Luận văn ThS. Nguyễn Thị Thanh Hòa: Chính sách người có công huyện Minh Long

Luận văn phân tích thực trạng, giải pháp thực hiện chính sách người có công tại huyện Minh Long, Quảng Ngãi. Nâng cao hiệu quả quản lý công.

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

115
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách người có công huyện Minh Long Quảng Ngãi

Chính sách người có công là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hệ thống pháp luật về ưu đãi người có công bao gồm Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và các nghị định hướng dẫn thi hành. Đối tượng thụ hưởng bao gồm liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng. Chế độ ưu đãi涵盖多个生活方面,包括津贴、医疗保健、住房和社会保障。Huyện Minh Long nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi, là địa phương miền núi có nhiều gia đình chính sách. Công tác thực hiện chính sách người có công tại huyện luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo. Quá trình triển khai chính sách trải qua nhiều giai đoạn, từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp đến công cuộc đổi mới ngày nay.

1.1. Khái niệm người có công và chính sách ưu đãi

Người có công với cách mạng là những cá nhân có đóng góp, hy sinh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Khái niệm này được quy định cụ thể trong Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Chính sách ưu đãi bao gồm trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, hỗ trợ nhà ở, giáo dục và đào tạo nghề. Mục tiêu nhằm đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công và thân nhân. Hệ thống chính sách này thể hiện đạo lý 'Uống nước nhớ nguồn' của dân tộc.

1.2. Bối cảnh lịch sử và địa lý huyện Minh Long

Huyện Minh Long là huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ngãi. Địa hình chủ yếu là đồi núi, giao thông đi lại khó khăn. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Minh Long đã đóng góp nhiều công sức, xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhiều gia đình có người hy sinh, mất tích, bị thương trong chiến tranh. Sau ngày giải phóng, huyện面临着艰巨的重建和发展任务。Điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn ảnh hưởng đến việc triển khai chính sách người có công.

II. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách người có công tại Minh Long

Quá trình thực hiện chính sách người có công tại huyện Minh Long trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Giai đoạn 1947-1954, chính sách tập trung vào công tác thương binh, liệt sĩ theo Sắc lệnh số 20/SL. Từ năm 1955 đến 1975, phạm vi đối tượng được mở rộng, chế độ ưu đãi逐步完善. Sau năm 1975, hệ thống pháp luật逐步形成和完善。Giai đoạn 1986-1999, huyện đã quy tập được 170 hài cốt liệt sĩ, lập hồ sơ công nhận 17 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Thực hiện chế độ cho 626 đối tượng chính sách. Phong trào 'Đền ơn, đáp nghĩa' được đẩy mạnh với nhiều hoạt động ý nghĩa. Nhân dân đóng góp xây dựng quỹ tình nghĩa hàng chục triệu đồng mỗi năm. Năm 1997, huyện huy động được 31.000 đồng tặng quà gia đình chính sách. Tuy nhiên, công tác triển khai仍面临诸多挑战。

2.1. Kết quả đạt được trong thực hiện chính sách

Công tác thực hiện chính sách người có công tại huyện Minh Long đạt được许多积极成果。Hệ thống hồ sơ, sổ sách逐步规范化和现代化。Các đối tượng chính sách được hưởng đầy đủ chế độ trợ cấp, bảo hiểm y tế. Công tác quy tập hài cốt liệt sĩ được推进,nhiều gia đình tìm được hài cốt người thân。Phong trào xây dựng nhà tình nghĩa phát triển mạnh với 39 căn nhà được xây dựng. Công tác giáo dục truyền thống được注重,tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27/7. Đời sống vật chất, tinh thần của người có công逐步改善。

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong triển khai chính sách

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác thực hiện chính sách vẫn tồn tại一些不足之处。Tỷ lệ hồ sơ giải quyết chậm vẫn còn xảy ra ở một số xã。Công tác rà soát, thống kê đối tượng chưa彻底和全面。Năng lực cán bộ làm công tác người có công ở cơ sở chưa đồng đều。Kinh phí分配和使用有时不够及时。Nguyên nhân主要包括:địa hình miền núi đi lại khó khăn,dân cư分散。Nhận thức của một số cán bộ và nhân dân về政策还有限。Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác còn thiếu thốn。Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp有时不够紧密。

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách người có công huyện Minh Long

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách người có công tại huyện Minh Long, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết,加强领导指导,提高各级党委、政府对优抚工作的认识。Thứ hai, hoàn thiện hệ thống tổ chức, kiện toàn đội ngũ cán bộ chuyên trách.第三,加强政策宣传,提高群众对优抚政策的认知。第四,推进信息化建设,应用现代技术管理优抚对象档案。第五,增加经费投入,确保及时足额发放补助。第六,加强监督检查,确保政策执行的透明度和公正性。第七,动员社会力量参与,弘扬'Đền ơn đáp nghĩa'传统。第八,加强与其他部门的协调配合,形成工作合力。这些措施需要长期坚持和不断完善。

3.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý và đào tạo cán bộ

Hoàn thiện cơ chế quản lý là giải pháp then chốt để提升政策执行效率。Cần建立和完善分级管理制度,明确各级职责分工。加强业务培训,提高 cán bộ chuyên trách的专业素质和工作能力。组织学习交流,推广先进经验和做法。建立健全考核评价机制,将政策执行情况纳入干部考核内容。同时,注重培养年轻 cán bộ,确保工作的连续性和稳定性。加强与民政部门、退役军人事务部门的协调配合,形成工作合力。定期召开会议,总结经验,解决问题。

3.2. Nâng cao nhận thức và huy động nguồn lực xã hội

Nâng cao nhận thức cộng đồng是做好优抚工作的重要基础。通过多种渠道加强政策宣传,如广播、电视、报纸、宣传栏等。组织社区活动,增强群众对优抚政策的理解和支持。弘扬拥军优属传统,表彰先进典型。动员企业、社会组织和个人参与优抚工作,拓宽资金来源渠道。建立和完善社会捐助机制,规范管理使用社会捐赠。发展志愿服务,为优抚对象提供生活照料、精神慰藉等服务。鼓励优抚对象发扬传统,积极参与社会发展。

IV. Kết luận và hướng phát triển chính sách người có công Minh Long

Chính sách người có công huyện Minh Long, Quảng Ngãi đã取得了重要成绩,体现了党和国家对革命功臣的关怀。Qua các giai đoạn phát triển, hệ thống chính sách逐步完善,覆盖面不断扩大。Phong trào 'Đền ơn, đáp nghĩa'已成为全社会的自觉行动。然而,面对新形势新任务,công tác này仍需要不断改进和完善。未来发展方向包括:推进数字化转型,应用大数据、人工智能技术提高管理效率。加强政策研究,适应社会发展需要调整完善制度。深化国际合作,学习借鉴国外经验。提高服务质量,从被动保障转向主动服务。加强法治建设,确保政策执行的规范化和制度化。Bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người có công,让他们共享发展成果。

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai

Quá trình thực hiện chính sách tại Minh Long rút ra许多宝贵经验。Sự quan tâm领导重视是成功的关键。Cần có kế hoạch triển khai具体明确,分步实施。Huy động sự参与 của toàn社会,形成合力。注重检查监督,及时发现和解决问题。加强宣传教育,提高群众认识。发挥榜样作用,表彰先进典型。建立长效机制,确保工作的持续性和稳定性。这些经验不仅适用于优抚工作,也为其他政策的实施提供了借鉴。

4.2. Định hướng phát triển trong thời kỳ mới

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,chính sách người có công cần适应新的发展要求。Đẩy mạnh chuyển đổi số,ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý。Nâng cao chất lượng dịch vụ công,简化手续,方便群众。Mở rộng đối tượng thụ hưởng,逐步提高补助标准。加强精神关怀,关注优抚对象的心理健康需求。Phát triển mô hình帮扶多元化,从物质救助转向综合扶持。Thúc đẩy社会融入,帮助优抚对象及其家属实现脱贫致富。这些定向发展将为政策的有效实施提供新的动力。

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

17/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý công thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện minh long tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG Việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách người có công có nội dung rộng, nhiều loại đối tượng thụ hưởng khác nhau, điều kiện, tiêu chuẩn xác nhận đối tượng khác nhau. Trong luận văn này, tác giả chọn một số vấn đề cơ bản lý luận để nghiên cứu, luận giải làm sáng tỏ quy định về tổ chức thực hiện chính sách người có công ở nước ta hiện nay, đó là: quan niệm về người có công, ưu đãi người có công, chính sách về người có công, quản lý nhà nước về công tác người có công, khái quát tóm tắt thực hiện chính sách người có công. Khái niệm người có công, ưu đãi người có công và một số khái niệm khác có liên quan 1. Khái niệm người có công Mặt dù thực hiện công tác đối với người có công đã lâu, nhưng cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm “người có công”.

Tuy nhiên, căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là người có công mà Nhà nước đã quy định, trong một số công trình đã nêu khái niệm “người có công” theo 2 nghĩa sau: Hiểu theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo qui định của pháp luật”. Ở khái niệm này, người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp 10 cách mạng. Hiểu theo nghĩa rộng: “Người có công là những người thuộc một dân tộc nào đó, tự nguyện hiến dân cuộc đời mình cho đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nước. Người có công gồm những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước.

Họ có những đóng góp cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật”. Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản của người có công, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao,. Theo cách hiểu này, thì người có công không chỉ là người có công với cách mạng mà còn là các đối tượng khác như anh hùng lao động, nghệ sĩ Nhân dân, nhà giáo Nhân dân,.

Từ cách hiểu trên, có thể rút ra một số đặc điểm của người có công như sau: Thứ nhất, người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Thứ hai, người có công là người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thứ ba, đối tượng người có công là những người có công trong các cuộc 11 chiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam được quy định tại Pháp lênh ưu đãi người có công với cách mạng. Khái niệm ưu đãi xã hội và ưu đãi người có công Việt Nam trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, bên cạnh việc đẩy mạnh về kinh tế thì Việt Nam cũng quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo ổn định xã hội trong đó chăm lo đến lực lượng lớn những người đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, bảo vệ tổ quốc là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Có thể nói ưu đãi xã hội là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của Đảng và nhà nước ta, nó không những thể hiện trách nhiệm của các cấp các ngành mà còn phản ánh truyền thống đạo lý cao đẹp của Nhân dân ta đối với những người có công đóng góp cho đất nước. Dưới góc độ kinh tế: Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ về mặt vật chất cũng như tinh thần đối với những người có công. Dưới góc độ pháp lý: Ưu đãi xã hội là hệ thống các quy định của nhà nước về các hình thức, nội dung, biện pháp chăm sóc, đãi ngộ và đảm bảo điều kiện vật chất và tin thần của những người hoạt động cách mạng, liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, những người hoạt động kháng chiến, người có công. Vì vậy, có thể cho rằng “Ưu đãi xã hội được hiểu là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, đãi ngộ đặt biệt, ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần đối với một số người có công lao đặc biệt đối với đất nước và đang gặp khó khăn trong cuộc sống” [Phạm Xuân Nam: Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 1997].

Mục tiêu của ưu đãi xã hội: Là ghi nhận, đầu tư tái sản xuất ra những giá 12 trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, thể hiện ở việc: Ghi nhận và tri ân những cá nhân, tập thể có những cống hiến đặc biệt cho cộng đồng, xã hội; tạo ra công bằng xã hội; tái sản xuất ra những giá trị tinh thần cao đẹp, giữ gìn truyền thống cao đẹp của dân tộc; đảm bảo ổn định cho thể chế đất nước, từ chổ có chính sách thích hợp mọi người mới có thể an tâm về gia đình của mình, sẳn sàng hi sinh cho sự nghiệp của đất nước. Thực hiện tốt ưu đãi xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và tiến tới xây dựng một xã hội phồn thịnh, ấm no, hạnh phúc. Quan điểm của ưu đãi xã hội: Là hệ thống chính sách quan trọng đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội, trong việc tái sản xuất ra giá trị tinh thần của thế hệ sau, giữ gìn chính trị và truyền thống đạo đức; là hệ thống chính sách tái sản xuất ra giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, giúp thế hện trẻ thấy được công lao của thế hệ đi trước, từ đó tự hào về dân tộc và cố gắn pháp huy truyền thống ấy, gia đình người có công yên tâm trong sản xuất, tin tưởng hơn về thể chế chính trị, giáo dục trách nhiệm của mọi công dân đối với xã hội và đất nước. Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội gồm: những người có cống hiến đặc biệt trong công cuộc bảo vệ tổ quốc; những người có cống hiến đặc biệt trong quá trình xây dựng đất nước như: giáo sư, bác sĩ, anh hùng lao động, .Ưu đãi xã hội được áp dụng đối với mọ công dân, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế.

Ưu đãi người có công có thể hiểu là trách nhiệm của nhà nước thông qua việc xây dựng những hệ thống chính sách cụ thể về sự ưu tiên và cơ chế thực hiện sự ưu tiên đó. Vận động mọi người dân, các tổ chức chính trị - xã hội với truyền thống tốt đẹp sẵn có, tổ chức các phong trào, đóng góp công sức để tạo cơ sở vật chất cho sự ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Người có công được cộng đồng được cộng đồng danh cho họ sự ưu đãi cụ thể thông qua công 13 tác đối với người có công trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Đây là sự thể hiện trách nhiệm của nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, được ưu tiên hơn mức bình thường, đó có thể là sự ưu tiên về đời sống vật chất, văn hóa hay đời sống tinh thần.

Ưu đãi người có công là sự “đền ơn đáp nghĩa” của cộng đồng, là sự phản ánh trách nhiệm của nhà nước, là sự đãi ngộ, ưu tiên đặc biệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với những công dân có nhiều hy sinh, cống hiến đối với đất nước nhằm tạo mọi điều kiện, khả năng góp phần ổn định và nâng cao đời sống. Khái niệm quản lý nhà nước về người có công Quản lý là hoạt động có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và có sự phối hợp hành động. Bản thân khai niệm Quản lý mang tính đa nghĩa có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau.

Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hóa sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người, xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưu ra nhiều cách giải thích khác nhau về quản lý. Các trường phái quản lý học đã đưa ra định nghĩa về quản lý như sau: Theo F.W Taylor (1856-1915) cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo Henrry Faylor (1888-1925) cho rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. 14 Từ các quan điểm trên có thể đi đến một khái niệm tổng quát như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ