Chương 1:Tổng quan về vấn đề nghiên Chương 2: Cơ sở lý luậnn chung về xuất khẩu và các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm xuất khẩu bền vững sản phẩm chè sang thị trường 7 Chương 3: Thực trạng về việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường nhằm xuất khẩu bền vững sản phẩm chè sang thị trường Nga của công ty TNHH Thương mại – Xuất khẩu Phương Chương 4: Một số giải pháp đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường nhằm xuất khẩu bền vững sản phẩm chè sang thị trường Nga của công ty TNHH Thương mại – Xuất khẩu Phương Nam 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG NHẰM XUẤT KHẨU BỀN VỮNG SẢN PHẨM CHÈ SANG THỊ TRƯỜNG NGA 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về sản phẩm chè Cây chè hay cây trà là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất. Chè là 1 thức uống lý tưởng có nhiều giá trị về dược liệu.
Ngày nay, chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca cao. Ngoài ra, chè là 1 cây công nghiệp lâu năm cho giá trị kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm. Do đó, chè là 1 trong những cây trồng được quan tâm và phát triển mạnh đặc biệt là ở vùng trung du và miền núi. Sản phẩm chè là những sản phẩm từ cây chè, là sản phẩm đồ uống, chế biến từ búp chè tươi gồm 1 tôm (mầm lá), cọng, kèm theo 2 - 3 lá non, gọi chung là nguyên liệu chè.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm chè khác nhau, mỗi loại đều có những tính chất đặc trưng riêng, khác nhau về ngoại hình, màu nước và hương vị của chúng. Các loại sản phẩm chè có các đặc tính, đặc trưng khác nhau là do trong quá trình chế biến đã tạo ra được sự chuyển hoá các chất có trong nguyên liệu chè bằng các kỹ thuật công nghệ khác nhau. Chủ yếu là tạo ra được những tác động vào nhóm hợp chất phenol thực vật, nhóm hợp chất có tính quyết định đến các tính chất đặc trưng của các loại sản phẩm chè. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác, trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán.
Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài. Khái niệm về xuất khẩu bền vững Xuất khẩu bền vững phải đáp ứng yêu cầu về sự hài hòa của PTBV: Kinh tế, xã hội, môi trường. Xuất khẩu tăng trưởng cao và liên tục, chất lượng được nâng cao nhưng xuất khẩu chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, làm cạn kiện tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, tức là đánh đổi môi trường để có được thành tích 9 xuất khẩu cao thì không thể coi là xuất khẩu bền vững. Hoặc là, xuất khẩu chỉ phục vụ lợi ích cho một nhóm người, nhất là trong khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Trường hợp này thường xảy ra ở nhiều nước có nền dân chủ phát triển, độc tài, tập trung quyền lực cao độ. Trong trường hợp này, chia sẻ lợi ích xuất khẩu không công bằng thì cũng không thể coi đây là xuất khẩu bền vững. Để xác định nội dung của xuất khẩu bền vững về môi trường cần phân tích mối quan hệ giữa hoạt động xuất khẩu và bảo vệ môi trường. Theo đó, ảnh hưởng xuất khẩu đến môi trường tập trung ở một số khía cạnh: Thứ nhất, xuất khẩu ảnh hưởng đến môi trường bởi tính chất của hoạt động này.
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi, mua bán, là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dung, do vậy vừa là nguyên nhân lây lan ô nhiễm vừa có thể phổ biến một cách nhanh nhất những sản phẩm và công nghệ thân thiện với môi trường. Thứ hai, hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng đến môi trường bởi tính quy mô của nó. Thương mại quốc tế ngày nay mang tính toàn cầu. Do đặc tính này mà hoạt động xuất khẩu có thể mở rộng quy mô sản xuất nhiều hàng hóa hơn trên cùng một đơn vị lao động, tài nguyên và công nghệ.
Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phần làm tăng hiệu xuất, tiết kiệm và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô sản xuất do tác động của thương mại tự do cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Một mặt, hoạt động này làm tăng các yếu tố đầu vào, khuyến khích khai thác và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn tài nguyên, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Mặt khác, quy mô thương mại và sản xuất gia tăng sẽ làm tăng chất ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và tiêu dùng.
Điều này có thể thấy rất rõ về tình trạng rác thải và chất thải. Thứ ba, một khía cạnh tác động khác hoạt động xuất khẩu đối với môi trường và tính chất cơ cấu của nó. Xuất khẩu có thể tạo ra thay đổi cơ cấu sản xuất của một nước theo nguyên tắc lợi thế so sánh, tức là tập chung kinh doanh vào những mặt hàng có lợi thế hơn. Nếu cơ cấu xuất chuyển sang những hàng hóa ít tổn hại đến môi trường hơn, khi đó thương mại có tác động đối với môi trường.
Trong điều kiện tự do hóa thương mại, tác động đó mang tính hai mặt: tích cực và tiêu cực. Một mặt khuyến khích xuất khẩu, làm tăng quy mô của thương mại do đó khuyến khích hoạt động khai thác, sản xuất, bởi vậy dẫn đến việc gây ô nhiễm môi trường, cạn kiện môi trường. Mặt khác, thương 10 mại quốc tế cũng tạo điều kiện để bảo vệ môi trường như phổ biến các công nghệ sạch, sản phẩm thân thiện môi trường, tăng cường hợp tác quốc tế về môi trường. Xuất khẩu bền vững cũng đợc xem xét dưới tác động của các yếu tố môi trường bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển xuất khẩu bền vững.
Các tiêu chí để đánh giá xuát khẩu bền vững theo tiêu chuẩn môi trường bao gồm: - Mức độ ô nhiễm môi trường được đo bằng nồng độ các thành độ các thành phần môi trường không khí, nước, đất, nước, xử lý chất thải rắn,. Chẳng hạn như mối quan hệ giữa tăng trưởng xuất khẩu và mức độ ô nhiễm hay mức độ cải thiện các thành phần môi trường. - Mức độ duy trì các nguồn tài nguyên không tái tạo. Chẳng hạn, suy giảm đa dạng sinh học hay cải thiện nó dưới tác động của việc mở rộng xuất khẩu như: xuất khẩu thủy sản và thu hẹp diện tích rừng ngập mặn,… - Tỷ lệ các doanh nghiệp đạt được các chứng chỉ môi trường như tỷ lệ các doanh nghiệp có chứng nhận tiêu chuẩn ISO 14000,.
- Mức dộ đóng góp của xuất khẩu vào kinh phí bảo vệ môi trường cũng là một trong những tiêu chí đánh giá tính bền vững về môi trường cũng là một trong những tiêu chí đánh giá tính bền vững về môi trường của hoạt động xuất khẩu. Trên tực tế khó có thể tách bạch phần đóng góp cúa xuất khẩu dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, có thể thấy được phần đóng góp này thông qua đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế. - Khả năng kiểm soát của chính quyền đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường,.
Tiêu chí này được phản ánh thông qua các chính sách thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ môi trường. Như vậy, xuất khẩu bền vững phải là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và các mục tiêu ổn định kinh tế, xã hội và cải thiện môi trường. Một vấn đề khác cũng gần như chú ý khi nghiên cứu xuất khẩu bền vững là tính bền vững của hoạt động xuất khẩu phải được xem xét trong dài hạn. Tăng trưởng xuất khẩu cao trong ngắn hạn cơ sở khai thác các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế cao (thu được nhiều ngoại tệ) chưa hẳn là xuất khẩu bền vững nếu chỉ xuất 11 khẩu hàng thô, có giá trị gia tăng thấp, làm cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường.
Khái niệm về thị trường Thị trường được hiểu là một địa điểm cụ thể, ở đó người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa hay dịch vụ. Và đây cũng là cách hiểu của một bộ phận người tiêu dùng, theo đó thị trường sẽ được biểu hiện dưới các hình thức như khu chợ, siêu thị, hàng quán lẻ, hội chợ. Theo giới marketing, thị trường là tập hợp những người hiện đang và sẽ có nhu cầu mua một loại sản phẩm hay dịch vụ nhất định. Như vậy quy mô của thị trường gắn liền với số lượng người mua có thể có đối với một loại sản phẩm nhất định nào đó mà người bán tạo ra.
Một người có sự quan tâm, thu nhập và khả năng tiếp cận thị trường sẽ trở thành một bộ phận của thị trường. Cũng có thể hiểu, thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ. Thực chất, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó. Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó.
Với nghĩa này, có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn, v. Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ. Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiền tệ.