CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Động lực và tạo động lực cho lao động 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Nhu cầu Nhu cầu được nhắc đến là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa “ học nghiên cứu sinh học và xã hội. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Ví dụ: nhu cầu về thức ăn, thức uống, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, môi trường sống, điều kiện làm việc. ” Theo Đoàn Thị Thu Hà & Nguyễn Thị Ngọc Huyền ( 2012), Giáo trình Quản lý học, NXB trường ĐHKT Quốc dân: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong được đáp ứng nó”.
Như vậy nhu cầu chính là cảm giác thiếu hụt thứ gì đó mà con người có thể cảm nhận được, là sự mong muốn, đòi hỏi, khao khát của con người về một vấn đề gì đó. Nhu cầu của con người luôn thay đổi, với mỗi người khác nhau có những “ nhu cầu cũng khác nhau tùy thuộc quan điểm cá nhân. Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp, nhìn chung nó có thể chia thành 2 nhóm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người.
Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý. ” Ngày nay với xu hướng phát triển của nền kinh tế, việc tìm hiểu đúng nhu “ cầu của người lao động là một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những cách thức phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của người lao động; tạo môi trường làm việc thuận lợi để người lao động yên tâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp.2 Động cơ Nhu cầu không được thỏa mãn tạo ra sự căng thẳng và sự căng thẳng thường “ kích thích những động cơ bên trong mỗi cá nhân. Những động cơ này tạo ra một 9 cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ thể, nếu đạt được sẽ thỏa mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thẳng. ” Theo Lương Văn Úc (2011), Giáo trình Tâm lý học lao động, trường ĐHKT Quốc dân: “Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ”.
Động cơ luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Nói cách khác động cơ lao động là mục đích chủ quan trong hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng và thỏa mãn các nhu cầu đặt ra. Động cơ lao động của mỗi cá nhân khác nhau. Với người lao “ động có động cơ lao động cao, họ sẽ cố gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ tạo năng suất, chất lượng cao và ngược lại khi không có hoặc ít có động cơ lao động thì năng suất hiệu quả công việc sẽ thấp.3 Lợi ích Theo Đoàn Thị Thu Hà & Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2011), Giáo trình Quản trị học, NXB Tài chính, Hà nội thì “Lợi ích là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của bản thân.
Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực chủ động của con người. Lợi ích là phương tiện của quản trị cho nên phải dùng nó để động viên con người”. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị về vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận được từ tổ chức. Như vậy có thể hiểu “Lợi ích là mức độ thỏa mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định”.
Cũng giống như nhu cầu, lợi ích cũng gồm có 2 loại: lợi ích vật chất và lợi “ ích tinh thần. ” Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu “ cầu thì không thể thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện, con người sẽ tìm cách để thỏa mãn nhu cầu, kết quả của sự thỏa mãn nhu cầu là lợi ích đạt được.
Khi sự thỏa mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu càng được rút ngắn thì lợi ích càng lớn. Và khi lợi ích 10 đạt được càng cao thì động lực thôi thúc con người càng mạnh. Song khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu chưa được rút ngắn sẽ thúc đẩy con người hành động để rút ngắn và đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất.4 Động lực lao động Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những nhân viên làm “ việc tích cực và sáng tạo, điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực cho nhân viên. ” Động lực là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Các nhà “ quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng: Động lực của người lao động là gì? Thực tế có rất nhiều quan niệm khác nhau về động lực lao động, Kreiter cho rằng động lực lao động là một quá trình tâm lý mà nó định hướng cá nhân theo mục đích nhất định. Theo Higgins 1994 thì động lực là lực đẩy từ nhu cầu bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. ” Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2014), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Trường ĐHKT Quốc dân: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013), Giáo trình Hành vi tổ chức, NXB trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. Từ những nghiên cứu trên ta có thể khái quát: “Động lực là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích, động viên giúp họ nỗ lực làm việc với sự khát khao và tự nguyện nhằm đáp ứng những nhu cầu của bản thân mỗi cá nhân khi chưa được thỏa mãn và mục tiêu tổ chức muốn đạt được”. Như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tao ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả 11 cao nhất phục vụ cho tổ chức.5 Tạo động lực lao động Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động “ trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
” Theo Lê Thanh Hà (2012), Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Lao động xã hội: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013), Giáo trình hành vi tổ chức, NXB Trường ĐHKT Quốc dân: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”. Từ các quan điểm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc “ các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức.2 Tác động của động lực lao động 2.1 Tác động của động lực đến người lao động - Ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc: Khi NLĐ có động lực lao “ động, sẽ giúp cho người lao động có thể tự hoàn thiện mình.
Khi có được động lực trong lao động, người lao động sẽ nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình phù hợp với yêu cầu của công việc. ” - Tác động làm tăng năng suất lao động và hiệu quả THCV: Con người luôn “ có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi người ” lao động cảm thấy những nhu cầu của mình được đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy 12 người lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân người lao động không có “ động lực lao động thì hoạt động lao động khó có thể đạt được mục tiêu của nó.
Bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc được giao mà không có được sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm như một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó nhà quản lý ” cần phải tạo được động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của NLĐ. - Thái độ lao động: Thái độ lao động là tất cả những hành vi biểu hiện của “ người lao động trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất và kinh doanh. Nó có ảnh hưởng quyết định đến khả năng, năng suất và chất lượng hoàn thành công việc của người tham gia lao động.
Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, cả khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là: ” Kỷ luật lao động: Là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của lao “ động mà tổ chức xây dựng nên dựa trên những cơ sở pháp lý và các chuẩn mực đạo đức xã hội.