Đặt vấn đề Đất đai là tài sản Quốc gia, là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không phải là vô tận mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Đất đai còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động và sản phẩm của lao động. Hiện nay xã hội càng ngày càng phát triển, dân số ngày một tăng lên một cách nhanh chóng, tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh kéo theo nhu cầu về sử dụng đất và nhu cầu về lương thực tăng lên. Đồng thời đất đai được sử dụng vào mục đích nhà ở, sản xuất nông nghiệp và các công trình công cộng, những điều này đã gây một áp lực rất lớn cho quỹ đất của nước ta, đặc biệt là đất nông nghiệp.
Chính vì vậy mà giá trị của đất ngày càng cao và yêu cầu sử dụng đất càng phải tốt hơn so với hiệu quả kinh tế xã hội. Việt Nam là một nước đang phát triển trên tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế đi theo đinh hướng Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Tốc độ phát triển kinh tế nhanh, Chính phủ có nhiều ưu đãi cho các nguồn vốn đầu tư từ trong nước cũng như ngoài nước. Trong vòng vài năm gần đây nước ta thu hút một lượng vốn đầu tư nước ngoài rất lớn, điều này rất có lợi cho nền kinh tế của nước ta nhưng nó cũng làm ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất.
Nhiều khu công nghiệp, các khu đô thị xuất hiện ngày càng nhiều, quỹ đất nông nghiệp giảm đi một cách rõ rệt và đất phi nông nghiệp tăng lên một cách nhanh chóng dẫn đến nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng cao. Ở Việt Nam, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng đất đai mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân…. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Đối với người sử dụng đất thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ c 2 sở để được Nhà nước đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền để để họ thực hiện các quyền mà Nhà nước đã trao tặng cho người sử dụng đất, đặc biệt là các quyền đối với đất đai.
Đối với Nhà nước, thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứng tỏ khả năng của Nhà nước trong việc quản lý tài sản đất đai thuộc sở hữu của mình, giúp Nhà nước kiểm soát tình hình đất đai một cách thuận tiện. Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất góp phần hoàn thiện hồ sơ địa chính, giúp cho việc nắm chắc quỹ đất cả về số lượng và chất lượng. Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn cũng như tính cấp thiết của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Ths.
Dương Thị Thanh Hà em tiến hành thực hiện đề tài : “ Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thị trấn Na Sầm, Huyện Văn Lãng, Tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014 – 2016 ’’. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát - Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của công tác đăng ký và cấp GCNQSDĐ trên địa bàn thị trấn Na Sầm huyện Văn Lãng tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014 - 2016. Đề xuất những giải pháp thích hợp để góp phần giải quyết những khó khăn, tồn tại và làm tăng tiến độ của công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn thị trấn Na Sầm giai đoạn 2014 - 2016.2 Mục tiêu cụ thể - Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Na Sầm - Tình hình quản lý và biến động đất đai của thị trấn Na Sầm giai đoạn 2014 - 2016 - Đánh giá tình hình cấp GCNQSDĐ tại thị trấn Na Sầm - Những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ c 3 - Đề xuất một số giải pháp 1. Ý nghĩa của đề tài * Đối với việc học tập : - Giúp củng cố lại các kiến thức đã học trong nhà trường và bước đầu làm quen được với công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thực tiễn.
* Đối với thực tiễn : - Đưa ra được những kiến nghị đề xuất với các cấp có thẩm quyền để cá những giải pháp phù hợp cho công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước nói chung được tốt hơn. - Đề tài có ý nghĩa góp phần đấy nhanh công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thị trấn Na Sầm trong những giai đoạn tới. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội.
Thấy rõ được tầm quan trọng đó, nhà nước đã quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên này bằng pháp luật và hệ thống các văn bản. Tại điều 4 luật đất đai năm 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” và nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm 15 nội dung được quy định tại điều 22 luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể[5]: (1) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. (2) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính.
(3) Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. (4) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. (5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. (6) Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
(7) Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. (8) Thống kê, kiểm kê đất đai. c 5 (9) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. (10) Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
(11) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. (12) Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. (13) Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. (14) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.
(15) Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.1 Sơ lược về hồ sơ địa chính Khái niệm về hồ sơ địa chính được quy định tại Điều 40 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 như sau[2]: - Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Mỗi thửa đất phải có số hiệu riêng và không trùng với số hiệu của các thửa đất khác trong phạm vi cả nước. - Nội dung của hồ sơ địa chính phải được thể hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời, phải được chỉnh lý thường xuyên đối với các biến động theo quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng đất. - Hồ sơ địa chính phải được lập thành một (01) bản gốc và hai (02) bản sao từ bản gốc; bản gốc được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, một bản sao được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, một bản sao lưu tại UBND xã, phường, thị trấn.
Mục đích thiết lập hồ sơ địa chính nhằm kiểm soát mọi hình thức quản lý và sử dụng đất. Đối với ngành quản lý đất đai, hồ sơ địa chính là phương tiện phản ánh các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và pháp lý. c 6 Theo khoản 1,2 điều 47 luật đất đai 2003 quy định[5] : Hồ sơ địa chính gồm : • Bản đồ địa chính : • Sở địa chính: • Sổ mục kê đất đai: • Sổ theo dõi biến động đất đai: Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin sau: • Số hiệu, kích thước, hình thể, diện tích, vị trí. • Người sử dụng đất.
• Nguồn gốc, mục đích, thời hạn sử dụng đất. • Giá đất, các tài sản gắn liền với đất, các nghĩa vụ tài chính về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện. • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các quyền và những hạn chế về quyền của người sử dụng đất. • Biến động trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác có liên quan.
• Theo Luật Đất đai 2013 mới ban hành [6]: Hồ sơ địa chính bao gồm các tài liệu dạng giấy hoặc dạng số thể hiện thông tin chi tiết về từng thửa đất, người quản lý đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, các quyền và thay đổi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính và việc lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính; lộ trình chuyển đổi hồ sơ địa chính dạng giấy sang hồ sơ địa chính dạng số. So với luật 2003 thì Luật hiện hành chỉ đơn thuần là các quy định về kỹ thuật. Các nội dung quy định này rất dễ thay đổi trong điều kiện kỹ thuật, công nghệ đang ngày càng phát triển và bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan đăng ký trong việc lập, quản lý, cập nhật, chỉnh lý biến động thường xuyên hồ sơ địa chính.2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đât Theo khoản 16 Điều 3 của Luật đất đai năm 2013 quy định[6]: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất .