Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Triết học của tác giả Vũ Thị Luyến (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Khoa Giáo dục Chính trị, năm 2019, người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hồng Loan) tập trung giải quyết bài toán lý luận và thực tiễn về công tác quản lý, duy trì và phát triển di sản văn hóa làng nghề truyền thống tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

Về bối cảnh thực tiễn, Phú Xuyên nằm ở phía Nam Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng đất cổ xứ Đoài và trấn Sơn Nam xưa, nơi lưu giữ bề dày lịch sử - văn hóa gắn liền với nông nghiệp và các ngành nghề thủ công. Theo Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội năm 2016, huyện có ít nhất 15 làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu, bao gồm mây tre đan Phú Túc, khảm trai Chuyên Mỹ, sơn mài Bối Khê, may comple veston Vân Từ, nặn tò he Xuân La, da giầy Phú Yên, mộc Đại Nghiệp và Đồng Phố (xã Tân Dân), thêu Đại Đồng, bánh kẹo Cổ Hoàng. Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế, các làng nghề tại địa phương có bước phát triển về quy mô sản xuất, số lượng và chủng loại sản phẩm. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng lại đi kèm hiện tượng mai một các giá trị văn hóa cốt lõi, cạnh tranh thương mại thiếu lành mạnh, rạn nứt các mối quan hệ làng xã truyền thống và suy giảm số hộ gia đình theo nghề. Trước nghịch lý này, đề tài được thực hiện nhằm phân tích thực trạng và tìm kiếm giải pháp đồng bộ.

Về mục tiêu nghiên cứu, khóa luận hướng tới việc làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng các giá trị của làng nghề truyền thống tại huyện Phú Xuyên, từ đó đề xuất hệ thống các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy những giá trị này trong giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác lập 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Một là, nghiên cứu lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
  2. Hai là, nghiên cứu thực trạng các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của thực trạng.
  3. Ba là, đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Các giá trị văn hóa, giá trị lịch sử và giá trị kinh tế của các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn khảo sát thực tế tại một số làng nghề truyền thống thuộc huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát, thu thập dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018 (có cập nhật các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đến đầu năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm, quan điểm triết học và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành:

  • Khái niệm bảo tồn: Văn bản phân tích ba quan điểm tiếp cận chính. Thứ nhất là quan điểm bảo tồn nguyên vẹn (như phân tích của Nguyễn Thị Mỹ Liêm về việc giữ lại không để bị mất đi hay biến dạng). Thứ hai là quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa theo nhà nghiên cứu Ashworth (lựa chọn yếu tố phù hợp với chức năng và môi trường xã hội đương đại). Thứ ba là quan điểm bảo tồn để phát triển, nhấn mạnh việc đưa di sản hòa nhập vào đời sống đương đại, chấp nhận sự biến đổi nhất định nhưng cần kiểm soát nguy cơ thương mại hóa hoặc tầm thường hóa di sản.
  • Khái niệm phát huy: Được xác định là hành động hướng đích nhằm đưa sản phẩm và giá trị văn hóa vào thực tiễn đời sống, chuyển hóa thành tiềm năng và nội lực thúc đẩy kinh tế - xã hội, trên cơ sở sàng lọc và làm giàu bản sắc qua giao lưu văn hóa.
  • Khái niệm giá trị: Tiếp cận từ góc độ triết học và khoa học xã hội, trích dẫn quan điểm của Stephen Pepper (1958) về các hình thái định hướng lựa chọn; khái niệm văn hóa của UNESCO tại Hội nghị Mexico (1982); định nghĩa văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII coi văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu và động lực phát triển.
  • Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống: Tổng hợp định nghĩa của các nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, Bùi Văn Vượng, Lưu Tuyết Vân, Trương Minh Hằng, Phạm Côn Sơn; đối chiếu cơ sở pháp lý tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn và Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/2/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống (yêu cầu đạt tối thiểu 30% số hộ hoặc 50% số lao động làm nghề; tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tối thiểu 50%; thời gian hoạt động ổn định tối thiểu 2 năm liên tục).
  • Nguyên tắc kế thừa truyền thống: Dựa trên quan điểm biện chứng với bốn yêu cầu: loại bỏ yếu tố tiêu cực; giữ lại yếu tố tích cực; cải biến yếu tố tích cực cho phù hợp hoàn cảnh mới; sáng tạo thêm các yếu tố hoàn toàn mới.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: Khảo sát diện mạo, cảnh quan làng nghề, các di tích kiến trúc, hoạt động lễ hội, quy trình kỹ thuật và cơ sở sản xuất tại các xã Chuyên Mỹ, Phú Túc, Phú Yên, Tân Dân, Phượng Dực.
  • Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn cán bộ quản lý huyện Phú Xuyên, chính quyền cơ sở, các nghệ nhân, thợ thủ công, học viên học nghề và khách tham quan.
  • Phương pháp lôgic - lịch sử kết hợp phân tích - tổng hợp, so sánh: Khai thác hệ thống tài liệu từ sách chuyên khảo (Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo, Mai Thế Hởn), bài báo tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Di sản văn hóa, Tạp chí Bộ Xây dựng), các báo cáo của Huyện ủy và UBND huyện Phú Xuyên giai đoạn 2008–2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

Chương này xây dựng khung lý luận làm cơ sở đánh giá thực tiễn. Tác giả phân tích nội hàm các khái niệm: bảo tồn, phát huy, giá trị, làng nghề, truyền thống và làng nghề truyền thống. Trên cơ sở đó, luận án phân loại các giá trị cốt lõi của làng nghề Phú Xuyên thành ba nhóm:

  • Giá trị văn hóa: Biểu hiện qua tri thức dân gian, kỹ năng nghề thủ công tinh xảo, phong tục tập quán, hương ước làng nghề, tín ngưỡng thờ tổ nghề và các lễ hội truyền thống (lễ hội Mai Trang xã Minh Tân, lễ hội tò he thôn Xuân La, hội mây tre đan Phú Túc).
  • Giá trị lịch sử: Sự hình thành lâu đời của các nghề thủ công (khảm trai Chuyên Mỹ có từ thế kỷ XI, tò he Xuân La khoảng 300 năm); dấu ấn lịch sử qua hệ thống di tích thờ thành hoàng, tổ nghề và nhân vật lịch sử thời Đinh, thời Lê.
  • Giá trị kinh tế: Giải quyết việc làm tại chỗ, tận dụng thời gian nông nhàn, tăng thu nhập cho cư dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Bên cạnh việc khẳng định sự cần thiết phải bảo tồn di sản làng nghề, chương 1 đi sâu phân tích 5 nhóm yếu tố chủ yếu tác động đến công tác này:

  1. Hệ thống văn bản, chủ trương, chính sách quản lý kinh tế và văn hóa của Nhà nước (từ chính sách kinh tế hộ theo Nghị quyết 10 năm 1988 đến các cơ chế thị trường sau năm 1990).
  2. Sự nhận thức, đạo đức nghề nghiệp và trình độ tay nghề của người thợ thủ công (đặc biệt là việc giữ gìn "chữ tín" trong kinh doanh theo quy định hương ước).
  3. Chất lượng cơ sở hạ tầng (giao thông vận tải, nguồn điện, nước sản xuất, hạ tầng thông tin truyền thông).
  4. Các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất: Nguồn vốn đầu tư (vốn tự có của hộ sản xuất chiếm trên 90%, khó tiếp cận tín dụng chính thức) và nguồn nguyên vật liệu (nguyên liệu tự nhiên trong nước và nguyên liệu nhập khẩu như trai, ốc từ Trung Quốc).
  5. Phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa gia tộc và phương thức trao truyền nghề theo lối cha truyền con nối.

Chương 2: Thực trạng một số giá trị cần được bảo tồn và phát huy của các làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của thực trạng

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và diện mạo làng nghề Phú Xuyên:

  • Điều kiện địa lý và hạ tầng: Huyện có diện tích tự nhiên 17.104,6 ha; trong đó đất canh tác trồng trọt chiếm 66,24% (11.329,9 ha), đất ở chiếm 6,95% (1.120,9 ha), đất chuyên dùng chiếm 18,92% (3.235,9 ha). Huyện có hơn 30 km sông chảy qua (sông Hồng, sông Nhuệ, sông Duy Tiên, sông Lương, sông Vân Đình); mạng lưới giao thông gồm 12 km đường sắt Bắc - Nam, 17 km đường thủy sông Hồng, 12 km Quốc lộ 1A và 7 km cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ. Dân số huyện xấp xỉ 20 vạn người, với 60% lao động thuộc khu vực nông nghiệp, mỗi năm bổ sung thêm khoảng 2.000 lao động.
  • Thực trạng các giá trị kinh tế và mạng lưới sản xuất: 100% làng và cụm dân cư của huyện (156/156) có nghề, trong đó có 78 làng nghề duy trì và phát triển mạnh. UBND thành phố Hà Nội đã công nhận 40 làng nghề truyền thống (năm 2017) và nâng lên 43 làng (tính đến giữa năm 2018), đưa Phú Xuyên xếp thứ 3/30 quận, huyện của Hà Nội về số lượng làng có nghề.
  • Thực trạng giá trị lịch sử và di sản: Toàn huyện có 413 di tích lịch sử - văn hóa; trong đó 112 di tích đã được xếp hạng (38 di tích cấp quốc gia, 74 di tích cấp thành phố). Đáng chú ý có đình Giẽ Hạ (xây dựng năm 1686, niên hiệu Chính Hòa), bia chùa Diên Phúc, 4 bia đá thời Lê, đình Mai Xá và đình Sảo Thượng (xã Quang Lãng) thờ tướng lĩnh thời Đinh. Huyện cũng là quê hương của 9 vị tướng lĩnh quân đội và các nhân sĩ trí thức (Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Khoan).
  • Thực trạng suy thoái văn hóa và sự suy giảm hộ làm nghề: Tác giả chỉ ra mặt trái của kinh tế thị trường đã làm phai nhạt tình làng nghĩa xóm, nảy sinh cạnh tranh không lành mạnh giữa các hộ sản xuất. Tỷ lệ hộ làm nghề tại nhiều làng nghề truyền thống sụt giảm rõ rệt:
Tên làng nghề / Thôn Ngành nghề truyền thống Tỷ lệ hộ làm nghề giai đoạn trước (2002–2010) Tỷ lệ hộ làm nghề giai đoạn 2015–2019 Mức độ suy giảm
Thôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ) Khảm trai truyền thống > 95% ~ 70% Giảm > 25%
Thôn Thao Nội (xã Sơn Hà) Đan võng 90% 65% Giảm 25%
Thôn Thao Ngoại (xã Sơn Hà) Đan tơ lưới Tỷ trọng cao Giảm mạnh Không còn phát triển mạnh
  • Nguyên nhân của thực trạng: Bao gồm nguyên nhân khách quan (tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, áp lực đô thị hóa, chi phí nguyên liệu biến động) và nguyên nhân chủ quan (nhận thức của người dân về giá trị di sản còn hạn chế; tâm lý chạy theo lợi ích vật chất trước mắt; hạ tầng sản xuất ô nhiễm; thiếu hụt nguồn vốn đầu tư công nghệ và chính sách hỗ trợ làng nghề chưa đồng bộ).

Chương 3: Một số nguyên tắc và biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Dựa trên kết quả khảo sát, chương 3 đề xuất định hướng can thiệp gồm các nguyên tắc chỉ đạo và giải pháp cụ thể:

  • Các nguyên tắc đề xuất: Tuân thủ nguyên tắc kế thừa biện chứng (bảo tồn đi đôi với đổi mới, không rập khuôn bảo thủ); nguyên tắc toàn diện (kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái và bảo lưu không gian văn hóa di sản); nguyên tắc phát triển bền vững dựa trên năng lực nội sinh của cộng đồng làng nghề.
  • Các nhóm biện pháp chủ yếu:
    1. Hoàn thiện quy hoạch không gian làng nghề: Đẩy nhanh tiến độ các cụm công nghiệp làng nghề (như khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội gần 80 ha, cụm công nghiệp tại Đại Thắng, Phú Túc, Phú Yên và triển khai quy hoạch 19 cụm công nghiệp làng nghề trên 227,78 ha tại 11 xã) nhằm di dời các khâu sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư.
    2. Hỗ trợ vốn và công nghệ: Mở rộng các kênh tín dụng ưu đãi từ ngân hàng chính sách và quỹ khuyến công; giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ các cơ sở đổi mới máy móc trang thiết bị ở những công đoạn nặng nhọc nhưng vẫn bảo tồn kỹ thuật thủ công tinh xảo.
    3. Xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại gắn với du lịch: Đẩy mạnh Chương trình số 05-CTr/HU của Huyện ủy về phát triển làng nghề gắn với du lịch giai đoạn 2015–2020; hình thành các tour tuyến tham quan cảnh quan, di tích và trải nghiệm quy trình sản xuất thủ công; duy trì định kỳ Lễ hội vinh danh làng nghề truyền thống huyện vào ngày 26/10 hàng năm.
    4. Đào tạo nhân lực và tôn vinh nghệ nhân: Khuyến khích cơ chế truyền nghề qua hệ thống trường Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề trên địa bàn huyện; thiết lập chính sách đãi ngộ, phong tặng danh hiệu nghệ nhân, ghi nhận công lao của các thợ giỏi vào hương ước và lịch sử địa phương.
    5. Nâng cao nhận thức cộng đồng và bảo vệ môi trường: Tăng cường giáo dục truyền thống, văn hóa ứng xử kinh doanh văn minh trong các tổ chức phường hội; xây dựng hệ thống xử lý nước thải, rác thải tại các làng nghề sản xuất khảm trai, da giầy, mộc mỹ nghệ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng cụ thể phản ánh thực trạng phát triển kinh tế làng nghề tại huyện Phú Xuyên:

Chỉ tiêu kinh tế - xã hội Số liệu ghi nhận trong văn bản
Số lượng làng, cụm dân cư có nghề 156 / 156 (đạt tỷ lệ 100%)
Số làng nghề duy trì và phát triển mạnh 78 làng nghề
Số làng được UBND TP Hà Nội công nhận làng nghề truyền thống 40 làng (năm 2017) / 43 làng (đến giữa năm 2018)
Tổng số hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp (năm 2017) 24.500 hộ
Lực lượng lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp (năm 2017) 39.939 người (chiếm 37,3% tổng lao động)
Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề (năm 2017) Ước đạt 4.550 tỷ đồng
Thu nhập bình quân của lao động làm nghề (năm 2017) 52 triệu đồng/người/năm
Số lượng doanh nghiệp, công ty tại làng nghề 385 doanh nghiệp (theo số liệu năm 2017) / 497 doanh nghiệp (số liệu cập nhật 2018)
Hợp tác xã công nghiệp và hiệp hội ngành nghề 06 HTX công nghiệp, 08 quỹ tín dụng, 03 hiệp hội sản xuất kinh doanh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn huyện (2008–2017) 5,36%/năm (giá trị sản xuất 2017 gấp 5,56 lần năm 2008)
Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong cơ cấu kinh tế Tăng từ 51% (năm 2008) lên 66,05% (năm 2017)
Lượng khách du lịch đến làng nghề (từ năm 2016 đến 2018) Trên 300 đoàn khách trong và ngoài nước (gần 6.000 lượt người)

Về đóng góp khoa học, tác giả tự chỉ ra rằng trước thời điểm khóa luận thực hiện, các ấn phẩm về làng nghề Phú Xuyên chủ yếu là các bài viết giới thiệu, quảng bá mang tính rời rạc trên báo chí và tạp chí ngành, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện việc bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề dưới lăng kính triết học văn hóa. Đóng góp nổi bật của đề tài là việc vận dụng quan điểm toàn diện của triết học để phân tích đồng thời ba mặt giá trị (kinh tế, lịch sử, văn hóa), chỉ ra mối quan hệ nhân - quả giữa sự phát triển kinh tế thị trường với sự suy thoái lối sống truyền thống làng xã, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp gắn quy hoạch hạ tầng với du lịch văn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của văn bản: Do điều kiện nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, phạm vi khảo sát thực tế chỉ tập trung vào một số cụm xã đại diện (Chuyên Mỹ, Phú Túc, Phú Yên, Tân Dân, Sơn Hà); dữ liệu thống kê phản ánh chủ yếu giai đoạn 2011–2018; nguồn dữ liệu tín dụng và ô nhiễm môi trường chưa được lượng hóa chi tiết theo từng chỉ số quan trắc kỹ thuật mà chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính của huyện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc đánh giá tác động chi tiết của chuỗi cung ứng nguyên liệu nhập khẩu đối với tính độc lập của làng nghề truyền thống; xây dựng mô hình định lượng hóa hiệu quả kinh tế của mô hình du lịch trải nghiệm làng nghề; nghiên cứu sâu các giải pháp công nghệ sinh học và môi trường trong việc xử lý rác thải công nghiệp đặc thù tại các làng nghề đan lát và đồ da.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Xã hội học nông thôn, Quản lý văn hóa và Lịch sử địa phương khi tìm kiếm tài liệu tham khảo về phương pháp vận dụng lý luận triết học vào phân tích một địa bàn nông thôn cụ thể.
  • Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (Phòng Văn hóa - Thông tin, Phòng Kinh tế huyện Phú Xuyên, UBND các xã làng nghề) trong việc tham chiếu hệ thống số liệu lịch sử, kinh tế và rà soát hiện trạng duy trì số hộ làm nghề tại các cụm dân cư.
  • Cán bộ làm công tác khuyến công, xúc tiến du lịch tham khảo định hướng xây dựng sản phẩm du lịch làng nghề gắn với hệ thống di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh phụ cận.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngày vinh danh làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên được ấn định vào ngày nào và đã tổ chức với quy mô ra sao?

Căn cứ quyết định của huyện, từ năm 2011, Phú Xuyên chọn ngày 26 tháng 10 hằng năm là "Ngày vinh danh làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên". Tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2018), lễ hội đã tổ chức thành công 5 lần, trong đó có 3 lần tổ chức quy mô cấp huyện (vào các năm 2011, 2014, 2017) và 3 lần tổ chức quy mô cấp xã (vào các năm 2012, 2013, 2016 tại các xã Chuyên Mỹ, Phú Yên, Phú Túc).

2. Các tiêu chí pháp lý để công nhận làng nghề và làng nghề truyền thống được tác giả trích dẫn từ văn bản nào?

Tác giả viện dẫn Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/2/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tiêu chí công nhận bao gồm: tối thiểu 30% số hộ hoặc 50% số lao động làm nghề; tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt tối thiểu 50% tổng giá trị sản xuất của làng trong năm; hoạt động kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm liên tục; chấp hành tốt chủ trương, pháp luật. Để được công nhận là làng nghề truyền thống, làng nghề đó phải đạt các tiêu chí trên và có tối thiểu 30% số hộ hoặc 50% số lao động tham gia làm nghề truyền thống.

3. Thực trạng suy giảm tỷ lệ hộ gia đình làm nghề diễn ra cụ thể như thế nào tại các làng nghề tiêu biểu của huyện?

Văn bản nêu rõ tại thôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ), giai đoạn 2002–2010 có hơn 95% hộ gia đình làm nghề khảm trai, nhưng đến giai đoạn 2015–2019 tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn khoảng 70%. Tại làng nghề đan võng thôn Thao Nội (xã Sơn Hà), tỷ lệ hộ làm nghề sụt giảm từ 90% xuống còn 65%. Làng nghề đan tơ lưới thôn Thao Ngoại cũng ghi nhận sự sụt giảm đáng kể và không còn duy trì được đà phát triển mạnh.

4. Hệ thống di tích lịch sử tại Phú Xuyên có những điểm nhấn nổi bật nào gắn liền với dòng chảy lịch sử dân tộc?

Toàn huyện có 413 di tích lịch sử - văn hóa (112 di tích đã xếp hạng, gồm 38 cấp quốc gia). Điểm nhấn bao gồm: đình thôn Giẽ Hạ xây dựng năm 1686 (niên hiệu Lê Chính Hòa, một trong mười ngôi đình cổ hiếm quý còn sót lại); 4 bia đá thời Lê (trong đó có bia Lê Phúc Thái dựng năm 1647 trên lưng rùa); dấu tích khảo cổ mộ thuyền Châu Can (khai quật ngày 15/9/1974 thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn); trống đồng Hoàng Hạ (thế kỷ VII TCN); đình Mai Xá và đình Sảo Thượng thờ các tướng lĩnh giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân.

5. Đặc điểm cơ cấu vốn sản xuất của các cơ sở làng nghề ở Phú Xuyên được văn bản xác định như thế nào?

Theo phân tích tại Chương 1, nguồn vốn đầu tư của các chủ thể sản xuất kinh doanh tại làng nghề Phú Xuyên chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có tích lũy nội bộ, chiếm trên 90% tổng số vốn đầu tư. Nguồn vốn vay tín dụng chính thức từ các ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng địa phương chiếm tỷ trọng rất thấp do thủ tục vay phức tạp, hạn mức cho vay nhỏ và kỳ hạn vay ngắn chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới máy móc công nghệ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Luyến là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về mặt học thuật chuyên ngành Triết học, làm sáng tỏ các giá trị văn hóa, lịch sử và kinh tế của mạng lưới làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên. Tác giả đã tổng hợp bức tranh thực trạng chân thực giai đoạn 2011–2018, phản ánh cả thành tựu tăng trưởng sản xuất lẫn những thách thức gay gắt về nguy cơ mai một di sản, biến đổi lối sống và ô nhiễm môi trường. Các đề xuất giải pháp trong khóa luận bám sát nguyên tắc kế thừa biện chứng, dung hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế địa phương và bảo tồn không gian văn hóa truyền thống của Thủ đô.