm du lịch của Việt Nam còn đơn điệu, các hoạt động kinh tế ban đêm và dịch vụ mua sắm giải trí chưa phát triển, dẫn đến thời gian lưu trú bình quân ngắn (chỉ 5,2 đến 5,8 ngày) và mức chi tiêu hàng ngày của khách chỉ bằng khoảng 65% so với Thái Lan.
Việt Nam có thể học tập bài học kinh nghiệm gì từ mô hình phát triển du lịch của Thái Lan? Bài học quan trọng nhất là chiến lược quảng bá thương hiệu quốc gia đồng bộ, kết hợp du lịch với ẩm thực thông qua chương trình phát triển nhà hàng Thái toàn cầu, đồng thời chủ động áp dụng chính sách giảm giá linh hoạt và xử lý khủng hoảng truyền thông nhanh chóng để thu hút du khách quay trở lại.
Tại sao du lịch MICE lại được xem là hướng đi đột phá cho du lịch quốc tế tại Việt Nam? Du lịch MICE hướng đến phân khúc khách hàng thương nhân, chuyên gia có mức chi tiêu bình quân cao gấp 2 đến 3 lần so với khách du lịch thông thường, có thời gian lưu trú kéo dài và ít chịu ảnh hưởng bởi tính mùa vụ, mang lại giá trị gia tăng rất lớn cho nền kinh tế.
Quá trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới mang lại những tác động gì cho ngành du lịch Việt Nam? Việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế giúp mở cửa thị trường dịch vụ du lịch, thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI vào hệ thống khách sạn cao cấp, thúc đẩy áp dụng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế, song cũng tạo ra áp lực cạnh tranh khốc liệt đối với các doanh nghiệp lữ hành nội địa.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận về du lịch quốc tế, làm rõ bản chất của du lịch như một ngành xuất khẩu dịch vụ tại chỗ có vai trò đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.
- Đánh giá khách quan bức tranh thực trạng du lịch quốc tế tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2009, chỉ rõ thành tựu tăng trưởng về lượng khách đạt hơn 4,25 triệu lượt năm 2008 cùng các điểm nghẽn về hạ tầng, sản phẩm và năng lực cạnh tranh.
- Tổng kết sâu sắc những bài học kinh nghiệm phát triển du lịch thành công của Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc để áp dụng phù hợp vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi về chính sách visa, phát triển sản phẩm đặc thù, chuyên nghiệp hóa xúc tiến quảng bá và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho giai đoạn 2010 - 2015 và tầm nhìn 2020.
- Khẳng định đẩy mạnh phát triển du lịch quốc tế là giải pháp chiến lược giúp Việt Nam khai thác hiệu quả các tiềm năng tài nguyên, gia tăng nguồn thu ngoại tệ và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Để tiếp tục hoàn thiện khung giải pháp, các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung đi sâu vào đo lường hệ số co giãn của nhu cầu du lịch quốc tế theo giá và đánh giá tác động của công nghệ số đối với hành vi của du khách quốc tế trong kỷ nguyên mới.