Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học (mã số 931 02 04) với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước và vận dụng trong tình hình hiện nay" do nghiên cứu sinh Trịnh Quốc Việt thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn là Đặng Văn Thái. Luận án thuộc hướng nghiên cứu lý luận chính trị kết hợp lịch sử và thực tiễn, tiếp cận định tính đối với di sản tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và thực tiễn kiểm soát quyền lực tại Việt Nam.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định kiểm soát quyền lực nhà nước là phạm trù cơ bản của khoa học chính trị nhằm phát hiện, ngăn chặn sự tha hóa quyền lực, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục tiêu và đạt hiệu quả. Trong 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước (1945 - 1969), Hồ Chí Minh cùng Đảng và Nhà nước tổ chức thực thi việc kiểm soát quyền lực nhà nước dựa trên nguyên lý nền tảng: toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ("nhân dân là ông chủ nắm chính quyền"). Thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước tại Việt Nam thời gian qua tuy đạt nhiều kết quả nhưng vẫn bộc lộ hạn chế: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn kẽ hở; cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp chưa thực sự rõ ràng, còn chồng chéo; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hiệu quả chưa cao; một bộ phận cán bộ, công chức, kể cả người đứng đầu, có biểu hiện lạm quyền, lộng quyền, tha hóa quyền lực; vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, nhân dân và báo chí có lúc còn mang tính hình thức.
Về khoảng trống nghiên cứu, mặc dù có nhiều công trình trong và ngoài nước tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh ở các khía cạnh pháp lý hoặc tổ chức bộ máy, song chưa có công trình nào luận giải một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước với tư cách một hệ thống quan điểm hoàn chỉnh; đồng thời chưa đánh giá thực trạng giai đoạn từ năm 2011 đến nay dưới góc nhìn trực tiếp của tư tưởng này để đề xuất hệ thống giải pháp vận dụng tương ứng.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, luận giải toàn diện nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước và sự vận dụng tư tưởng của Người trong tình hình hiện nay ở nước ta. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
- Luận giải các khái niệm: quyền lực, quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Phân tích nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Đánh giá thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam và phân tích những vấn đề đặt ra hiện nay từ góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Làm rõ những yếu tố tác động và xác định các yêu cầu, đề xuất các nhóm giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước và sự vận dụng tư tưởng của Người vào kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về nội dung: Tập trung vào hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước, giá trị của tư tưởng này và sự vận dụng trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Về thời gian: Khảo cứu tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945 - 1969; khảo sát thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam từ năm 2011 đến nay (tập trung giai đoạn 2011 - 2020 và các năm tiếp theo).
- Về không gian: Nghiên cứu trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả phân chia các công trình nghiên cứu liên quan thành ba nhóm chính:
Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung. Về mặt lý thuyết kinh điển phương Tây, tác giả điểm lại các quan điểm phân quyền và đối trọng quyền lực trong Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ của Alexander Hamilton, James Madison và John Jay (1788); thuyết phân chia ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Bàn về tinh thần pháp luật của Montesquieu (1748); quan niệm về chủ quyền tối cao của nhân dân và ý chí chung trong Bàn về khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau (1762); quan điểm về tự do cá nhân và quyền phê phán chính phủ trong Bàn về tự do của John Stuart Mill (1859). Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu lý luận và thể chế pháp lý gồm có: Đinh Văn Mậu (2001) với Quyền lực nhà nước và quyền công dân; Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (2002) với Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay; đề tài cấp Bộ của Lưu Văn Quảng (2008) về Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay; Trịnh Thị Xuyến (2008) với Kiểm soát quyền lực nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay; đề tài cấp Bộ mã số B11-16 của Trần Kim Cúc (2011) về Pháp luật về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay; Trần Ngọc Đường (2011) nghiên cứu phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; đề tài cấp Bộ mã số B12-09 của Lâm Quốc Tuấn (2012-2013); luận án tiến sĩ của Phạm Thế Lực (2010) và Nguyễn Quang Anh; các công trình của Lê Minh Thông, Trương Thị Hồng Hà, Trịnh Đức Thảo, Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Thị Hoài An, Cao Anh Đô, Lê Thị Anh Đào, Vũ Thị Hồng Trang, Nguyễn Tuấn Anh.
Nhóm thứ hai: Các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh liên quan đến kiểm soát quyền lực nhà nước. Tiêu biểu là đề tài cấp Nhà nước KX.02.13 thuộc Chương trình KX.02 do Nguyễn Đình Lộc chủ nhiệm; bài viết của Võ Nguyên Giáp về Bác Hồ với Hiến pháp 1946; công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn và Nguyễn Mạnh Tường (2007); sách của Phạm Ngọc Dũng (2007) về xây dựng nhà nước pháp quyền; Nguyễn Duy Quý và Nguyễn Tất Viễn (2008); Geetesh Sharma; Tsuboi Yoshiharu; Nguyễn Hữu Đổng; Nguyễn Thu An; Trần Đình Huỳnh và Lê Thị Thanh; Nguyễn Thị Lan Phương; Nguyễn Đắc Dũng; Mai Trực cùng tập thể Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2020) với cuốn sách về kiểm soát quyền lực qua kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; bài viết của Vũ Văn Phúc và Trần Thị Minh Châu; Tạ Ngọc Tấn.
Nhóm thứ ba: Các nghiên cứu về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhóm này gồm bài viết của Vũ Hoàng Công về kiểm soát qua cơ quan dân cử; Hồ Xuân Quang bàn về nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước; Văn Thị Thanh Mai nghiên cứu chỉ dẫn của V.I. Lênin và Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Trung bàn về phát huy quyền làm chủ của nhân dân; Trần Thị Minh Tuyết phân tích 6 biện pháp kiểm soát theo tư tưởng Hồ Chí Minh; Nguyễn Đăng Dung nghiên cứu kiểm soát sự liêm chính; Vũ Anh Tuấn; Doãn Thị Chín; Lý Việt Quang; Trần Ngọc Đường qua tham luận hội thảo quốc gia về tư tưởng Hồ Chí Minh trong kiểm soát quyền lực nhà nước.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đã cung cấp nhiều luận cứ giá trị, đa số tiếp cận kiểm soát quyền lực dưới góc độ luật học, khoa học quản lý hoặc chỉ xem xét tư tưởng Hồ Chí Minh như một bộ phận phụ trợ trong học thuyết về nhà nước của dân, do dân, vì dân, hoặc tách rời thành công tác kiểm tra Đảng. Tác giả lựa chọn luận án này nhằm hệ thống hóa toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước như một chỉnh thể lý luận (từ sự cần thiết, mục đích, chủ thể, nội dung, hình thức đến phương thức); xác lập định nghĩa khoa học cho khái niệm này; đồng thời trực tiếp sử dụng hệ thống quan điểm của Người làm hệ quy chiếu đánh giá thực trạng kiểm soát quyền lực tại Việt Nam từ năm 2011 đến nay để xác lập hệ thống giải pháp vận dụng có tính khả thi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và quyền lực chính trị (các tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen như Hệ tư tưởng Đức, Ngày 18 tháng Sương mù của Lu-i Bô-na-pác-tơ; các luận điểm của V.I. Lênin về kiểm tra, thanh tra, kiểm kê, kiểm soát công quyền); tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước dân chủ mới; các quan điểm, nghị quyết, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (đặc biệt là Đại hội X, XI, XII, XIII) và các quy định của Hiến pháp năm 1946, 1959, 2013.
Về mặt khái niệm, tác giả phân tích và kế thừa định nghĩa quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước từ Từ điển Luật học, Từ điển tiếng Việt và các nghiên cứu của Trịnh Thị Xuyến, Nguyễn Minh Đoan, Mai Trực, Trần Kim Cúc. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các định nghĩa thao tác phục vụ nghiên cứu:
- Quyền lực nhà nước: Là quyền lực của nhân dân được chế định bằng hiến pháp, pháp luật, do nhà nước và các cơ quan nhà nước nắm giữ và thực thi quyền lực, buộc các chủ thể khác trong quốc gia (các tổ chức, cá nhân, giai cấp, tầng lớp) phải phục tùng, nhằm thực hiện mục tiêu, lợi ích của giai cấp và xã hội.
- Kiểm soát quyền lực nhà nước: Là một hệ thống những hoạt động được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau trong việc sử dụng các công cụ, phương tiện và biện pháp phù hợp để xem xét, giám sát, phát hiện, ngăn chặn sự tha hoá quyền lực của cá nhân, tổ chức thực thi quyền lực nhà nước.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước: Là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước dân chủ mới ở Việt Nam, bao gồm hệ thống quan điểm về sự cần thiết, mục đích, chủ thể, hình thức và sử dụng công cụ, phương tiện, biện pháp kiểm soát quyền lực, được thực hiện bởi các thành tố trong hệ thống chính trị, xã hội và nhân dân, nhằm phát hiện, ngăn ngừa và bảo đảm việc thực thi quyền lực nhà nước theo đúng hiến pháp, pháp luật; có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, soi sáng việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp chung và chuyên ngành theo cấu trúc cụ thể:
| Phương pháp nghiên cứu |
Phạm vi chương sử dụng |
Mục đích và nội dung thực hiện trong văn bản |
| Phương pháp logic |
Chương 2, Chương 3, Chương 4 |
Trình bày quá trình phát triển các quan điểm Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước theo trật tự hệ thống, liên tục; đặt trong mối liên hệ với nhận thức của cán bộ, công chức và nhân dân. |
| Phương pháp lịch sử |
Chương 2, Chương 3 |
Nghiên cứu các sự kiện, bối cảnh thực tiễn từ năm 1945 - 1969 khi Hồ Chí Minh đứng đầu Nhà nước; phân tích các mốc phát triển thể chế kiểm soát quyền lực từ năm 2011 đến nay. |
| Phương pháp phân tích, tổng hợp |
Chương 1, Chương 3 |
Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích và tổng hợp số liệu thực tế về thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước tại Việt Nam từ góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh. |
| Phương pháp so sánh, thống kê, văn bản học |
Chương 2, Chương 3, Phụ lục |
Đối chiếu quy định của các bản Hiến pháp (1946, 1959, 2013); khảo cứu các văn bản chỉ thị, sắc lệnh, bài phát biểu của Hồ Chí Minh; so sánh kết quả thực thi kiểm soát quyền lực qua các thời kỳ. |
Nguồn dữ liệu của luận án là nguồn thứ cấp và tư liệu lịch sử, bao gồm: bộ Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật); các văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị; các văn bản pháp luật, báo cáo tổng kết của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ và Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong giai đoạn 2011 - 2020.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 (từ trang 6 đến trang 30) tập trung phân loại và đánh giá ba luồng nghiên cứu chính liên quan đến đề tài. Ở luồng nghiên cứu thứ nhất, tác giả chỉ rõ các công trình phương Tây và Việt Nam đã làm rõ tính tất yếu khách quan của kiểm soát quyền lực xuất phát từ bản chất của quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, do đó luôn tiềm ẩn xu hướng lạm quyền, chuyên quyền nếu không có cơ chế giám sát. Ở luồng nghiên cứu thứ hai, tác giả phân tích các bài viết, đề tài làm rõ quan điểm Hồ Chí Minh về phân công quyền lực trong Hiến pháp 1946, cơ chế dân chủ đại diện, vai trò kiểm tra của Đảng và đạo đức cách mạng của công chức. Ở luồng nghiên cứu thứ ba, tác giả điểm các nghiên cứu vận dụng tư tưởng của Người vào đổi mới công tác cán bộ, giám sát của cơ quan dân cử và báo chí.
Trong phần khái quát, tác giả chỉ ra các khoảng trống mà các công trình trước chưa giải quyết: (1) Chưa tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước như một hệ thống hoàn chỉnh; (2) Chưa làm rõ nội hàm khái niệm và các cơ chế tương tác giữa kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước và kiểm soát bên ngoài từ nhân dân, xã hội; (3) Chưa có công trình nào đánh giá thực trạng công tác kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 một cách trực diện bằng hệ quy chiếu tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chương 2: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC - NỘI DUNG VÀ GIÁ TRỊ
Chương 2 (từ trang 31 đến trang 82) là chương trọng tâm về mặt lý luận, chia làm 3 tiết:
Tiết 2.1: Một số khái niệm cơ bản. Tác giả phân tích nguồn gốc, bản chất của quyền lực, quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước từ góc độ chủ nghĩa Mác - Lênin và khoa học pháp lý; từ đó xác lập định nghĩa khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước.
Tiết 2.2: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước. Tác giả phân tích sâu 4 nội dung căn bản:
- Sự cần thiết: Hồ Chí Minh khẳng định quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân ("Nước lấy dân làm gốc", "tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân"). Nhân dân ủy thác quyền lực cho bộ máy nhà nước, do đó nhân dân có quyền kiểm soát bộ máy đó. Đồng thời, Người nhận diện nguy cơ tha hóa quyền lực khi cán bộ nắm quyền, chỉ ra các căn bệnh bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947) như: trái phép, cậy thế, quan liêu, cửa quyền, hách dịch, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô, lãng phí.
- Mục đích kiểm soát: Bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng Hiến pháp, pháp luật ("thần linh pháp quyền"); nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ đối với nhân dân; ngăn ngừa các biểu hiện tha hóa quyền lực; bảo đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân.
- Chủ thể kiểm soát: Được xác định toàn diện gồm nhân dân (chủ thể tối cao), Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng cầm quyền lãnh đạo việc kiểm soát), các cơ quan trong bộ máy nhà nước (kiểm soát lẫn nhau giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp), và bản thân đội ngũ cán bộ, công chức (tự kiểm soát bằng đạo đức cách mạng).
- Hình thức, phương thức và công cụ: Kiểm soát bên trong bộ máy (phân công, phân nhiệm rõ ràng, thanh tra, kiểm tra thường xuyên) và kiểm soát bên ngoài bộ máy (nhân dân kiểm soát thông qua quyền bầu cử, bãi miễn đại biểu, quyền phúc quyết, khiếu nại, tố cáo, phê bình; sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và báo chí truyền thông).
Tiết 2.3: Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước. Tác giả khẳng định giá trị lý luận trong việc kế thừa, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh hoa nhân loại về kiểm soát quyền lực vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời khẳng định giá trị thực tiễn to lớn, là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
Chương 3: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ GÓC NHÌN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chương 3 (từ trang 83 đến trang 123) khảo sát thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước tại Việt Nam từ năm 2011 đến nay.
Về thành tựu, tác giả ghi nhận: Thể chế kiểm soát quyền lực từng bước được hoàn thiện thông qua Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật về tổ chức bộ máy; nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước được hiến định và triển khai rõ nét hơn; hoạt động giám sát, chất vấn của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều đổi mới; công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và thanh tra nhà nước được siết chặt, xử lý nhiều vụ việc tham nhũng lớn; vai trò phản biện của Mặt trận Tổ quốc và thông tin báo chí được phát huy tích cực hơn.
Về hạn chế và nguyên nhân, dưới góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả chỉ ra:
- Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước vẫn chưa thực sự chặt chẽ; việc phân định thẩm quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp có điểm chưa cụ thể dẫn đến chồng chéo hoặc khoảng trống kiểm soát.
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát ở một số lĩnh vực còn hình thức, chưa kịp thời phát hiện và ngăn chặn vi phạm từ sớm.
- Hiện tượng lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực để trục lợi cá nhân vẫn xảy ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, vi phạm nghiêm trọng lời dạy của Hồ Chí Minh về chí công vô tư.
- Cơ chế để nhân dân thực hiện quyền kiểm soát quyền lực trực tiếp (như quyền bãi miễn, phúc quyết, phản biện) chưa được thể chế hóa đầy đủ, còn lúng túng trong triển khai thực tế.
Từ đó, luận án xác định các vấn đề cấp bách đặt ra: Mâu thuẫn giữa yêu cầu thượng tôn pháp luật với sự thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật; mâu thuẫn giữa bản chất quyền lực thuộc về nhân dân với tình trạng tha hóa quyền lực do chủ nghĩa cá nhân; và yêu cầu phải thể chế hóa quan điểm "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế".
Chương 4: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương 4 (từ trang 124 đến trang 161) tập trung vào các giải pháp vận dụng trong bối cảnh mới:
Tiết 4.1: Những yếu tố tác động. Phân tích tác động từ bối cảnh quốc tế (toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng, sự phát triển của công nghệ thông tin) và bối cảnh trong nước (phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt trái của đồng tiền, yêu cầu phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và cải cách hành chính).
Tiết 4.2: Yêu cầu vận dụng. Luận án xác định 4 yêu cầu mang tính nguyên tắc:
- Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Kiên định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức cách mạng và hoàn thiện kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tiết 4.3: Các giải pháp vận dụng. Đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nâng cao nhận thức, giáo dục đạo đức công vụ và tính tự giác kiểm soát quyền lực: Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về phục vụ nhân dân; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
- Hoàn thiện thể chế và cơ chế kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước: Phân định rạch ròi thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; nâng cao chất lượng hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội; tăng cường kiểm soát nội bộ trong các cơ quan hành chính; bảo đảm tính độc lập của cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát) trong xét xử và thực hành quyền công tố.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra: Kết hợp chặt chẽ kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra nhà nước và kiểm toán nhà nước; xử lý nghiêm minh các hành vi lạm quyền, tham nhũng mà không có vùng cấm.
- Phát huy vai trò kiểm soát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và báo chí: Hoàn thiện cơ chế pháp lý để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp (thực hiện Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu ý dân); bảo đảm cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng; nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp cụ thể:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận kiểm soát quyền lực nhà nước, luận án lần đầu tiên đưa ra định nghĩa có tính hệ thống về Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước trong chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
- Luận giải một cách chỉnh thể, nhất quán nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước trên cả 4 phương diện: tính tất yếu khách quan, mục đích, chủ thể và phương thức kiểm soát (kết hợp kiểm soát bên trong và kiểm soát bên ngoài bộ máy nhà nước).
- Làm sáng tỏ giá trị lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc bổ sung, hoàn thiện lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp:
- Cung cấp đánh giá khách quan về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam từ năm 2011 đến nay dựa trên hệ quy chiếu tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đề xuất hệ thống yêu cầu và 4 nhóm giải pháp vận dụng đồng bộ, có cơ sở khoa học, đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách bộ máy nhà nước hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước không nằm tập trung trong một tác phẩm chuyên khảo riêng mà thể hiện đan xen, tản mạn qua nhiều bài nói, bài viết, thư từ, chỉ thị, sắc lệnh và qua chỉ đạo thực tiễn hai bản Hiến pháp (1946, 1959). Do đó, việc tập hợp, đối chiếu và hệ thống hóa tư liệu đòi hỏi dung lượng nghiên cứu lớn và tiếp tục cần được kiểm chứng qua nhiều nguồn tư liệu lịch sử khác nhau. Mặt khác, phạm vi khảo sát thực trạng của đề tài tập trung từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành luận án (2022), chưa thể bao quát hết các diễn biến thể chế và quy định mới sau Đại hội XIII của Đảng.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo chiều dọc (giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương) theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu so sánh cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh với các mô hình kiểm soát quyền lực hiện đại trên thế giới trong điều kiện quản trị quốc gia số và kinh tế số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng cụ thể:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Phục vụ học tập, nghiên cứu trong các chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Lý luận chính trị, Chính trị học và Luật học. Phần đáng tham khảo nhất là Tiết 2.2 và 2.3 (Chương 2) về hệ thống hóa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Sử dụng làm giáo trình, tài liệu tham khảo cho các bài giảng về Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật tại các học viện chính trị, trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, trường luật.
- Người làm công tác thực tiễn và hoạch định chính sách: Cán bộ làm công tác kiểm tra của Đảng, thanh tra nhà nước, cơ quan tư pháp và cán bộ Mặt trận Tổ quốc có thể tham khảo Chương 3 và Chương 4 để nắm bắt cơ sở lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung quy chế, chính sách về kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước" như thế nào?
Luận án định nghĩa: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước là một nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước dân chủ mới ở Việt Nam, bao gồm hệ thống quan điểm về sự cần thiết, mục đích, chủ thể, hình thức và sử dụng công cụ, phương tiện, biện pháp kiểm soát quyền lực, được thực hiện bởi các thành tố trong hệ thống chính trị, xã hội và nhân dân, nhằm phát hiện, ngăn ngừa và bảo đảm việc thực thi quyền lực nhà nước theo đúng hiến pháp, pháp luật; có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, soi sáng việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
2. Theo phân tích của luận án, Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến sự tha hóa quyền lực của cán bộ?
Dựa trên tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947) và các bài nói chuyện của Người, luận án phân tích rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hóa quyền lực nhà nước là "chủ nghĩa cá nhân". Khi cán bộ mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa, họ chỉ nghĩ đến lợi ích riêng, dẫn đến các căn bệnh: trái phép, cậy thế, quan liêu, cửa quyền, hách dịch, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô và lãng phí của công.
3. Luận án xác định các chủ thể tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh gồm những ai?
Hồ Chí Minh xác định hệ thống chủ thể kiểm soát quyền lực gồm 4 nhóm: (1) Nhân dân (chủ thể cao nhất và là nguồn gốc của quyền lực nhà nước); (2) Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng cầm quyền lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị); (3) Các cơ quan trong bộ máy nhà nước (các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp kiểm soát lẫn nhau thông qua thẩm quyền được luật định); (4) Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (vừa thực thi quyền lực, vừa tự kiểm soát bản thân bằng đạo đức cách mạng).
4. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào và phân bổ vào các chương ra sao?
Luận án sử dụng: Phương pháp logic (áp dụng tại Chương 2, 3, 4); Phương pháp lịch sử (áp dụng tại Chương 2, 3); Phương pháp phân tích và tổng hợp (áp dụng tại Chương 1, 3); Phương pháp so sánh, thống kê và văn bản học (áp dụng tại Chương 2, 3 và phần phụ lục).
5. Luận giải của luận án về quan điểm "thần linh pháp quyền" của Hồ Chí Minh có ý nghĩa gì đối với việc kiểm soát quyền lực?
Tác giả dẫn chứng từ bản Việt Nam yêu cầu ca (1921) với hai câu thơ: "Bảy xin hiến pháp ban hành; Trăm đều phải có thần linh pháp quyền". Luận án giải thích rằng "thần linh pháp quyền" phản ánh nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Trong kiểm soát quyền lực nhà nước, pháp luật và Hiến pháp là công cụ tối thượng để giới hạn quyền hạn của bộ máy công quyền, bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, ngăn ngừa nguy cơ chuyên quyền, độc đoán.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trịnh Quốc Việt đã hoàn thành việc hệ thống hóa một cách toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước, xác lập định nghĩa chuyên ngành và luận giải rõ các yếu tố cấu thành từ bản chất quyền lực nhân dân đến phương thức kiểm soát bộ máy. Bằng việc đối chiếu trực tiếp tư tưởng của Người với thực tiễn kiểm soát quyền lực tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2011 đến nay, công trình đã chỉ rõ những nguyên nhân nội tại của sự tha hóa quyền lực và các kẽ hở thể chế cần khắc phục. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực, đóng góp luận cứ trực tiếp cho công cuộc xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.