Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công (mã số 62 34 82 01) với đề tài "Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Sỹ Tá thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Chi Mai và GS. Đinh Văn Tiến, bảo vệ năm 2018.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia gắn với Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011–2020 theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 và Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001, cải cách tài chính công là một nội dung trọng tâm. Nhà nước đã ban hành khung pháp lý về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập qua Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
Hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) giữ vị trí phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và chính quyền địa phương (phục vụ đại biểu dự họp Quốc hội, hội nghị Trung ương, HĐND, UBND các cấp), đồng thời kết hợp cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn nghỉ, hội nghị cho khách vãng lai và tổ chức bên ngoài. Trước đây, các nhà khách vận hành thuần túy theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp từ ngân sách nhà nước. Khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, hệ thống nhà khách bộc lộ bốn điểm nghẽn lớn:
- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, viên chức vẫn mang nặng tư duy bao cấp, chưa có ý thức thực hành tiết kiệm.
- Nguồn thu sự nghiệp đã tăng nhưng tỷ trọng chưa cao; chưa có cơ chế hướng dẫn rõ ràng để vay vốn tín dụng hay huy động vốn theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP; việc chuyển đổi mô hình sang doanh nghiệp hoặc ngoài công lập còn thiếu lộ trình cụ thể.
- Bộ máy quản lý tài chính còn mỏng, chuyên môn hạn chế, chưa thích ứng với tính chất hạch toán kinh tế; quy định trích 40% nguồn thu để cải cách tiền lương gây ràng buộc nguồn lực chi tiêu.
- Tình trạng nhà khách được giao tự chủ tài chính nhưng vẫn phải thực hiện nhiệm vụ phục vụ đột xuất theo chỉ đạo hành chính của cơ quan cấp trên mà không được phân bổ kinh phí tương ứng.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Trong khi các công trình trước đây tập trung vào đơn vị sự nghiệp công lập nói chung hoặc các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, thì chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên biệt về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Xây dựng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương theo hướng bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và hệ thống nhà khách cơ quan QLNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính hiện hành tại các nhà khách công vụ từ Trung ương đến địa phương giai đoạn 2004–2015, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm, mục tiêu và hệ thống giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho hệ thống nhà khách giai đoạn tiếp theo.
- Ba câu hỏi nghiên cứu:
- Đâu là cơ sở lý luận làm căn cứ cho việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Việt Nam?
- Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong những năm qua như thế nào?
- Đâu là những giải pháp cơ bản để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong giai đoạn tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống các nhà khách công vụ thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương.
- Khách thể nghiên cứu: Các nhà khách thuộc cơ quan QLNN.
- Phạm vi nội dung: Các quan hệ tài chính, quy trình phân cấp quản lý tài chính, cơ chế tự chủ, lập dự toán, chấp hành, kế toán, quyết toán thu chi và quản lý tài sản tại các nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Phạm vi không gian: Hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và đánh giá dữ liệu từ năm 2004 đến năm 2015, đề xuất giải pháp với tầm nhìn đến năm 2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Trọng tâm phân tích và tiếp cận |
| Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập nói chung |
- Phạm Chí Thanh (Luận án Tiến sĩ) - Lưu Thái Bình (2015) - Mai Thị Thu và nhóm nghiên cứu (2015) - Vương Đình Huệ (2012) - Trần Văn Giao (Chủ nhiệm đề tài) - Cục Quản lý Công sản - Bộ Tài chính (2013) - Yên Thanh (2013), Tấn Lực (2012), Đức Minh (2012), Thúy Hồng (2012), Xuân Vương (2013) |
- Bản chất tài chính ĐVSNCL trong kinh tế thị trường: hạch toán chi phí, cơ chế giá dịch vụ, chuyển đổi từ cấp phát ngân sách sang phương thức Nhà nước đặt hàng/mua dịch vụ. - Đánh giá tác động của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP tới hiệu quả sử dụng nguồn lực và chất lượng dịch vụ công. - Cơ chế quản lý tài sản công, phân cấp tài chính, sắp xếp lại bộ máy tổ chức và huy động nguồn vốn xã hội hóa. |
| Tự chủ tài chính trong các ngành chuyên biệt |
- Giáo dục đại học: Trần Đức Cân (2012), Nguyễn Kim Dung và Trần Quốc Toản (2010), Đề tài cấp Bộ của Trường ĐH Tài chính – Marketing. - Nghiên cứu quốc tế về GDĐH: Hayden và Thiep (2006, 2007). - Khoa học & Công nghệ: Vụ Tài chính HCSN - Bộ Tài chính, Viện Kỹ thuật biển (Đề án 2009), Lưu Đức Tuyên (2016), Bùi Tiến Dũng (2014), Đoàn Trọng Đức (2014). - Y tế: Đề án của Bộ Y tế (2008). |
- Phân tích thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP. - Khảo sát rào cản về cơ chế bộ chủ quản, áp lực tự cân đối chi thường xuyên, chính sách viện phí, học phí, tiền lương và cơ chế khoán kinh phí theo nhiệm vụ khoa học. |
| Kinh nghiệm quốc tế về nhà khách chính phủ |
- Nghiên cứu về mô hình quản lý nhà khách tại các nước như Nga, Trung Quốc và một số quốc gia khác. |
- Quản lý nghiêm ngặt về an ninh, bảo mật, kết hợp phương thức quản lý theo kết quả đầu ra trong khu vực công. |
Vị trí và đóng góp của luận án
Các nghiên cứu trước đây đã cung cấp nền tảng lý luận về tự chủ tài chính công nhưng chưa giải quyết các đặc thù của hệ thống nhà khách cơ quan QLNN: vừa làm nhiệm vụ chính trị - công vụ phi lợi nhuận cho cấp ủy và chính quyền, vừa tham gia hoạt động dịch vụ thương mại trong điều kiện cơ sở vật chất thuộc sở hữu nhà nước. Luận án chọn đúng khoảng trống này để xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất khung giải pháp quản lý tài chính thích ứng cho hệ thống nhà khách.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý luận về dịch vụ công và đơn vị sự nghiệp công lập: Phân biệt 3 loại hình dịch vụ công gồm dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích. Đơn vị sự nghiệp công lập được xác định bởi 6 thuộc tính: do cơ quan nhà nước thành lập; thực hiện nhiệm vụ công ích/sự nghiệp; kinh phí do ngân sách bảo đảm toàn bộ hoặc một phần kết hợp nguồn thu sự nghiệp; tham gia phân phối lại thu nhập; không thực hiện chức năng quản lý nhà nước; có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
- Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP: Chia thành 4 nhóm theo mức độ tự chủ (tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư; tự chủ chi thường xuyên; tự chủ một phần chi thường xuyên; ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư).
- Bản chất cơ chế quản lý tài chính nhà khách: Là tập hợp các nguyên tắc, công cụ và phương pháp quản lý quy định việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm cân bằng giữa mục tiêu chính trị (phục vụ công vụ) và mục tiêu kinh tế (bảo toàn vốn, tăng thu nhập, hạch toán chi phí).
- Đặc điểm tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập: Quyền hạn gắn liền với trách nhiệm; tự chủ tài chính song hành với tự chủ tổ chức bộ máy và nhiệm vụ; tự chủ có giới hạn đặt dưới sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan chủ quản và pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Vận dụng phép biện chứng duy vật với các nguyên tắc toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển; quán triệt các chủ trương của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước về cải cách tài chính công.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát thực tế và phân tích thực trạng: Thu thập số liệu hoạt động, nguồn thu, chi phí, quy chế chi tiêu nội bộ của hệ thống nhà khách từ Trung ương đến địa phương giai đoạn 2004–2015.
- Phân tích, tổng hợp và so sánh: Khái quát hóa lý luận, so sánh quy định giữa các Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP; đối chiếu kinh nghiệm quản lý nhà khách và quản lý theo kết quả đầu ra của một số quốc gia.
- Thống kê mô tả: Phân tích chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2004–2015 để nhận diện xu hướng biến động nguồn thu, cơ cấu chi tiêu và thu nhập người lao động.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia quản lý hành chính, nhà khoa học và cán bộ lãnh đạo quản lý các nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học về quản lý tài chính khu vực công và đơn vị sự nghiệp có thu tại Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2016. Tác giả phân tích các luận điểm then chốt từ các công trình nghiên cứu của Phạm Chí Thanh, Lưu Thái Bình, Trần Đức Cân, Lưu Đức Tuyên, các đề án của Bộ Y tế và Bộ Tài chính.
Nội dung chương khẳng định việc chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính từ cấp phát theo dự toán đầu vào sang giao quyền tự chủ và quản lý theo kết quả đầu ra là xu thế khách quan. Tuy nhiên, các công trình hiện có chưa giải quyết bài toán quản lý tài chính cho hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN – một mô hình vừa mang tính công vụ phục vụ hội nghị nhà nước vừa có hoạt động dịch vụ khách sạn. Từ đó, chương 1 xác lập 3 câu hỏi nghiên cứu làm kim chỉ nam cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam
Chương 2 làm rõ khung lý luận và tính chất đặc thù của hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN với tư cách là một loại hình đơn vị sự nghiệp công lập:
- Khái niệm và phân loại: Nhà khách cơ quan QLNN là cơ sở do cơ quan nhà nước thành lập để phục vụ nhu cầu lưu trú, ăn nghỉ, hội họp của các đoàn công tác, đại biểu Quốc hội, hội nghị Đảng và Nhà nước, không thu tiền đối với khách chính thức theo kế hoạch của cơ quan chủ quản, đồng thời khai thác năng lực dư thừa để phục vụ khách ngoài xã hội. Hệ thống được phân chia theo thẩm quyền quản lý:
- Nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ (ví dụ: Nhà khách 37 Hùng Vương, Nhà khách Tao Đàn, Nhà khách Dinh Độc Lập).
- Nhà khách thuộc các Bộ, ngành (ví dụ: Nhà khách Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Cửa Lò, Nhà khách Bộ Xây dựng tại Vũng Tàu, Nhà khách Bộ Ngoại giao tại Sầm Sơn, Nhà khách Bộ Giao thông Vận tải, Nhà khách Bộ Quốc phòng).
- Nhà khách thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (ví dụ: Nhà khách Tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Bến Tre).
- Sáu đặc thù quản lý của nhà khách cơ quan QLNN:
- Chịu sự chi phối trực tiếp bởi nhiệm vụ chính trị, phục vụ đột xuất của cơ quan chủ quản.
- Nguồn tài chính hình thành từ hai nguồn: ngân sách nhà nước cấp theo nhiệm vụ và nguồn thu dịch vụ ăn nghỉ, cho thuê hội trường.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phần lớn do Nhà nước đầu tư ban đầu từ thời kỳ bao cấp, hiện trạng nhiều nơi xuống cấp cần vốn cải tạo.
- Địa điểm tọa lạc thường ở vị trí trung tâm hành chính, đô thị lớn hoặc khu du lịch.
- Đội ngũ nhân lực hình thành từ nguồn cán bộ, công chức, viên chức được điều chuyển qua các thời kỳ.
- Mô hình tổ chức vận hành chịu sự kiểm soát kép: vừa tuân thủ quy chế hành chính nhà nước, vừa phải đáp ứng yêu cầu cạnh tranh dịch vụ lưu trú trên thị trường.
- Nội dung cơ chế tự chủ tài chính: Phân tích sự tiến triển thể chế qua các mốc pháp lý (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Thông tư số 71/2006/TT-BTC và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP). Làm rõ các quyền tự chủ về nguồn thu, tự chủ quản lý chi tiêu qua quy chế chi tiêu nội bộ, quyền trích lập các quỹ (quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, quỹ khen thưởng, phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập) và quyền huy động vốn.
- Kinh nghiệm quốc tế: Tổng kết mô hình quản lý nhà khách chính phủ tại Nga, Trung Quốc và một số nước; rút ra bài học về áp dụng phương thức quản lý theo kết quả đầu ra, kiểm soát chất lượng dịch vụ công vụ và phân định rõ chi phí công vụ với chi phí kinh doanh dịch vụ.
Chương 3: Thực trạng về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 khảo sát thực tế tình hình tổ chức hoạt động và cơ chế quản lý tài chính của hệ thống nhà khách giai đoạn 2004–2015:
- Quá trình phát triển và kết quả hoạt động: Khái quát mạng lưới nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và 63 tỉnh/thành phố; phân tích kết quả phục vụ nhiệm vụ chính trị và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ bổ trợ.
- Thực trạng các khâu quản lý tài chính:
- Lập dự toán: Dự toán ngân sách cho nhiệm vụ công vụ còn mang tính hình thức, phương pháp lập chủ yếu dựa trên số liệu lịch sử thay vì định mức kinh tế - kỹ thuật theo kết quả đầu ra.
- Chấp hành dự toán và thu chi: Nguồn thu dịch vụ có bước tăng trưởng nhưng cơ cấu chưa ổn định; việc hạch toán chi phí chưa phân định rành mạch giữa chi phí phục vụ nhiệm vụ chính trị do cấp trên giao với chi phí phục vụ hoạt động dịch vụ thương mại.
- Kế toán và quyết toán: Áp dụng chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, chưa phản ánh đầy đủ hao mòn, khấu hao tài sản cố định đối với phần tài sản dùng vào mục đích kinh doanh dịch vụ.
- Đánh giá chung:
- Ưu điểm: Cơ chế tự chủ bước đầu tạo động lực cho các nhà khách chủ động khai thác tài sản, tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, tăng thêm thu nhập cho người lao động, giảm một phần gánh nặng chi từ ngân sách nhà nước.
- Hạn chế: Tự chủ tài chính chưa đồng bộ với tự chủ về biên chế và tổ chức; việc trích lập 40% tăng thu để cải cách tiền lương gây khó khăn cho việc tái đầu tư cơ sở vật chất; nhà khách gặp khó khăn khi huy động vốn liên doanh, liên kết hoặc vay tín dụng do tài sản đất đai gắn với cơ quan hành chính.
- Nguyên nhân: Khung pháp lý chưa có quy định riêng cho loại hình nhà khách công vụ có thu; nhận thức về tự chủ tại các cơ quan chủ quản chưa thống nhất; năng lực quản trị tài chính - kế toán của đội ngũ cán bộ quản lý nhà khách chưa đáp ứng yêu cầu hạch toán kinh doanh.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam
Chương 4 xác định mục tiêu và đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện khung pháp luật: Xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế tự chủ tài chính áp dụng riêng cho hệ thống nhà khách theo tinh thần Nghị định số 16/2015/NĐ-CP; quy định rõ định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá dịch vụ công vụ.
- Đổi mới nhận thức: Chuyển từ tư duy bao cấp, ỷ lại ngân sách sang tư duy quản trị tài chính tự chủ, tự chịu trách nhiệm; nhận thức đúng bản chất hạch toán kinh tế trong đơn vị sự nghiệp công lập.
- Đổi mới phương thức quản lý tài chính: Thực hiện nguyên tắc tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước của cơ quan chủ quản và quyền đại diện chủ sở hữu vốn/tài sản nhà nước; áp dụng phương thức Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ có kèm theo kinh phí tương xứng thay cho mệnh lệnh hành chính không có ngân sách.
- Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ: Chuẩn hóa quy trình xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ với sự tham gia của tập thể người lao động; xây dựng hệ thống định mức chi gắn với kết quả công việc và năng suất lao động.
- Đa dạng hóa các nguồn tài chính: Khai thác các dịch vụ hội nghị, hội thảo, lưu trú cho các tổ chức ngoài nhà nước; nghiên cứu cơ chế liên doanh, liên kết hợp pháp và huy động vốn đầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng theo quy định.
- Hoàn thiện công tác kế toán và quản lý tài sản: Thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí, trích khấu hao tài sản cố định đối với hoạt động dịch vụ; kiểm kê, đánh giá lại giá trị tài sản công do nhà khách quản lý, sử dụng.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nội bộ: Xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa thất thoát nguồn thu, sử dụng lãng phí tài sản công; thực hiện công khai, minh bạch tài chính định kỳ.
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý tài chính: Kiện toàn phòng/bộ phận kế toán - tài vụ, bố trí cán bộ đúng chuyên môn; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý tài chính doanh nghiệp và kế toán sự nghiệp cho đội ngũ quản lý.
- Ứng dụng công nghệ thông tin: Tin học hóa toàn diện quy trình quản lý đặt phòng, dịch vụ ăn uống, thanh toán và phần mềm kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và minh bạch dữ liệu tài chính.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù: Làm rõ bản chất kinh tế - hành chính của nhà khách cơ quan QLNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Làm rõ mối quan hệ giữa chức năng phục vụ nhiệm vụ chính trị (hàng hóa công cộng/dịch vụ công) và hoạt động khai thác dịch vụ thương mại bổ trợ, xác lập cơ sở khoa học cho việc phân định chi phí và phương thức đặt hàng dịch vụ công vụ của Nhà nước.
- Bổ sung luận cứ khoa học hành chính về phân cấp, trao quyền, xác lập giới hạn tự chủ tài chính và cơ chế kiểm soát của cơ quan chủ quản đối với tài sản công tại nhà khách.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phản ánh bức tranh thực trạng quản lý tài chính của mạng lưới nhà khách từ Trung ương (Văn phòng Chính phủ, các Bộ) đến địa phương (UBND cấp tỉnh) giai đoạn 2004–2015 qua hệ thống dữ liệu thực tế.
- Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp mang tính khả thi, cung cấp cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và giúp các nhà khách kiện toàn quy chế chi tiêu nội bộ, quản trị tài sản và bộ máy tài chính kế toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi số liệu: Luận án tập trung phân tích chuỗi dữ liệu thực trạng trong giai đoạn 2004–2015; việc tiếp cận các báo cáo tài chính chi tiết tại một số nhà khách địa phương còn chịu giới hạn do tính chất quản lý nội bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu mô hình chuyển đổi một số nhà khách có đủ điều kiện sang mô hình doanh nghiệp hoặc công ty cổ phần có vốn nhà nước theo các quy định pháp luật mới.
- Nghiên cứu cơ chế định giá và phương thức đấu thầu, đặt hàng dịch vụ lưu trú, hội nghị công vụ khi triển khai toàn diện cơ chế giá thị trường đối với dịch vụ sự nghiệp công.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu phục vụ các đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố): Tham khảo để xây dựng văn bản hướng dẫn cơ chế tự chủ tài chính, tiêu chuẩn định mức chi tiêu công vụ và quản lý tài sản công tại các cơ sở lưu trú trực thuộc.
- Ban Giám đốc và bộ phận tài chính kế toán các nhà khách: Vận dụng các hướng dẫn về quy trình xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý tài sản, kiểm soát chi phí và đa dạng hóa nguồn thu sự nghiệp.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Quản lý hành chính công, Quản lý công và Tài chính công: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu hệ thống nhà khách thuộc những cơ quan quản lý nào?
Luận án nghiên cứu hệ thống các nhà khách công vụ thuộc cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương, bao gồm: các nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ (như Nhà khách 37 Hùng Vương, Nhà khách Tao Đàn, Dinh Độc Lập), các nhà khách thuộc các Bộ quản lý (như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng) và các nhà khách thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Nhà khách cơ quan quản lý nhà nước có những đặc thù quản lý tài chính nào so với khách sạn thương mại?
Khác với khách sạn thương mại vận hành thuần túy nhằm tối đa hóa lợi nhuận, nhà khách cơ quan QLNN phải ưu tiên phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, ăn nghỉ của đại biểu Quốc hội, hội nghị Đảng và Nhà nước; hoạt động dựa trên tài sản nhà nước đầu tư; chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản; chỉ được khai thác dịch vụ thương mại khi còn dư công suất và nguồn thu phải tuân thủ các quy định quản lý tài chính công.
3. Những văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi nào điều chỉnh cơ chế tự chủ tài chính được phân tích trong luận án?
Luận án phân tích hệ thống các văn bản: Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg, Nghị quyết số 30c/NQ-CP, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Thông tư số 71/2006/TT-BTC, Nghị định số 115/2005/NĐ-CP, Nghị định số 54/2016/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
4. Bốn khó khăn thực tế lớn nhất khi nhà khách chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính là gì?
Thứ nhất, tâm lý bao cấp của cán bộ, nhân viên; thứ hai, nguồn thu dịch vụ chưa cao và thiếu cơ chế hướng dẫn rõ ràng về huy động/vay vốn; thứ ba, bộ máy tài chính còn yếu, tư duy cũ và bị ràng buộc bởi quy định trích 40% số tăng thu cho cải cách tiền lương; thứ tư, vẫn phải thực hiện nhiệm vụ công vụ theo phân công của cấp trên mà không được bố trí kinh phí đi kèm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sỹ Tá đã giải quyết một vấn đề cấp thiết trong quản lý hành chính công và tài chính công tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập đặc thù, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động của hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN giai đoạn 2004–2015. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới cơ chế quản lý tài chính, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước trong giai đoạn mới.