Luận văn: Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang

Luận văn phân tích thực trạng và giải pháp chuyển đổi đất nông nghiệp tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, hướng tới phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa.

Chuyên ngành

Quản Lý Đất Đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

119
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp Chiêm Hóa

Chiêm Hóa, một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp. Với tổng diện tích tự nhiên 127.882,10 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 118.722,05 ha (năm 2012), vai trò của đất đai là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy sản xuất còn manh mún, phân tán, chưa hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa quy mô lớn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nghiên cứu chuyển đổi đất nông nghiệp tại Chiêm Hóa. Quá trình này không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu cây trồng, vật nuôi mà còn là một bước chuyển mình chiến lược nhằm khai thác tiềm năng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau chuyển đổi, và thúc đẩy phát triển bền vững tại Chiêm Hóa. Luận văn của Võ Ngọc Hải (2013) đã cung cấp một cơ sở lý luận về chuyển đổi đất vững chắc, phân tích sâu sắc các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quá trình này. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc chuyển đổi phải dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với định hướng phát triển chung của địa phương và đảm bảo lợi ích cho người dân. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, góp phần cải thiện sinh kế của người nông dân và ổn định kinh tế nông hộ. Việc nắm rõ thực trạng chuyển đổi đất nông nghiệp là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để đề ra các giải pháp khả thi, từ đó tạo ra động lực phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới tại một huyện còn nhiều khó khăn như Chiêm Hóa.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất

Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường. Theo đó, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là tài nguyên quý giá cần được sử dụng một cách tối ưu. Chuyển mục đích sử dụng đất là quá trình điều chỉnh lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường. Luận văn nhấn mạnh, quá trình này phải tuân thủ các nguyên tắc: tận dụng lợi thế so sánh, chuyên môn hóa sản xuất, đa dạng hóa cây trồng và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nền tảng để chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung, một xu thế tất yếu trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

1.2. Vai trò của đất đai trong phát triển kinh tế nông hộ Chiêm Hóa

Tại Chiêm Hóa, đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế đối với đa số người dân. Hoạt động kinh tế nông hộ gắn liền với mảnh đất, từ trồng lúa, ngô, lạc đến chăn nuôi gia súc. Hiệu quả sử dụng đất quyết định trực tiếp đến thu nhập và chất lượng cuộc sống của họ. Do đó, việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có tác động kinh tế xã hội sâu sắc. Một kế hoạch chuyển đổi hợp lý sẽ giúp các hộ nông dân tối ưu hóa sản xuất, tăng thu nhập, tạo việc làm và góp phần xóa đói giảm nghèo. Ngược lại, nếu quy hoạch không phù hợp, nó có thể gây ra những xáo trộn tiêu cực, ảnh hưởng đến đời sống người dân.

II. Thách thức khi chuyển đổi đất nông nghiệp và đời sống dân

Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp tại Chiêm Hóa đối mặt với không ít thách thức. Thực trạng sản xuất tại địa phương vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, gây khó khăn cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa. Theo luận văn, diện tích đất canh tác của các hộ gia đình thường phân tán ở nhiều xứ đồng khác nhau, làm tăng chi phí sản xuất và giảm hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, quá trình phát triển công nghiệp, đô thị dẫn đến việc thu hồi đất nông nghiệp, đặc biệt là diện tích đất trồng lúa, để chuyển sang đất phi nông nghiệp. Giai đoạn 2005-2012 chứng kiến sự biến động đáng kể trong cơ cấu sử dụng đất, đặt ra bài toán cân bằng giữa phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực. Vấn đề lớn nhất là ảnh hưởng đến đời sống người dân khi họ mất đi tư liệu sản xuất chính. Các chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp chưa thực sự hiệu quả, khiến sinh kế của người nông dân trở nên bấp bênh. Việc thiếu kỹ năng và nguồn vốn để chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp là rào cản lớn, đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ và quyết liệt từ chính quyền địa phương để quá trình chuyển đổi thực sự mang lại lợi ích bền vững.

2.1. Phân tích biến động sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2005 2012

Số liệu từ luận văn cho thấy giai đoạn 2005-2012 là thời kỳ có sự biến động mạnh mẽ về cơ cấu đất đai tại Chiêm Hóa. Diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm do quá trình chuyển đổi sang đất xây dựng, đất giao thông và các mục đích phi nông nghiệp khác. Cụ thể, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng (từ 15,8% năm 2005 lên 30,5% năm 2010) và giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 57,3% xuống 40,0%). Sự thay đổi này phản ánh xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng cũng là một thách thức lớn đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai.

2.2. Tác động từ việc thu hồi đất đến sinh kế của người nông dân

Việc thu hồi đất nông nghiệp tác động trực tiếp và sâu sắc đến cuộc sống của hàng ngàn hộ dân. Mất đất canh tác đồng nghĩa với việc mất đi nguồn thu nhập chính và ổn định. Dù có các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nhiều nông dân vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới. Luận văn chỉ ra rằng, số tiền đền bù thường không đủ để tạo dựng một sinh kế bền vững khác, trong khi các chương trình đào tạo nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Điều này tạo ra áp lực xã hội, đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng.

III. Phương pháp quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hóa tối ưu

Để giải quyết các thách thức, luận văn đề xuất các phương pháp quy hoạch mang tính chiến lược nhằm tối ưu hóa việc chuyển đổi đất nông nghiệp tại Chiêm Hóa. Trọng tâm của giải pháp là xây dựng quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hóa một cách khoa học và bài bản, hướng tới hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Thay vì sản xuất dàn trải, huyện cần xác định các cây trồng, vật nuôi chủ lực có lợi thế cạnh tranh. Cụ thể, nghiên cứu đề xuất hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn như vùng lúa chất lượng cao tại xã Hòa An, vùng trồng mía nguyên liệu, vùng trồng lạc tập trung tại xã Hòa Phú, và khu trồng chuối tại Kim Bình. Việc chuyển mục đích sử dụng đất trong nội bộ ngành nông nghiệp được ưu tiên, ví dụ như chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn hoặc kết hợp mô hình lúa - cá. Phương pháp này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau chuyển đổi mà còn đảm bảo vấn đề an ninh lương thực thông qua việc thâm canh và áp dụng giống mới. Quy hoạch cần gắn liền với đầu tư cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững tại Chiêm Hóa.

3.1. Định hướng quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng vật nuôi tập trung

Định hướng cốt lõi là phá vỡ thế sản xuất manh mún, hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn. Luận văn dự kiến quy hoạch cụ thể diện tích cho từng loại cây trồng đến năm 2015 và 2020. Ví dụ, dự kiến phát triển vùng lúa chất lượng cao, vùng mía, lạc, chuối và các khu chăn nuôi tập trung. Việc này giúp tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, đồng nhất về chất lượng, dễ dàng áp dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu, từ đó nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp của huyện.

3.2. Mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông sản hàng hóa

Trong quá trình chuyển đổi, việc đảm bảo an ninh lương thực là yêu cầu bắt buộc. Quy hoạch phải xác định rõ những vùng đất trồng lúa cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Đồng thời, áp dụng các biện pháp thâm canh, tăng năng suất trên diện tích hiện có. Song song đó, việc phát triển các sản phẩm hàng hóa khác giúp đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm sự phụ thuộc vào cây lúa, tạo ra một cơ cấu nông nghiệp cân bằng và bền vững hơn, đáp ứng cả nhu cầu tại chỗ và thị trường bên ngoài.

IV. Cách tối ưu chính sách đền bù hỗ trợ và tái định cư

Một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp tại Chiêm Hóa là việc xây dựng và thực thi hiệu quả các chính sách liên quan đến con người. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Chính sách này phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, minh bạch và sát với giá thị trường, giúp người dân bị thu hồi đất có đủ điều kiện để ổn định cuộc sống. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng cần được thực hiện nhanh chóng, đúng quy định pháp luật, tránh gây bức xúc trong nhân dân. Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai phải được nâng cao, đặc biệt trong việc giám sát và thực thi pháp luật, dựa trên nền tảng Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn. Ngoài bồi thường bằng tiền, cần đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ như đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh. Việc xây dựng các khu tái định cư phải đi kèm với hạ tầng xã hội đồng bộ (điện, đường, trường, trạm) để người dân sớm hòa nhập với nơi ở mới. Đây là những giải pháp quản lý đất đai vừa mang tính kinh tế, vừa có ý nghĩa xã hội sâu sắc, đảm bảo quá trình phát triển không để ai bị bỏ lại phía sau.

4.1. Tăng cường quản lý nhà nước về đất đai theo quy định pháp luật

Để chính sách đi vào cuộc sống, cần tăng cường năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về đất đai từ cấp huyện đến cấp xã. Cán bộ địa chính cần được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ. Công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất, việc thực hiện quy hoạch và các dự án thu hồi đất nông nghiệp phải được tiến hành thường xuyên. Việc áp dụng các quy định của Luật Đất đai 2013 một cách nghiêm túc sẽ giúp hạn chế tiêu cực, tham nhũng và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.

4.2. Xây dựng cơ chế đền bù và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp thực chất

Cơ chế đền bù cần được xây dựng một cách khoa học, dựa trên việc khảo sát giá đất thực tế trên thị trường. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp phải được thiết kế dựa trên nhu cầu và năng lực của người lao động cũng như tiềm năng phát triển của địa phương. Cần có sự liên kết chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo để đảm bảo đầu ra cho lao động sau khi được đào tạo, giúp họ thực sự có được sinh kế của người nông dân một cách bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Đất đai và vai trò của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp 1.1 Khái niệm về đất đai và đất nông nghiệp 1.1 Khái niệm về đất đai Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Đất đai là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hóa khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai.

Luật đất đai hiện hành đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người. Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết.

Về mặt thuật ngữ khoa học “Đất” và “Đất đai” có sự phân biệt nhất định. Theo các nhà khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó. Còn “Đất đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Giả thuyết Trái đất được hình thành như thế nào và có từ bao giờ cũng là vấn đề con người đã từng dày công nghiên cứu.

Sự sống xuất hiện trên Trái đất và tác động vào nó là một quá trình tiến hóa không ngừng. Theo nghĩa hẹp hơn, từ khi có sự xuất hiện của con người, con người cùng với sự tiến hóa của mình cũng không ngừng tác động vào đất (chủ yếu là lớp vỏ địa lý) và làm thay đổi nó một cách nhất 5 định. Theo tiến trình này, con người cũng nhận thức về đất đai một cách đầy đủ hơn. Ví dụ: “Đất đai là một tổng thể vật chất gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”; hoặc: “Một vạt đất là một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất.

Xét về mặt địa lý, có những đặc tính tương đối ổn định hoặc những tính chất biến đổi theo chu kỳ có thể dựa đoán được của sinh quyển theo chiều thẳng đứng phía trên và phía dưới của phần mặt đất này. Nó bao gồm các đặc tính của phần không khí, thổ nhưỡng địa chất, thủy văn, cây cối, động vật sinh sống trên đó và tất cả các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người ở chừng mực mà những đặc tính đó có ảnh hưởng tới sử dụng vạt đất này trước mắt và trong tương lai” (Brink man và Smyth, 1976). Tuy nhiên, khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.

Khái niệm về đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp; đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng, đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp. 6 Từ định nghĩa trên chúng ta có thể chia đất nông nghiệp thành những loại sau: - Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm (các loại cây có thời gian canh tác dưới 1 năm). - Đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (có thời gian sinh trưởng và tồn tại từ 1 năm trở lên). - Đất đồng cỏ và đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi.

- Đất có mặt nước sử dụng vào mục đích nông nghiệp là đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản: Nuôi tôm, cá, cua, ếch, ba ba, rùa và các loại động vật thủy sản khác. - Rừng đặc dụng. - Rừng sản xuất. - Rừng phòng hộ đầu nguồn.2 Vai trò của đất đai trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động.

Trong quá trình lao động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao động của con người. Đất đai có thể được coi như một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp. Đối với sản xuất nông nghiệp đất đai vừa là cơ sở nền móng, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm nông nghiệp.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu. Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục.

7 Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Chú ý đầu tư có trọng điểm để tạo ra các vùng kinh tế làm động lực lôi cuốn nhưng không lãng quên đầu tư diện rộng nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư.2 Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 1.1 Khái niệm, cơ sở khoa học về nông nghiệp Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà). Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi.

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển và nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng: * Nông nhiệp thuần nông hay nông nhiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai.

* Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc 8 trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lại tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi.

Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay làm thức ăn cho các con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh học, ethanol.), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine. Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp. Các sản phẩm sinh hóa nông nghiệp gồm các hóa chất để lai tạo, gây giống, các chất trừ sâu, diệt cỏ, diêt nấm, phân đạm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ