ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là thành phần quan trọng của môi trường sống mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người và còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong quá trình lao động sản xuất nông - lâm nghiệp. Một trong những yêu cầu cơ bản là sử dụng đất đai hợp lý và không ngừng nâng cao chất lượng của đất. Trong tất cả các cương lĩnh, các văn kiện, các văn bản pháp luật và dưới luật đều chỉ rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Căn cứ vào nhu cầu của đất đai, căn cứ vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước mà việc khai thác và sử dụng đất đai phải được thực hiện một cách tiết kiệm và hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực của đất, nhằm đạt tới lợi ích kinh tế, sinh thái và xã hội cao nhất.
Xuất phát từ những quan điểm trên, từ yêu cầu thực tế mà Đảng và Nhà nước cần đề ra những điều bổ sung, sửa đổi quan trọng liên quan đến các chính sách pháp luật về đất đai nhằm góp phần tích cực vào sự lặp lại kỷ cương trong quản lý, khai thác và sử dụng đất đai, phấn đấu để đất đai được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả nhất, phục vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong qua trình đổi mới đất nước, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đang diễn ra hết sức mạnh mẽ tại tất cả các địa phương, thể hiện đúng tinh thần xây dựng một đất nước giàu mạnh và Đảng và Nhà nước mong muốn. Để phục vụ mục đích này, đòi hỏi phải có một lượng lớn đất đai. Công việc này liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng cho nhân dân đang sử dụng đất.
Đây là điều kiện ban đầu nhưng hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng các công trình dự án. Công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của Nhà nước và nhân dân. Vì vậy, công tác thu hồi đất và phương án bồi thường giải phóng mặt bằng là hết sức khó khăn, phức tạp và nhạy cảm. Trên địa bàn huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng trong những năm qua đã tổ chức thực hiện nhiều dự án và công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đã 2 thu được nhiều kết quả tốt.
Nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ không ít những khó khăn liên quan đến tất cả các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, xã hội. Do vậy, cần nghiên cứu để làm rõ về cơ sở lý luận và tìm ra giải pháp tháo gỡ trong cơ chế tổ chức và thực hiện. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.Nguyễn Ngọc Nông, em tiến hành thực hiện chuyên đề : “Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Dự án Đường vào lối mở Nà Đoỏng, cửa khẩu Trà Lĩnh, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng” 1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án “ Đường vào lối mở Nà Đoỏng, cửa khẩu Trà Lĩnh, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng”.
- Đánh giá ảnh hưởng của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống của người dân trong khu vực giải phóng mặt bằng. - Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại địa phương. - Đề xuất phương án giải quyết có tính khả thi và rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác giải phóng mặt bằng. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI - Nắm chắc Luật đất đai, các Nghị định, Thông tư, các Văn bản Luật, dưới Luật và những văn bản liên quan đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của Nhà nước và của tỉnh Cao Bằng.
- Điều tra, thu thập kết quả của việc giải phóng mặt bằng , từ đó phân tích và nhận xét. - Tài liệu, số liệu đảm bảo chính xác, trung thực, khách quan. - Đề xuất các giải pháp trên cơ sở văn bản pháp quy và những bài học kinh nghiệm đã thu được. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học : - Giúp em củng cố những kiến thức đã học.
- Vận dụng vào thực tế trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng. 3 - Biết thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài góp phần đề xuất các giải pháp để thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ngày càng có hiệu quả hơn. Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, rút ra được kinh nghiệm, xác định được những hạn chế và thuận lợi trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Từ đó, nêu ra biện pháp thúc đẩy công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 2. Khái niệm chung Bồi thường, giải phóng mặt bằng là quá trình đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng (theo Điều 27 của Luật Đất đai năm 2003).[14] Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế.
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã được giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 (theo khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003). [14] Bồi thường là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với diện tích đất bị thu hồi và tài sản có trên diện tích đất đó cho người bị thu hồi đất. Tài sản trên diện tích đất gồm công trình xây dựng trên đất, cây cối, hoa màu trên diện tích đất bị thu hồi (theo khoản 6, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003).[14] Tái định cư là việc Nhà nước bố trí chỗ ở cho các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất đang ở để giao cho người khác sử dụng. Hiện nay có hai hình thức tái định cư: Tái định cư phân tán và tái định cư tập trung.
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một số hình thức như sau: - Bồi thường bằng nhà ở. - Bồi thường bằng giao đất ở mới. - Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở mới. 5 Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng.
Đặc điểm Giải phóng mặt bằng được thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, đều có liên quan tới lợi ích các bên tham gia cũng như lợi ích của xã hội. Đặc điểm của giải phóng mặt bằng là có tính đa dạng và phức tạp. -Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa không hoàn toàn giống nhau và thậm trí mang những đặc thù riêng biệt.Vì vậy, trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên thực tế cũng có những đặc trưng nhất định đối với từng vùng. Đất và tài sản trên đất cũng có tính đa dạng về mục đích sử dụng và về hình thức sở hữu nên khi định giá về công tác bồi thường đó cũng có tính đa dạng cao.
-Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, mà đất đai là một tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn nên tâm lý của người dân là giữ đất để sản xuất và an cư. Do đất hầu hết là được khai phá từ đời ông cha để lại nên người dân không muốn di chuyển đi nơi khác. NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ THỰC HIỆN CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 2.
Các văn bản của Trung ương • Luật : 1. Luật Đất đai 2003 đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003. Luật Đất đai có hiệu lực từ ngày 01/07/2004, thay thế Luật Đất đai 1993 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993. Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất.
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai. Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ, về phương pháp xác định giá đất và khung giá đất các loại.
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về việc bổ sung sửa đổi một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất,giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nghị định 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Thông tư số 69/2006/ TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.