Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò trụ cột trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chiếm khoảng 76% tổng sản lượng thịt hơi các loại trong giai đoạn 2012–2016. Sự chuyển dịch phương thức sản xuất từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại bán công nghiệp và công nghiệp tập trung giúp tăng năng suất, tuy nhiên cũng tạo ra áp lực rất lớn đối với môi trường. Ước tính mỗi năm ngành chăn nuôi cả nước thải ra khoảng 75–85 triệu tấn phân cùng khối lượng nước thải khổng lồ chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng (Nitơ, Photpho) và vi sinh vật gây bệnh (như dịch cúm lợn, tai xanh, lở mồm long móng, tiêu chảy...).

Huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội) là vùng phát triển mạnh đàn gia súc nông nghiệp. Tại xã Ba Trại, hoạt động chăn nuôi lợn phát triển nhanh về số lượng. Trong đó, trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại của hộ ông Nguyễn Thanh Lịch có quy mô 1.200 con nái, cung ứng nguồn giống thương phẩm lớn nhưng phát sinh lượng nước thải vệ sinh chuồng trại và tắm rửa hàng ngày ước tính rất cao (nhu cầu cấp nước phục vụ chăn nuôi và vệ sinh nền chuồng khoảng 2.000 m³/ngày, nước thải sinh hoạt khoảng 2 m³/ngày). Mặc dù cơ sở đã đầu tư công trình khí sinh học bằng hầm phủ bạt yếm khí và hồ sinh học thủy sinh, song nước thải sau xử lý vẫn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm và ảnh hưởng tới đời sống dân cư khu vực xung quanh.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Đánh giá hiện trạng xử lý nước thải chăn nuôi lợn tại trang trại ông Nguyễn Thanh Lịch (xã Ba Trại, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội).
  2. Đánh giá ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi lợn đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh khu vực trang trại.
  3. Đề xuất một số giải pháp quản lý và công nghệ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước do hoạt động chăn nuôi của trang trại gây ra.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải chăn nuôi lợn (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước tắm cho lợn...), nước thải sinh hoạt và toàn bộ hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tại trang trại.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ khuôn viên chuồng trại, khu xử lý chất thải rắn và nước thải của trang trại lợn ông Nguyễn Thanh Lịch tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội, cùng vùng dân cư lân cận trong bán kính 150 m.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện khảo sát, điều tra thực địa từ ngày 15/06/2017 đến ngày 15/10/2017; công tác lấy mẫu nước thải phục vụ phân tích phòng thí nghiệm được tiến hành vào ngày 16/10/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành khoa học môi trường về môi trường nước, bản chất nước thải chăn nuôi và cơ chế phân hủy các hợp chất hữu cơ, vô cơ. Thành phần nước thải chăn nuôi gia súc chứa 70–80% hợp chất hữu cơ (protein, lipid, hydratcacbon, axit amin, xenlulozo...) và 20–30% hợp chất vô cơ (muối photphat, nitrat, ion Cl⁻, SO₄²⁻, PO₄³⁻) cùng nhiều vi khuẩn đường ruột (E.coli, Shigella sp., Clostridium sp., Proteus...).

Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng đối chiếu trong nghiên cứu bao gồm:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13);
  • Luật Tài nguyên Nước năm 2012 (Luật số 17/2012/QH13);
  • Các Nghị định: Nghị định 80/2014/NĐ-CP (thoát nước và xử lý nước thải), Nghị định 19/2015/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật BVMT), Nghị định 154/2016/NĐ-CP (phí BVMT đối với nước thải), Nghị định 155/2016/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT), Nghị định 201/2013/NĐ-CP (hướng dẫn Luật Tài nguyên Nước);
  • Các Thông tư và Quy chuẩn: Thông tư 36/2015/TT-BTNMT (quản lý chất thải nguy hại), Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT, QCVN 01-14:2010/BNNPTNT (điều kiện trại chăn nuôi an toàn sinh học), QCVN 08:2015/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 40:2011/BTNMT, và đặc biệt là QCVN 62-MT:2016/BTNMT quy định về nước thải chăn nuôi.
STT Thông số Đơn vị Giá trị C (Cột A) Giá trị C (Cột B)
1 pH - 6 – 9 5,5 – 9
2 BOD₅ mg/l 40 100
3 COD mg/l 100 300
4 TSS mg/l 50 150
5 NO₃⁻ mg/l 50 150

Ghi chú: Cột A áp dụng cho nguồn tiếp nhận dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt; Cột B áp dụng cho nguồn tiếp nhận không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt (Nguồn: QCVN 62-MT:2016/BTNMT).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu khí tượng, thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương xã Ba Trại; số liệu thống kê chăn nuôi của FAO, Tổng cục Thống kê; quy trình quản lý thức ăn và dịch tễ từ Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Quan sát trực tiếp quy trình chăn nuôi, hệ thống chuồng sàn, chuồng nền, đường cống thu gom nước thải, hầm biogas phủ bạt yếm khí, máng trượt làm giàu oxy và hồ thủy sinh.
  • Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Thực hiện theo TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003). Lấy mẫu tại 3 vị trí (M1: nước thải trước khi vào bể Biogas; M2: nước thải sau bể Biogas trước khi vào hồ thủy sinh; M3: nước thải tại cửa xả sau hồ thủy sinh đổ ra nguồn tiếp nhận).
Ký hiệu Vị trí lấy mẫu Ngày lấy mẫu Phương pháp và điều kiện bảo quản mẫu
M1 Cửa cống nước thải trước khi vào bể Biogas 16/10/2017 pH đo trực tiếp; BOD₅ giữ ở 4°C (chai thủy tinh); COD thêm H₂SO₄ đến pH=2 (chai thủy tinh); TSS giữ ở nhiệt độ dưới 8°C trong tối (chai thủy tinh); Tổng Nitơ giữ ở 4°C (chai polime).
M2 Cửa xả nước thải sau bể Biogas 16/10/2017 Tương tự quy trình bảo quản mẫu theo TCVN 6663-3:2008
M3 Cửa xả nước thải sau hồ thủy sinh ra nguồn tiếp nhận 16/10/2017 Tương tự quy trình bảo quản mẫu theo TCVN 6663-3:2008
  • Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm: Tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với các quy chuẩn kỹ thuật:
    • pH: Phân tích theo TCVN 6492:2011;
    • TSS (Tổng chất rắn lơ lửng): Phân tích theo TCVN 6625:2000;
    • BOD₅ (Nhu cầu oxy sinh học): Phân tích theo TCVN 6001:2008;
    • COD (Nhu cầu oxy hóa học): Phân tích theo TCVN 6491:1999;
    • NO₃⁻ (Nitrat): Phân tích theo TCVN 6638:2000.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 40 hộ dân sinh sống quanh khu vực trang trại, phân chia theo 3 mức khoảng cách: 14 phiếu cho các hộ cách trang trại ≤ 50 m; 11 phiếu cho các hộ cách từ > 50 m đến 100 m; 15 phiếu cho các hộ cách từ > 100 m đến 150 m.
  • Phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu điều tra và kết quả đo đạc phân tích được tổng hợp, tính toán trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tầm quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời chỉ ra hệ lụy từ chất thải chăn nuôi chưa được kiểm soát chặt chẽ. Đặt trong bối cảnh cụ thể của xã Ba Trại (huyện Ba Vì, Hà Nội), việc nghiên cứu cơ sở chăn nuôi lợn nái quy mô 1.200 con của ông Nguyễn Thanh Lịch có ý nghĩa thiết thực nhằm phát hiện những khiếm khuyết trong quy trình xử lý nước thải tại chỗ, tạo cơ sở khoa học để chính quyền và chủ trại áp dụng biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước và sức khỏe cộng đồng.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn:

  • Khái quát lý thuyết về chu trình phân hủy chất thải hữu cơ trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí, đặc tính độc hại của các loại khí phát sinh như NH₃ (gây kích thích mắt, đường hô hấp), H₂S (mùi trứng thối, độc tính cao), CH₄ và CO₂ (khí gây ngạt và hiệu ứng nhà kính).
  • Tổng hợp số liệu chăn nuôi thế giới (thống kê FAO 2014: tổng đàn lợn toàn cầu đạt 985,67 triệu con, trong đó Trung Quốc dẫn đầu với 474,11 triệu con, Mỹ 67,48 triệu con, Việt Nam đứng thứ 5 với 26,76 triệu con).
  • Thống kê tình hình đàn lợn Việt Nam (năm 2016 đạt 28,3 triệu con) và thành phố Hà Nội (đàn lợn năm 2016 đạt 1,589 triệu con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 270,99 nghìn tấn, chiếm khoảng 7,39% cả nước).
  • Dẫn chứng số liệu ô nhiễm nước thải chăn nuôi tại các tỉnh phía Bắc (Viện Công nghệ Môi trường, 2012) cho thấy nồng độ COD tại Hà Nội lên tới 7.219 mg/l, TSS đạt 3.200 mg/l, tổng Nitơ 247 mg/l; tại Vĩnh Phúc COD đạt 4.590 mg/l, TSS đạt 9.520 mg/l.
  • Tổng quan công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi: Công nghệ mẻ sinh học SBR (Hà Lan), bể phản ứng kỵ khí ngược dòng UASB (Thái Lan), quy trình VALPUREN (Tây Ban Nha); công trình khí sinh học Biogas, hồ sinh học thực vật thủy sinh (sử dụng bèo lục bình Eichhornia crassipes, bèo tai tượng Pistia stratiotes, bèo tấm Wolfia arrhiga, cỏ sậy Phragmites communis...) và mô hình bãi lọc ngầm tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát, địa bàn nghiên cứu tại xã Ba Trại (Ba Vì), phân định thời gian lấy mẫu (tháng 10/2017) và toàn bộ các tiêu chuẩn TCVN trong công tác hiện trường và thí nghiệm. Cụ thể hóa kỹ thuật thu mẫu tại 3 điểm (M1: trước biogas, M2: sau biogas, M3: sau hồ sinh học) và phương pháp xã hội học khảo sát 40 hộ dân quanh trại chia theo 3 cự ly bán kính.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

  • Điều kiện tự nhiên: Xã Ba Trại có diện tích 36 km², địa hình gò đồi bán sơn địa với độ chênh cao 5–20 m; khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, lượng mưa trung bình 2.500 mm/năm (tập trung vào tháng 7 và tháng 8), độ ẩm không khí trung bình 86,1%.
  • Quy mô trang trại: Tổng diện tích khu chuồng trại là 4.000 m², bố trí 6 dãy chuồng đẻ, 1 dãy chuồng bầu, 4 chuồng cách ly nuôi thường xuyên 1.200 lợn nái ngoại. Lợn con sinh ra được nuôi từ 18 đến 21 ngày thì cai sữa để chuyển xuất bán sang các trại chăn nuôi lợn thịt; sản lượng con giống xuất bán đạt khoảng 20.000 con/năm.
  • Hiện trạng công trình xử lý nước thải: Hệ thống chuồng trại thiết kế đường thoát nước kín. Nước thải thu gom đưa về hầm Biogas dạng hầm phủ bạt yếm khí HDPE. Sau khi lên men kỵ khí thu hồi khí gas, nước thải chảy qua hệ thống máng trượt để tiếp xúc oxy không khí nhằm nâng cao chỉ số oxy hòa tan (DO), sau đó dẫn vào hồ thủy sinh (hồ sinh học tự nhiên) trước khi xả ra mương thoát nước chung của khu vực. Nước thải sinh hoạt từ nhà vệ sinh của công nhân (~2 m³/ngày) được xử lý qua bể tự hoại 3 ngăn rồi nhập vào hồ thủy sinh.
  • Đánh giá chất lượng nước thải và hiệu suất: Kết quả phân tích tại 3 vị trí M1, M2, M3 chứng minh hệ thống biogas kết hợp hồ thủy sinh đã làm giảm đáng kể các thông số ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng. Tuy nhiên, các chỉ tiêu chính tại vị trí xả thải cuối cùng (M3) vẫn còn vượt ngưỡng giá trị cho phép theo QCVN 62-MT:2016/BTNMT.
  • Tác động xã hội: Kết quả điều tra 40 hộ dân ghi nhận mùi hôi phát tán và tiếng ồn là 2 tác nhân ảnh hưởng rõ rệt nhất đến sinh hoạt, đặc biệt là nhóm hộ dân nằm trong bán kính dưới 50 m tính từ ranh giới chuồng nuôi.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Đúc kết những phát hiện chính về công tác bảo vệ môi trường của trang trại; chỉ rõ việc phụ thuộc hoàn toàn vào hầm biogas phủ bạt và hồ thủy sinh tự nhiên chưa đủ để đảm bảo chất lượng nước xả thải; đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương tăng cường giám sát và yêu cầu chủ cơ sở hoàn thiện công trình xử lý bổ sung.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể các thông số kỹ thuật và thực trạng môi trường tại trang trại lợn ông Nguyễn Thanh Lịch:

  1. Dữ liệu vận hành và xử lý:
  • Quy mô đàn: 1.200 lợn nái, sản lượng ~20.000 lợn giống/năm trên diện tích 4.000 m² chuồng trại.
  • Nhu cầu nước vệ sinh, chuồng trại: Khai thác từ giếng khoan, ước tính phục vụ đàn gia súc và xịt rửa nền chuồng khoảng 2.000 m³/ngày; nước thải sinh hoạt phát sinh 2 m³/ngày qua bể tự hoại 3 ngăn.
  • Hệ thống công trình xử lý nước thải hiện hữu gồm: Hầm Biogas phủ bạt kỵ khí -> Máng trượt làm thoáng tăng DO -> Hồ thủy sinh -> Cửa xả nguồn tiếp nhận.
  1. Đánh giá chất lượng nước thải qua các công đoạn:
  • Giai đoạn trước Biogas (M1): Nước thải chăn nuôi có nồng độ chất ô nhiễm hữu cơ và cặn lơ lửng rất cao, bao gồm BOD₅, COD, TSS và các hợp chất Nitơ.
  • Giai đoạn sau Biogas (M2): Hiệu suất xử lý kỵ khí giúp giảm đáng kể tải lượng chất hữu cơ tan và cặn lơ lửng, tạo dòng khí sinh học làm chất đốt; qua máng trượt làm thoáng giúp bổ sung DO cho dòng chảy.
  • Giai đoạn sau hồ thủy sinh (M3): Quá trình lắng đọng tự nhiên và xử lý sinh học nhờ thực vật thủy sinh tiếp tục làm giảm ô nhiễm, tuy nhiên nhiều chỉ số vẫn chưa đạt yêu cầu của QCVN 62-MT:2016/BTNMT khi thải ra môi trường bên ngoài.
  1. Khảo sát tác động môi trường tới cộng đồng:
  • Tổng hợp từ 40 phiếu phỏng vấn cho thấy 100% các hộ trong cự ly ≤ 50 m chịu tác động của mùi hôi và tiếng ồn; mức độ ảnh hưởng giảm dần ở cự ly 50–100 m và 100–150 m.
  1. Đóng góp và đề xuất giải pháp của đề tài:
  • Về công nghệ: Đề xuất cải tạo và nâng cấp hệ thống xử lý sau Biogas bằng mô hình bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh (kết hợp các loại bèo, sậy, cỏ thủy sinh) để xử lý triệt để hàm lượng Nitơ, Photpho và COD còn dư thừa; định kỳ kiểm tra, nạo vét bùn lắng tại đường ống và các ngăn lắng.
  • Về quản lý và chính sách: Đề xuất trang trại tuân thủ nghiêm ngặt quy định an toàn sinh học theo QCVN 01-14:2010/BNNPTNT; áp dụng quy trình "cùng vào cùng ra", giữ trống chuồng tối thiểu 7 ngày giữa các đợt nuôi; thực hiện kê khai, nộp phí bảo vệ môi trường theo Nghị định 154/2016/NĐ-CP và chịu sự giám sát định kỳ của cơ quan quản lý tài nguyên môi trường huyện Ba Vì.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Dữ liệu quan trắc thực nghiệm chỉ được tiến hành lấy mẫu trong 01 đợt (ngày 16/10/2017) trong phạm vi đợt thực tập tốt nghiệp (tháng 6 đến tháng 10 năm 2017), do đó chưa phản ánh được sự biến động chất lượng nước thải theo mùa vụ (mùa khô và mùa mưa) và các giai đoạn sinh lý khác nhau của đàn lợn nái.
  • Số lượng thông số phân tích trong phòng thí nghiệm dừng lại ở 5 chỉ tiêu cơ bản (pH, TSS, BOD₅, COD, NO₃⁻), chưa tiến hành phân tích sâu các chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh (Coliform, E.coli) và kim loại nặng (Cu, Zn) có trong thức ăn chăn nuôi tích tụ trong nước thải.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng tần suất quan trắc định kỳ theo từng quý trong năm để đánh giá chính xác tải lượng ô nhiễm theo mùa khí hậu tại vùng đồi gò Ba Vì.
  • Tính toán thiết kế chi tiết thông số kỹ thuật (diện tích, lưu lượng tải, vật liệu lọc, loại thực vật) và thử nghiệm mô hình bãi lọc ngầm kiến tạo quy mô pilot áp dụng thực tế tại trang trại để xử lý triệt để nước thải sau Biogas.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lang Mai Phương là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường nông nghiệp: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc một đề tài đánh giá hiện trạng thực địa, phương pháp lập kế hoạch lấy mẫu nước thải theo TCVN 5999:1995, TCVN 6663-3:2008 và phương pháp thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn xã hội học môi trường trong chăn nuôi.
  • Đối với các chủ trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và lớn: Cung cấp cái nhìn thực tế về giới hạn của công nghệ hầm biogas phủ bạt đơn thuần, từ đó thấy được sự cần thiết phải đầu tư các công trình xử lý bậc hai, bậc ba (như máng trượt oxy hóa, hồ sinh học, bãi lọc ngầm) nhằm đáp ứng quy chuẩn xả thải hiện hành.
  • Đối với cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện: Cung cấp số liệu khảo sát thực tế phục vụ công tác thanh tra, kiểm soát môi trường nông thôn và xây dựng quy hoạch chăn nuôi an toàn sinh học tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Trang trại chăn nuôi lợn của ông Nguyễn Thanh Lịch có quy mô, cơ cấu chuồng trại và công suất sản xuất như thế nào?
Trang trại có tổng diện tích chuồng nuôi là 4.000 m², gồm 6 dãy chuồng đẻ, 1 dãy chuồng bầu và 4 chuồng cách ly, nuôi thường xuyên 1.200 lợn nái ngoại. Lợn con sinh ra nuôi từ 18–21 ngày được cai sữa và chuyển đi các trại nuôi lợn thịt; mỗi năm trang trại cung ứng ra thị trường khoảng 20.000 con giống.

2. Dây chuyền thu gom và xử lý nước thải chăn nuôi tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch gồm những công trình nào?
Dây chuyền gồm hệ thống cống kín thu gom nước phân và nước rửa chuồng từ các dãy chuồng dẫn về hầm Biogas phủ bạt kỵ khí HDPE. Nước thải sau biogas chảy qua hệ thống máng trượt để tiếp xúc với oxy không khí nhằm tăng hàm lượng oxy hòa tan (DO), sau đó chảy vào hồ thủy sinh (hồ sinh học) để tiếp tục phân hủy sinh học và lắng cặn trước khi xả ra mương tiếp nhận. Nước thải sinh hoạt (~2 m³/ngày) được xử lý riêng qua bể tự hoại 3 ngăn trước khi nhập vào hồ thủy sinh.

3. Nghiên cứu thực hiện lấy mẫu nước thải ở những vị trí nào và phân tích bằng những phương pháp thí nghiệm nào?
Nghiên cứu lấy mẫu tại 3 vị trí vào ngày 16/10/2017: M1 (cửa cống trước khi vào bể Biogas), M2 (cửa xả sau bể Biogas, trước hồ thủy sinh), và M3 (cửa xả sau hồ thủy sinh ra nguồn tiếp nhận). Các mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên gồm 5 chỉ tiêu: pH (TCVN 6492:2011), TSS (TCVN 6625:2000), BOD₅ (TCVN 6001:2008), COD (TCVN 6491:1999) và NO₃⁻ (TCVN 6638:2000).

4. Khảo sát xã hội học về ảnh hưởng môi trường của trang trại được thực hiện với quy mô mẫu và cự ly ra sao?
Tác giả thực hiện phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 40 hộ dân sinh sống quanh khu vực trang trại, chia theo 3 khoảng cách: 14 phiếu thuộc nhóm khoảng cách ≤ 50 m; 11 phiếu thuộc nhóm từ > 50 m đến 100 m; 15 phiếu thuộc nhóm từ > 100 m đến 150 m. Kết quả cho thấy mùi hôi và tiếng ồn ảnh hưởng nặng nhất đến các hộ trong cự ly 50 m.

5. Giải pháp công nghệ chính nào được tác giả đề xuất để nâng cao hiệu quả làm sạch nước thải sau hầm Biogas?
Tác giả đề xuất xây dựng và bổ sung mô hình bãi lọc ngầm trồng thực vật thủy sinh (như sậy, bèo, cỏ thủy sinh) tiếp sau hồ sinh học, kết hợp nạo vét bùn lắng định kỳ và duy trì máng trượt làm thoáng nhằm tăng cường oxy hóa các chất hữu cơ và loại bỏ triệt để Nitơ, Photpho trước khi xả thải.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lang Mai Phương đã hoàn thành việc đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh và công nghệ xử lý nước thải tại trang trại chăn nuôi lợn nái quy mô 1.200 con của hộ ông Nguyễn Thanh Lịch tại xã Ba Trại, huyện Ba Vì. Qua công tác khảo sát thực địa, lấy mẫu kiểm nghiệm theo các tiêu chuẩn TCVN và đối chiếu với QCVN 62-MT:2016/BTNMT, nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại của hệ thống xử lý biogas phủ bạt kết hợp hồ thủy sinh tự nhiên, đồng thời định lượng mức độ ảnh hưởng của mùi hôi và tiếng ồn đến 40 hộ dân xung quanh. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kỹ thuật bãi lọc ngầm thực vật thủy sinh và quản lý an toàn sinh học, đóng góp tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường chăn nuôi tại các vùng nông nghiệp ngoại thành.