Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay" được xây dựng nhằm giải quyết những yêu cầu thực tiễn và lý luận phát sinh trong hoạt động tư pháp hình sự đối với nhóm chủ thể chưa thành niên. Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trẻ em và người chưa thành niên (NCTN) là tương lai của đất nước, đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đặc biệt theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Điều 37 Hiến pháp năm 2013 và Điều 5 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Tuy nhiên, tình hình tội phạm do NCTN thực hiện giai đoạn 2006 - 2015 có diễn biến phức tạp. Theo thống kê của Ban chủ nhiệm Đề án 4 thuộc Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, trong giai đoạn 2006 - 2015 cả nước ghi nhận 95.474 vụ phạm pháp hình sự về trật tự xã hội do NCTN thực hiện. Hành vi phạm tội xuất hiện sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thủ đoạn tinh vi, hình thành băng nhóm có tổ chức với các nhóm tội danh phổ biến như giết người, cướp tài sản, trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng và tội phạm về ma túy.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực trạng: những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với NCTN phạm tội còn nhiều bất cập; việc tổ chức thực thi còn hạn chế; công tác tổng kết thực tiễn chưa được quan tâm tương xứng; các công trình nghiên cứu trước đây về chính sách hình sự (CSHS) đối với NCTN phạm tội còn tản mạn, thiếu tính thống nhất và chưa được tiếp cận một cách toàn diện dưới góc độ khoa học chính sách công kết hợp luật hình sự.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể cho hoạt động hoạch định và tổ chức thực hiện CSHS trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Để hoàn thành mục đích này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Kiến giải làm rõ nội hàm khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội; xác định vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và ý nghĩa của CSHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm; xác định mối liên hệ giữa CSHS đối với NCTN phạm tội và hiệu quả thực tế của công tác này.
- Phân tích làm rõ yêu cầu và các yếu tố bảo đảm xây dựng, thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội; xác định nội dung, các nhân tố tác động và các biện pháp thực hiện CSHS đối với nhóm đối tượng này.
- Phân tích sự thể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các khía cạnh: mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, các quy định về tội phạm và hình phạt.
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định, thực hiện (bao gồm điều tra, truy tố, xét xử, định tội danh, quyết định hình phạt), phân tích và đánh giá CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm những vấn đề lý luận về CSHS đối với NCTN phạm tội, CSHS hiện hành đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam và việc triển khai thực hiện CSHS đối với nhóm đối tượng này trong thực tế. Về phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn cụ thể theo ba chiều kích:
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận CSHS đối với NCTN phạm tội theo nghĩa hẹp, tập trung nghiên cứu chính sách pháp luật hình sự, cụ thể là chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn ở phạm vi cả nước, đồng thời tiến hành khảo sát và phân tích điển hình tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Các số liệu thống kê và hồ sơ thực tiễn được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được chia tách thành hai khối công trình trong nước và quốc tế, phản ánh bức tranh nghiên cứu đa dạng về tư pháp người chưa thành niên và chính sách hình sự:
Các nghiên cứu quốc tế
Về CSHS chung, tác giả điểm lại công trình của Bobetev (1984) về "Chính sách hình sự của Nhà nước Xô Viết", phân tích các quá trình tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa và phi hình sự hóa; công trình của Santalov A. I. (1982) về "Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự", làm rõ khía cạnh tích cực và tiêu cực của trách nhiệm hình sự cùng bản chất của án tích; công trình của Bagrij Shakhmatov L.V. (1976) về "Trách nhiệm hình sự và hình phạt", xác định hình phạt là biện pháp cưỡng chế chủ yếu nhưng trách nhiệm hình sự có nội hàm rộng hơn hình phạt.
Về CSHS đối với NCTN phạm tội, luận án trích lược nghiên cứu của Melinikova E.B. (1974, bản dịch năm 1982) phân tích nguyên nhân phạm tội của thanh thiếu niên ở các nước tư bản chủ nghĩa dưới tác động của sự phân hóa giàu nghèo; nghiên cứu của Steven D. Levitt (1998) đăng trên The Journal of Political Economy phân tích mối quan hệ giữa tội phạm vị thành niên và hình phạt tại các bang của Hoa Kỳ; nghiên cứu của Peter Greenwood (2008) trên Journal of Social Science đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các chương trình can thiệp và phòng ngừa tội phạm vị thành niên, chứng minh việc đầu tư cho phòng ngừa giúp tiết kiệm ngân sách giam giữ; bài viết của Kelly Richards trên Trends and Issues in Crime and Criminal Justice chỉ ra các khác biệt tâm lý, sinh học và nguy cơ trở thành nạn nhân của người vị thành niên tại Australia; báo cáo của Iryna Rud, Chris Van Klaveren, Wim Groot, Henriëtte Maassen van den Brink (2013) tại Đại học Maastricht (Hà Lan) đánh giá mối quan hệ giữa giáo dục và việc giảm thiểu hành vi phạm tội của thanh thiếu niên.
Các nghiên cứu trong nước
Về phương diện CSHS tổng quát, tác giả viện dẫn các công trình: giáo trình "Luật hình sự Việt Nam" của Đào Trí Úc (2000); sách chuyên khảo của Hồ Trọng Ngũ (2002); báo cáo lý luận và sách chuyên khảo sau đại học của Lê Cảm (2005) về CSHS trong Nhà nước pháp quyền với ba hình thức thể hiện (sáng tạo pháp luật, áp dụng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật); báo cáo hội thảo của Bộ Tư pháp phối hợp Dự án VIE 02/015 (2008); sách chuyên khảo do Phạm Văn Lợi chủ biên (2007); luận án tiến sĩ của Phạm Thư (2005) phân tích thực trạng CSHS về tội phạm và hình phạt qua Bộ luật Hình sự năm 1999; nghiên cứu chuyên đề của Nguyễn Quốc Việt (2009); bài viết tạp chí của Phạm Hồng Hải (2002); các công trình nghiên cứu quyền con người do Võ Khánh Vinh chủ biên (2009, 2011) và phối hợp với Lê Mai Thanh (2014).
Về CSHS đối với NCTN phạm tội, các tài liệu được tổng thuật gồm: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Võ Khánh Vinh (2005, 2014) kiến giải chương riêng mang tính biệt lệ giảm nhẹ cho NCTN và phân hóa trách nhiệm hình sự; "Giáo trình Luật thi hành án hình sự Việt Nam" của Võ Khánh Vinh và Cao Thị Oanh (2013) bàn về tái hòa nhập cộng đồng; sách chuyên khảo của Dương Tuyết Miên (2011) phân tích Điều 26 Quy chế Rome về Tòa án hình sự quốc tế loại trừ quyền tài phán đối với người dưới 18 tuổi; các bài viết trên tạp chí pháp lý của Nguyễn Mai Bộ (2001) về điều kiện miễn trách nhiệm hình sự và biện pháp tư pháp, Ngọ Duy Hiểu (2001) về tính chất chủ thể đặc thù của NCTN trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Trần Quang Tiệp (2005, 2006) về quyền trẻ em và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua việc điểm luận, tác giả khẳng định các công trình trong và ngoài nước chủ yếu dừng lại ở việc đánh giá các quy phạm thực định riêng lẻ hoặc các khía cạnh xã hội học, chưa làm rõ hệ thống lý luận hoàn chỉnh về CSHS đối với NCTN phạm tội ở tầm chiến lược. Luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình đi sâu hệ thống hóa, kiến giải nội hàm khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và công cụ của CSHS đối với NCTN phạm tội dưới góc độ khoa học luật hình sự kết hợp khoa học chính sách công, đồng thời khảo sát toàn diện thực tiễn định tội danh và áp dụng hình phạt đối với nhóm đối tượng này tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp. Khung phân tích lý thuyết của đề tài được hình thành từ sự kết hợp liên ngành giữa Khoa học Luật hình sự, Tội phạm học, Tâm lý học tư pháp và Khoa học Chính sách công. Việc đưa Khoa học Chính sách công vào nghiên cứu CSHS xuất phát từ luận điểm cho rằng pháp luật là hình thức biểu hiện của chính sách công, chính sách là định hướng nội dung của quy phạm.
Về mặt khái niệm, luận án tổng hợp 7 đặc trưng cốt lõi của chính sách:
- Bắt nguồn từ và bao hàm các quyết định của Nhà nước.
- Là tập hợp các quyết định kéo dài qua một giai đoạn, vượt ra ngoài quá trình hoạch định ban đầu.
- Hướng tới giải quyết vấn đề công, tác động đến các nhóm dân số.
- Nhằm thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy định hướng phát triển xã hội.
- Cấu thành từ 3 thành tố: mục tiêu chính sách, công cụ chính sách và hành động cụ thể kèm nguồn lực.
- Luôn vận động, điều chỉnh năng động theo thời gian qua cơ chế phản hồi thực thi.
- Là đầu ra của quá trình quản lý nhà nước, là sản phẩm trí tuệ công quyền.
Đồng thời, luận án làm rõ tính chất hai mặt của chính sách pháp luật: vừa là chính sách dựa trên nền tảng pháp luật, vừa sử dụng pháp luật làm công cụ quyền lực để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trên cơ sở đó, CSHS đối với NCTN phạm tội được định nghĩa là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và áp dụng hệ thống pháp luật hình sự vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện, nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý công minh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và giáo dục, giúp đỡ NCTN sửa chữa sai lầm. Luận án xác định CSHS đối với NCTN phạm tội ở phạm vi rộng cấu thành từ 4 phân hệ chính sách:
[Chính sách hình sự đối với NCTN phạm tội (nghĩa rộng)]
Mục tiêu của CSHS đối với NCTN phạm tội được tác giả khái quát thành hai nhóm: (1) Xác định khách quan, hợp lý các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật hình sự thông qua việc định rõ ranh giới tội phạm và chế tài áp dụng; (2) Xây dựng cơ sở chính trị, pháp lý cho việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật hình sự và tổ chức thực hiện các biện pháp đấu tranh phòng ngừa.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành cụ thể:
| Phương pháp nghiên cứu |
Mục đích và nội dung áp dụng trong luận án |
| Phân tích tài liệu |
Hệ thống hóa lý luận về CSHS; phân tích quy trình hoạch định, thực thi; khảo cứu 200 bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và các báo cáo nghiệp vụ. |
| Thống kê, phân tích số liệu |
Xử lý dữ liệu tình hình tội phạm vị thành niên từ 2006 đến 2015 trên phạm vi cả nước và địa bàn TP. Hồ Chí Minh để làm căn cứ thực tiễn. |
| Tổng kết thực tiễn |
Đánh giá kết quả áp dụng quy định Bộ luật Hình sự năm 1999 về định tội danh, lượng hình và các biện pháp miễn giảm đối với NCTN. |
| So sánh pháp luật |
Khảo sát quy định pháp luật hình sự quốc tế (Công ước Quyền trẻ em 1989, Quy chế Rome) và luật hình sự một số quốc gia để tìm giải pháp tham chiếu. |
| Phương pháp chuyên gia |
Tham khảo quan điểm của các chuyên gia nghiên cứu và cán bộ thực tiễn thông qua các đề tài, chuyên khảo và ấn phẩm khoa học đã công bố. |
| Điều tra điển hình |
Khảo sát sâu hồ sơ các vụ án điển hình tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm nhận diện vướng mắc trong khâu điều tra, truy tố, xét xử. |
Nguồn dữ liệu thực tế của luận án được thu thập từ:
- 200 bản án hình sự xét xử người chưa thành niên phạm tội tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Số liệu thống kê của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm (giai đoạn 2006 - 2015).
- Báo cáo tổng kết công tác điều tra tội phạm trật tự xã hội của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an.
- Báo cáo tổng kết hàng năm của Tổng cục Cảnh sát, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
- Báo cáo nghiệp vụ của Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Chương 1 thực hiện việc phân loại, tổng thuật và đánh giá có phê phán các công trình nghiên cứu học thuật trong nước và quốc tế. Nội dung chương chia thành các mảng nghiên cứu: CSHS đại cương, CSHS chuyên biệt về người chưa thành niên, và các nghiên cứu về quyền trẻ em trong tư pháp hình sự. Tác giả chỉ rõ các công trình của Santalov A. I., Bagrij Shakhmatov L.V., Bobetev đã đặt nền móng lý thuyết về trách nhiệm hình sự và hình phạt nhưng bối cảnh nghiên cứu đã lùi xa. Các công trình của Steven D. Levitt, Peter Greenwood, Kelly Richards mang lại dữ liệu thực nghiệm về kinh tế học tội phạm và can thiệp cộng đồng nhưng dựa trên hệ thống pháp luật thông luật (Common Law).
Tại Việt Nam, các công trình của Lê Cảm, Phạm Văn Lợi, Phạm Thư đã làm sáng tỏ cấu trúc của CSHS nhưng chủ yếu tiếp cận ở phạm vi chung cho mọi chủ thể phạm tội. Các bài viết của Nguyễn Mai Bộ, Ngọ Duy Hiểu, Trần Quang Tiệp đi vào từng điều luật cụ thể của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 nhưng chưa xây dựng được mô hình lý thuyết tổng thể về chu trình CSHS đối với NCTN phạm tội. Từ đó, chương 1 khẳng định tính xác đáng của việc lựa chọn đề tài và xác lập các khoảng trống tri thức cần giải quyết.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho luận án. Tác giả kiến giải các khái niệm công cụ gồm "chính sách", "chính sách pháp luật", "chính sách hình sự" và xác lập khái niệm "chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội". Luận điểm cơ bản của chương là CSHS đối với NCTN phạm tội mang đầy đủ các đặc trưng của chính sách công nhưng chịu sự quy định chặt chẽ bởi đặc điểm thể chất, tâm lý và xã hội của lứa tuổi chưa thành niên. Tác giả phân tích các đặc trưng tâm sinh lý: NCTN đang trong giai đoạn chuyển đổi tâm lý mạnh mẽ, hiếu thắng, liều lĩnh, dễ bị kích động, năng lực kiềm chế hạn chế, dễ a dua lôi kéo nhưng nhân cách chưa định hình hoàn toàn, có khả năng cải tạo giáo dục cao.
Chương này luận giải các đặc điểm riêng biệt của CSHS đối với NCTN phạm tội: mang tính nhân đạo sâu sắc, ưu tiên áp dụng các biện pháp giáo dục, phục hồi hơn là trừng trị; coi phạt tù là biện pháp cuối cùng; tuân thủ các chuẩn mực của Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989. Tác giả phân tích mục tiêu hai mặt của chính sách, các nguyên tắc định hướng xử lý, các công cụ thực thi chính sách và các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý tác động đến quy trình xây dựng, thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội.
Chương 3: Chính sách hình sự hiện hành đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam
Chương 3 dành cho việc phân tích thực định hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành điều chỉnh nhóm đối tượng NCTN phạm tội, trọng tâm là các quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Chương này làm rõ sự thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng thành các chế định cụ thể:
- Nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội (Điều 69 BLHS năm 1999) với tư tưởng chỉ đạo là lấy giáo dục, giúp đỡ là chính, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết.
- Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS năm 1999) phân chia theo hai nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
- Hệ thống các loại hình phạt áp dụng đối với NCTN: không áp dụng tù chung thân và tử hình; giới hạn mức phạt tù có thời hạn thấp hơn người đã thành niên; không áp dụng hình phạt phụ (phạt tiền, tịch thu tài sản, quản chế, cấm cư trú).
- Các biện pháp tư pháp áp dụng thay thế hình phạt như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng.
- Các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và điều kiện xóa án tích ưu tiên hơn cho NCTN.
Chương 4: Triển khai thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 tập trung đánh giá thực tiễn thực hiện CSHS trong các giai đoạn tố tụng hình sự dựa trên các số liệu điều tra, báo cáo tổng kết và phân tích 200 bản án hình sự thực tế tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các nội dung chính được triển khai gồm:
- Thực trạng phát hiện, điều tra, truy tố đối với các vụ án do NCTN thực hiện; việc bảo đảm các thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho NCTN (người đại diện, người bào chữa).
- Thực tiễn xét xử, định tội danh và lượng hình tại Tòa án: tỷ lệ áp dụng hình phạt tù giam so với tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ; thực tế áp dụng các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt tù.
- Đánh giá những bất cập, vướng mắc trong khâu tổ chức thực thi: nhận thức của cán bộ tiến hành tố tụng chưa đồng đều, xu hướng trừng phạt vẫn còn chi phối tại một số giai đoạn; cơ sở vật chất, điều kiện giam giữ và giáo dục cải tạo NCTN còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan tư pháp chưa đạt hiệu quả đồng bộ.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp cụ thể: hoàn thiện chính sách lập pháp hình sự; đổi mới quy trình chính sách và mô hình tố tụng tư pháp người chưa thành niên; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp và tăng cường các chương trình phòng ngừa tội phạm trong cộng đồng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định 4 đóng góp mới về phương diện học thuật và thực tiễn:
- Về mặt lý luận khái niệm: Luận án kiến giải và làm rõ nội hàm khái niệm CSHS đối với NCTN phạm tội; xác định vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, các nguyên tắc và ý nghĩa của chính sách này trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm; thiết lập mối quan hệ biện chứng giữa CSHS đối với NCTN phạm tội và hiệu quả thực tế của công tác phòng ngừa, xử lý tội phạm.
- Về cấu trúc và cơ chế thực thi: Phân tích làm rõ các yêu cầu, yếu tố bảo đảm xây dựng và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội; chỉ ra nội dung cấu thành, các nhân tố tác động (tâm lý lứa tuổi, môi trường xã hội, thể chế pháp luật) và hệ thống các biện pháp thực hiện chính sách theo hướng tiếp cận liên ngành giữa luật học và khoa học chính sách công.
- Về mặt lập pháp thực định: Phân tích có hệ thống sự thể hiện của CSHS đối với NCTN phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các yếu tố: mục tiêu chính sách, quan điểm chỉ đạo, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, chế định tội phạm và hệ thống hình phạt áp dụng cho NCTN.
- Về mặt thực tiễn và giải pháp: Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng hoạch định và tổ chức thực hiện (từ khâu điều tra, truy tố, xét xử đến định tội danh, quyết định hình phạt) qua việc phân tích dữ liệu thống kê giai đoạn 2006 - 2015 và 200 bản án hình sự thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện việc hoạch định và triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam.
Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất việc tiếp tục nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa thành niên, phân hóa sâu hơn nữa trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự, mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự mang tính giáo dục, phục hồi tại cộng đồng và nâng cao năng lực chuyên trách cho các cơ quan tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự xác định các giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu CSHS đối với NCTN phạm tội theo nghĩa hẹp, tập trung vào chính sách pháp luật hình sự (chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt), do đó chưa thể phân tích sâu toàn diện các phân hệ chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách thi hành án hình sự và các chính sách phòng ngừa xã hội mang tính rộng lớn.
- Địa bàn khảo sát thực tiễn điển hình tập trung chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa phản ánh hết sự khác biệt về tình hình tội phạm và thực tiễn xét xử giữa các vùng miền, đặc biệt là khu vực nông thôn hay miền núi.
- Mốc dữ liệu thống kê tội phạm học và các bản án thực tiễn được giới hạn trong giai đoạn 2006 - 2015, gắn với thời kỳ áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ các giới hạn trên bao gồm:
- Tiếp tục mở rộng nghiên cứu CSHS đối với NCTN phạm tội theo nghĩa rộng, tích hợp đồng bộ các khâu tố tụng thân thiện, thi hành án và cơ chế tái hòa nhập cộng đồng.
- Đánh giá sự chuyển dịch của CSHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong các đạo luật sửa đổi, bổ sung sau năm 2015.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh thực tiễn áp dụng CSHS đối với người chưa thành niên trên phạm vi đa dạng các vùng miền lãnh thổ tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến người dưới 18 tuổi, thúc đẩy việc xây dựng Luật Tư pháp người chưa thành niên phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Cơ quan tiến hành tố tụng và thi hành án: Là tài liệu tham khảo cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và cán bộ thi hành án trong việc nhận thức đúng tinh thần nhân đạo của CSHS, áp dụng đúng nguyên tắc định tội, quyết định hình phạt và biện pháp tư pháp đối với NCTN phạm tội.
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Là nguồn tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu các môn học Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Tội phạm học, Khoa học Điều tra hình sự và Chính sách công tại các cơ sở đào tạo luật. Phần đáng tham khảo nhất là khung lý luận liên ngành phân tích CSHS dưới góc độ chính sách công tại Chương 2 và phần tổng hợp đánh giá 200 bản án hình sự thực tế tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận khái niệm chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp?
Luận án chỉ rõ ở phạm vi rộng, CSHS đối với NCTN phạm tội bao gồm 4 phân hệ: chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự và chính sách pháp luật thi hành án hình sự. Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn tiếp cận theo nghĩa hẹp, tập trung vào chính sách pháp luật hình sự, cụ thể là chính sách về tội phạm và chính sách về hình phạt đối với NCTN phạm tội.
2. Số liệu thống kê tội phạm người chưa thành niên giai đoạn 2006 - 2015 được luận án sử dụng phản ánh thực trạng nào?
Theo số liệu từ Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm được trích dẫn trong luận án, từ năm 2006 đến năm 2015 cả nước ghi nhận 95.474 vụ phạm pháp hình sự về trật tự xã hội do NCTN thực hiện. Số vụ và số đối tượng có xu hướng gia tăng, tính chất hành vi ngày càng nguy hiểm, thủ đoạn tinh vi, có sự chuẩn bị và hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức với các tội danh phổ biến như giết người, cướp tài sản, trộm cắp, gây rối trật tự công cộng và ma túy.
3. Khung phân tích lý thuyết của luận án có điểm gì đặc thù về mặt tiếp cận?
Điểm đặc thù là tác giả sử dụng hệ thống tri thức và khung tiếp cận của Khoa học Chính sách công kết hợp với Khoa học Luật hình sự. Luận án coi pháp luật là một hình thức biểu hiện của chính sách công, nghiên cứu CSHS theo chu trình từ hoạch định, thực hiện đến phân tích, đánh giá, đồng thời dựa trên 7 đặc trưng cơ bản của chính sách để luận giải bản chất của CSHS đối với NCTN.
4. Dữ liệu thực tế nào được sử dụng để đánh giá công tác xét xử người chưa thành niên trong luận án?
Luận án tiến hành thu thập, phân tích tài liệu thực tiễn từ 200 bản án hình sự xét xử người chưa thành niên phạm tội tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp các báo cáo nghiệp vụ định kỳ của Tổng cục Cảnh sát, Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội và Công an Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2006 - 2015.
5. Cơ sở tâm lý lứa tuổi nào được luận án nhấn mạnh làm căn cứ định hình chính sách hình sự riêng biệt cho người chưa thành niên?
Luận án chỉ ra NCTN có sự phát triển chưa hoàn thiện về thể chất và tâm lý; nhận thức xã hội còn hạn chế; tâm lý bộc phát, ngẫu hứng, hiếu thắng, liều lĩnh, dễ bị tác động tiêu cực và lôi kéo bởi ngoại cảnh; dễ hình thành các nhóm phạm tội kiểu a dua. Những đặc điểm này đòi hỏi CSHS phải phân hóa sâu sắc so với người đã thành niên, đặt trọng tâm vào nguyên tắc nhân đạo, giáo dục và giúp đỡ sửa chữa sai lầm hơn là trừng phạt đơn thuần.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay" là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, kết hợp tiếp cận liên ngành với Khoa học Chính sách công. Công trình đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với người chưa thành niên trong Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời đánh giá thực tiễn xét xử qua khảo sát 200 bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 - 2015. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học phục vụ công tác hoàn thiện thể chế lập pháp hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và bảo đảm các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đối với người chưa thành niên tại Việt Nam.