Đặt vấn đề Đất nước đang ngày càng đổi mới, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh đó những khó khăn và thách thức của người dân gặp cũng không phải là ít. Trong thời buổi cơ chế thị trường, nỗ lực và ý trí làm giàu của con người là chính đáng nhưng sự cạnh tranh vươn lên làm giàu đó lại càng nghiệt ngã, chông chênh hơn đặc biệt đối với bà con nông dân Xã Yên Đổ - Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên. Vốn là một xã trung du miền núi, đất đai rộng lớn nhưng chủ yếu là đồi núi, tổng diện tích đất tự nhiên 36,04 km², dân số 2013 là: 6687 người.
Trình độ sản xuất thấp, việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, việc khai thác và sử dụng các nguồn lực của hộ nông dân vẫn chưa tốt. Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân vẫn còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết: - Sản xuất trong kinh tế hộ hiện nay vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, thiết bị máy móc khoa học – kỹ thuật chưa được áp dụng nhiều vào sản xuất nông nghiệp do diện tích đất manh mún, quy mô nhỏ do việc phân chia đất đai bình quân. - Tình trạng gia tăng dân số, kết hợp với tính thời vụ trong nông nghiệp đã dẫn tới việc dư thừa lao động, thiếu việc làm cho nên năng suất lao động thấp. - Việc thiếu vốn đầu tư, thiếu kiến thức cơ bản là tình hình chung của các hộ gia đình nên mỗi khi có đợt chính sách cho vay vốn thì người dân không biết sử dụng cho hiệu quả và gây lãng phí.
Những tồn tại và khó khăn chủ yếu ở các tỉnh trung du miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,… đã cản trở nhiều tới tiến trình phát triển của đất nước. Yên Đổ là một xã thuộc huyện Phú Lương – Thái Nguyên 2 với nền sản xuất dựa trên nông nghiệp là chủ yếu, kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ nói riêng đang từng ngày phát triển theo đà phát triển của đất nước nhưng nó cũng không tránh khỏi rất nhiều khó khăn và lắm tồn tại cần giải quyết. Những vấn đề cần làm rõ là: Hiệu quả kinh tế hộ gia đình của xã Yên Đổ ra sao? Những giải pháp chủ yếu nào nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình trong tiến trình hội nhập và đổi mới cùng đất nước ? Đó là một số vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu và giải đáp. Xuất phát từ thực trạng đó tôi lựa chọn đề tài: "Đánh giá hiệu quả kinh tế hộ tại Xã Yên Đổ - Huyện Phú Lương – Tỉnh Thái Nguyên" làm khoá luận tốt nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả của mô hình kinh tế hộ trên địa bàn Xã Yên Đổ từ đó đóng góp đưa ra ý kiến phù hợp để thúc đẩy mô hình kinh tế nông hộ tại địa phương phát triển. Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước về phát triển kinh tế nông hộ. Từ đó giúp ta hiểu rõ và đầy đủ hơn về quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Đánh giá được hiệu quả kinh tế hộ của địa phương nghiên cứu và tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế nông hộ ở địa bàn nghiên cứu. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập Củng cố thêm kiến thức đã được học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại cơ sở.
3 Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu tại cơ sở của người cán bộ chuyên ngành. Nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của người cán bộ chuyên ngành. Ý nghĩa trong thực tiễn Từ kết quả của đề tài giúp UBND xã Yên Đổ đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế, xã hội chung cũng như thực trạng phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, phát huy những lợi thế, đề ra phương hướng phát triển trong thời gian tới. 4 Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm cơ bản về hộ a. Hộ gia đình - Theo Weberster - Từ điển kinh tế năm 1990: Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ. - Theo Raul, năm 1989: Hộ là những người có cùng chung huyết tộc, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng. - Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ 1982 – 1985: Hộ là đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất.
Như vậy, các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về hộ không giống nhau. Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân biệt về hộ, đó là: + Chung hay không cùng chung huyết tộc (huyết tộc và quan hệ hôn nhân) + Cùng chung sống với một mái nhà + Cùng chung một nguồn thu nhập (ngân quỹ) + Cùng ăn chung + Cùng tiến hành sản xuất chung b. Hộ nông dân Theo Ellis năm 1988: Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộng lớn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần với mức độ hoàn hảo không cao. Kinh tế hộ nông dân Nguyễn Văn Huân 1993 – Tạp chí nghiên cứu kinh tế: “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội.
Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ hộ. Được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển”. Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế. Có một thực tế cần có sự phân biệt rõ ràng giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại.
Kinh tế trang trại Ban kinh tế Trung ương cho rằng: Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông – lâm – ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt. Tác giả Nguyễn Thế Nhã cho rằng: Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường. Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân Kinh tế hộ nông dân bao chùm đặc trưng là các thành viên trong gia đình làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia đình mình. Nhìn chung là kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính tự cấp, nhưng lại có vai trò quan trọng trong qua trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển nói chung và ở nước ta nói riêng.
6 Với những đặc trưng trên, tùy theo tình hình và điều kiện cụ thể từng vùng, từng loại hộ mà hình thành những đặc trưng cụ thể đa dạng về hình thức quản lý, về ruộng đất, quy mô, về vốn tài sản, lao động. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét những đặc trưng cụ thể: - Ruộng đất: đối với nước ta thì ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước. Các nông hộ được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài tuỳ theo từng loại đất trồng cây hàng năm hay cây lâu năm và đồng thời chịu các khoản thuế và nghĩa vụ đối với Nhà nước. - Cơ cấu sản xuất của các nông hộ, nông trại: Mỗi nhà đều có các loại hình phát triển kinh tế hộ riêng.
Có hộ gia đình sản xuất mang tính chất độc canh, nặng về cây lương thực mà chủ yếu là cây lúa, ngô. Có loại nông hộ vừa trồng trọt, chăn nuôi vừa có ngành nghề phụ. Có hộ chuyên làm nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc thuỷ sản kết hợp với chế biến và một số ngành nghề khác. Điều đó phụ thuộc vào điều kiện tư nhiên, kinh tế của từng vùng, từng hộ gia đình.
Trong hộ có ngành sản xuất hoạt động thường xuyên quanh năm, nhưng cũng có ngành sản xuất vào lúc nông nhàn. Cơ cấu sản xuất đó đã ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của từng loại hộ. Có hộ thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng cũng có hộ thu nhập chủ yếu từ phi nông nghiệp. Có hộ thu nhập từ kinh doanh các ngành nghề, làm thuê cho các nơi khác.
Thông thường những hộ có nhiều ruộng đất thì thu nhập từ nông nghiệp là chủ yếu, ngược lại những hộ ít ruộng đất thì thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp là chủ yếu. - Vốn và tài sản của nông hộ, nông trại: Nhìn chung các hộ gia đình đều sử dụng số vốn tự có để phát triển sản xuất và bảo đảm đời sống. Nhưng tuỳ theo điều kiện và quy mô từng hộ mà số vốn của các hộ có khác nhau. Các hộ trung bình và nghèo thường ít vốn và thiếu vốn.
Các hộ khá và giàu cũng thiếu vốn để mở rộng sản xuất. Nhìn chung các hộ đều thiếu vốn sản xuất nhưng ở mức độ khác nhau. Nhiều hộ có nhu cầu vay vốn nhưng tuỳ theo điều kiện từng địa 7 phương và từng loại hộ mà nhà nước cho vay nhiều hay ít. Hiện nay ở nước ta nhà nước đã có chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để phát triển kinh tế hộ gia đình.
Về tư liệu sản xuất: nhìn chung các nông hộ đã mua sắm được các nông cụ thông thường. Còn các hộ có điều kiện thì mua sắm được một số máy móc thông dụng ít tiền, còn máy móc hiện đại đắt tiền thì hộ phải thuê của các tổ chức dịch vụ kỹ thuật.