CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm và vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Theo luật cán bộ công chức Việt Nam (Điều 11, Luật CBCC 2008) thì nguồn nhân lực trong tổ chức công có các đặc điểm sau: Nguồn nhân lực trong tổ chức công là chủ thể của nền công vụ, là những người thực thi công vụ. Là đội ngũ chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao với các hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp.
Nguồn nhân lực trong tổ chức công là tương đối ổn định mang tính kế thừa và không ngừng nâng cao về chất lượng. Nguồn nhân lực được nhà nước đảm bảo lợi ích khi thực thi công vụ. Nguồn nhân lực trong tổ chức công được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; Được cung cấp thông tin liên quan đến quyền hạn được giao; Được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ; Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995).
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó (theo GS. Phạm Minh Hạc). Còn theo nghĩa chung, nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực của con người còn phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… 11 Trí lực là sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức tài năng và năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin và nhân cách của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã được khai thác gần tới mức cạn kiệt. Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, đây chính là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người. Như vậy, để sử dụng nguồn nhân lực trong tổ chức một cách có hiệu quả thì không thể thiếu các hoạt động của việc quản lý nguồn nhân lực.
Đó là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng để đánh giá và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức về số lượng và chất lượng. Qua đó có thể thấy các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực gồm: nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực, nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực. Trong đó, hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đóng một vai trò cực kỳ quan trong trong hoạt động quản trị nguồn nhân lực của tổ chức, đó là điều kiện tiên quyết để một tổ chức tồn tại và phát triển. Đào tạo nguồn nhân lực Nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay ngày càng phát triển cho thấy đầu tư cho NNL được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác.
Đầu tư phát triển NNL được hiểu ở cả ba mặt: Chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo, trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng nhất. Khái niệm giáo dục luôn gắn với khái niệm đào tạo Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động của mình có hiệu quả hơn. Đào tạo là hoạt động phát triển nguồn nhân lực, là 12 tổng thể các hoạt động có tổ chức diễn ra trong khoảng thời gian xác định nhằm làm thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.
Đào tạo là một mắt xích quan trọng trong chu trình phát triển NNL. Nó phải đáp ứng yêu cầu cung cấp NNL cho xã hội ở tất cả các lĩnh vực như khoa học công nghệ, kinh tế kỹ thuật, lãnh đạo, quản lý nhà nước….Thực tế cho thấy dù nhân lực ở lĩnh vực nào đi chăng nữa cũng phải đảm bảo được yêu cầu của công việc như trình độ chuyên môn, kỹ thuật (bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành, thái độ, phong cách, năng lực sáng tạo) để có khả năng thực hiện một loạt các công việc trong phạm vi ngành nghề theo sự phân công lao động xã hội. Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Đào tạo NNL chính là quá trình tác động, dạy và rèn luyện con người thông qua việc tổ chức truyền thụ tri thức và những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người để gây dựng họ trở thành người có hiểu biết đạt đến một trình độ chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có khả năng đảm nhận một sự phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ của quá trình phát triển kinh tế xã hội. Đào tạo NNL tạo nên sự chuyển biến về chất của NNL, biến những tiềm năng nhân lực của quốc gia trở thành những lực lượng lao động hiện thực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, việc đào tạo NNL cần phải đảm bảo đựơc yêu cầu, mục tiêu sau: Đổi mới chất lượng đào tạo nhân lực theo hướng phù hợp với việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đào tạo phải gắn kết thường xuyên và chặt chẽ với việc sử dụng NNL và phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động và thị trường lao động; đào tạo NNL theo yêu cầu, mục tiêu nêu trên cần được thực hiện với nhiều loại hình và nhiều phương thức khác nhau sao cho nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao và đào tạo lại của mọi người đều có thể được đáp ứng. Việc đào tạo có thể được thực hiện tại các trường dạy nghề, trường Đại học, Cao đẳng, các Trung tâm do Nhà nước hoặc tư nhân quản lý, hoặc các trường, lớp thuộc doanh nghiệp, trong các thành phần kinh tế, hay tại các lớp dạy nghề do các tổ chức xã hội và các làng nghề truyền thống tổ chức. Việc đào tạo NNL có thể được thực hiện theo các cấp trình độ tuỳ theo yêu cầu đổi mới của nền sản xuất, xã hội và 13 nhu cầu của người học như đào tạo bán lành nghề, lành nghề, trình độ cao; đào tạo trình độ sơ cấp, cao đẳng, đại học và sau Đại học. Môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, vì vậy trong quá trình tìm kiếm các nguồn lực và công cụ để duy trì lợi thế cạnh tranh, các nhà quản trị trong tổ chức đã đi đến thống nhất khi cho rằng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất : Tài nguyên vật chất là hữu hạn, sức sáng tạo của con người là vô hạn, do vậy nếu dựa vào sức sáng tạo của con người thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bao giờ dừng lại.
Theo quan niệm này các tổ chức chủ động đào tạo nhân lực để phục vụ nhu cầu chuyên biệt của mình. Thậm chí có lãnh đạo tổ chức còn đi xa hơn, xây dựng một tổ chức học tập cho đơn vị mình. Dưới góc độ này, đào tạo nhân lực được coi là một loại hình đầu tư và đào tạo được các tổ chưc tiến hành một cách chủ động, có chiến lược, chính sách và kế hoạch triển khai chi tiết. Theo quan điểm của Nguyễn Ngọc Quân và cộng sự ( 2012) thì đào tạo nguồn nhân lực được hiểu như sau : Đào tạo là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình hoặc tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong tổ chức, là điều kiện tiên quyết để tổ chức có thể tồn tại và đi lên trong cạnh tranh. Đầu tiên, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp cho cán bộ trong tổ chức được trau dồi, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc, nâng cao chất lượng thực hiện công việc. Bên cạnh đó công tác đào tạo NNL giúp giảm bớt sự giám sát vì người lao động được đào tạo là người có khả năng tự giám sát, tự chủ trong công việc, nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức, duy trì và nâng cao chất luợng nguồn nhân lực trong tổ chức.
14 Đào tạo nguồn nhân lực còn tạo điều kiện cho áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật và quản lý vào doanh nghiệp, tạo ra được lợi thế trong doanh nghiệp. Đối với người lao động, đào tạo nguồn nhân lực có những vai trò vô cùng to lớn. Nó tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động và tổ chức, vai trò của đào tạo phát triển nguồn nhân lực thể hiện ở chỗ: - Tạo ra sự gắn bó đối giữa người lao động và doanh nghệp. - Tạo ra tính chuyên nghiệp của người lao động.
- Tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như tưong lai. - Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của người lao động. - Tạo cho người lao động có cách nhìn mới, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc. Nội dung đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức Nội dung đào tạo là hệ thống phức hợp về mặt sư phạm và được định hướng về những tri thức, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và kinh nghiệm làm việc để chuyển giao cho người học trong quá trình hoạt động của họ.