Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Hành chính công với đề tài "Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào", mã số 62 34 82 01, do nghiên cứu sinh Somnith SY LI BOUN LIENG thực hiện tại Học viện Hành chính thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Trọng Hách.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ vị trí, chức năng của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện quyền hành pháp. Cơ quan hành chính nhà nước sử dụng quyền lập quy để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa luật và quản lý điều hành kinh tế - xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2011) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã chỉ rõ: "Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong mọi hoạt động". Bên cạnh đó, Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 2003 cũng khẳng định nguyên tắc: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật tại Lào trong thời gian dài bộc lộ nhiều hạn chế. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước còn nhiều bất cập về hình thức văn bản, thẩm quyền ban hành, quy trình soạn thảo, cơ chế kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật; dẫn đến tình trạng văn bản sai thể thức, sai nội dung, chồng chéo và thiếu tính khả thi. Khoảng trống nghiên cứu lớn là sự thiếu vắng các công trình khoa học nghiên cứu một cách bài bản, toàn diện dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công về hoạt động lập quy của cơ quan hành chính tại Lào, đặc biệt là sau thời điểm Lào ban hành Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; đánh giá đúng những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong giai đoạn 2006 - 2012; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan này.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu và vận dụng những thành quả đã có về phương diện lý luận để hình thành cơ sở lý luận về xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
  2. Tổng kết thực tiễn hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá làm cơ sở cho việc đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan này.
  3. Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Cơ sở lý luận về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
  • Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước.
  • Thực trạng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
  • Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Về không gian: Hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và đối chiếu với Việt Nam (quốc gia có chế độ chính trị tương đồng).
  • Về thời gian: Khảo sát thực trạng hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Lào trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài, phân chia thành ba nhóm tư liệu chính:

Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, các công trình khoa học trong lĩnh vực lập quy còn rất hạn chế. Tác giả đã tiếp cận một số bài viết và đề tài tiêu biểu:

  • Khăm Phết Vông Đa La (2010), bài viết "Cải cách các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại và liên quan đối với nhóm ASEAN" trên Tạp chí Pháp luật (số 4/2010), đề cập tới việc xây dựng và cải cách văn bản pháp luật thương mại trong khuôn khổ khu vực.
  • Chăn Pheeng Si Li Văn (2011), bài viết "Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội về kiểm tra việc ban hành pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn hiện nay" trên Tạp chí Pháp luật (số 1/2011), tập trung vào chức năng giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với văn bản quy phạm pháp luật.
  • Phou sa khone Meuang wong (2010), luận án tiến sĩ Luật học "Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Lào và Việt Nam nghiên cứu từ góc độ so sánh" tại Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đi sâu vào góc độ kiểm tra và xử lý văn bản dưới khía cạnh pháp lý so sánh.

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu rất phong phú và được tác giả chia thành nhiều nhóm:

  • Nhóm về thẩm quyền và quyền lập quy: Giáo trình "Thẩm quyền hành chính nhà nước" do PGS. Vũ Trọng Hách chủ biên (2011, NXB Khoa học và Kỹ thuật) làm rõ quyền lập quy của cơ quan hành chính nhà nước là công cụ chi tiết hóa pháp luật; Luận án tiến sĩ Luật học "Quyền lập quy của Chính phủ" của Nguyễn Đình Hào (2011, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích bản chất, thực trạng và giải pháp hoàn thiện quyền lập quy của cơ quan hành pháp.
  • Nhóm về lý luận văn bản và thể chế lập quy: Cuốn "Văn bản và công tác văn bản trong cơ quan nhà nước" của PGS. Văn Tất Thu (2013, NXB Chính trị quốc gia); Luận án tiến sĩ Luật học "Pháp điển hóa pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật" của Nguyễn Thị Minh Hà (2006, Viện Nhà nước và Pháp luật); Sách chuyên khảo "Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật" (2003, tái bản 2005) và "Hướng dẫn soạn thảo văn bản lập quy" (1998, 2003) của Lưu Kiếm Thanh; Sách "Quy trình xây dựng, ban hành và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật" của Dương Bạch Long (2007, NXB Chính trị quốc gia).
  • Nhóm về kỹ thuật, quy trình soạn thảo và ngôn ngữ: Đề tài và ấn phẩm "Quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật" thuộc dự án VIE/94/003 do Bộ Tư pháp thực hiện, Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên (1998); Cuốn "Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước" của Nguyễn Văn Thâm (2001, NXB Chính trị quốc gia); "Phương pháp soạn thảo văn bản hành chính" của PGS. Nguyễn Minh Phương (2011, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật); Luận án tiến sĩ "Hoàn thiện quy trình ban hành và thực hiện văn bản của chính quyền địa phương cấp tỉnh" của Hà Quang Thanh (2008, Học viện Hành chính); Sách "Ngôn ngữ văn bản quản lý hành chính nhà nước" của TS. Lưu Kiếm Thanh chủ biên (2010, NXB Khoa học và Kỹ thuật); Sách "Thuật ngữ luật học thông dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật" do Nguyễn Trung Nam tuyển chọn (2005, NXB Chính trị quốc gia).
  • Nhóm về cơ cấu tổ chức tham mưu và thủ tục: Sách "Quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội" của Ban Công tác lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005); Đề tài "Việc lập, thẩm tra, quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh - lý luận và thực tiễn" của Vũ Trọng Hách (2010); Kỷ yếu dự án "Tăng cường năng lực thể chế cho Văn phòng Chính phủ" (2001, NXB Tư pháp); Cuốn "Tổ chức và hoạt động của văn phòng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ" của PGS. Văn Tất Thu (2011, NXB Chính trị quốc gia); Cuốn "Tính minh bạch của quyết định hành chính" của Viện Nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển (2012); cùng các bài viết của Đỗ Đức Hồng Quang (2009), Phạm Tuấn Khải (2008), Nguyễn Thị Phượng trên các tạp chí chuyên ngành.

Ở các quốc gia khác, tác giả tham khảo cuốn sách dịch "Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch và lộ trình của Cộng hòa Liên bang Đức" do Nguyễn Sĩ Đại và Nguyễn Kim Thoa dịch (2003, NXB Chính trị quốc gia), cung cấp góc nhìn về thẩm quyền lập pháp, lập quy giữa Liên bang và tiểu bang, quy trình soạn thảo văn bản bảo đảm tính hợp hiến.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Trước luận án này, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ lý luận hành chính nhà nước về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước tại Lào. Luận án giải quyết khoảng trống lý luận về việc xác định rõ quyền lập quy, phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản hành chính khác của cơ quan hành chính, chuẩn hóa quy trình lập quy; đồng thời giải quyết khoảng trống thực tiễn bằng việc khảo sát giai đoạn 2006 - 2012 tại Lào để đề xuất hệ thống giải pháp gắn với bối cảnh cải cách hành chính và Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về nhà nước và pháp luật, cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Khung khái niệm và phân tích của luận án bao gồm:

  • Khái niệm văn bản: Tiếp cận theo nghĩa rộng (phương tiện ghi nhận và truyền đạt thông tin) và nghĩa hẹp (tài liệu, hồ sơ hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội).
  • Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật: Được phân tích trên cơ sở đối chiếu Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 của Việt Nam và Điều 3 Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Lào. Luận án phân định văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực điều chỉnh chung và văn bản có hiệu lực điều chỉnh cá biệt theo pháp luật Lào.
  • Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước: Là văn bản do chủ thể có thẩm quyền trong hệ thống hành chính ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định, mang tính dưới luật, chứa đựng quy tắc xử sự chung để cụ thể hóa luật hoặc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quản lý hành chính nhà nước.
  • Hệ thống chức năng của văn bản quy phạm pháp luật: Chức năng hình thức thể hiện của pháp luật, chức năng thông tin, chức năng quản lý, chức năng văn hóa và xã hội.
  • Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật: Điều tiết thực tiễn quản lý, thể chế hóa và bảo đảm thực hiện chính sách, tạo lập và phân bổ nguồn lực kinh tế, ổn định trật tự xã hội, định hướng và điều chỉnh hành vi của công chức và công dân.

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tiếp cận đối tượng theo quan điểm hệ thống, khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và mối quan hệ giữa cái chung - cái riêng, nguyên nhân - kết quả. Tác giả không sử dụng các phương pháp mô hình kinh tế lượng hay kiểm định thống kê định lượng, mà áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và so sánh pháp lý phù hợp với từng chương:

  • Phương pháp hệ thống, phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 để đánh giá lịch sử nghiên cứu và Chương 4 để luận chứng các giải pháp.
  • Phương pháp diễn dịch, quy nạp và phân tích so sánh: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích các khái niệm, quy trình lập quy và so sánh kinh nghiệm của Việt Nam, Pháp, Đức.
  • Phương pháp thống kê tư liệu, so sánh và phân tích thực tiễn: Sử dụng tại Chương 3 để đánh giá các văn bản, tổ chức bộ máy và cán bộ trong giai đoạn 2006 - 2012 tại Lào.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án:

  • Văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IX (năm 2011) và Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IX.
  • Hiến pháp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 2003 và Hiến pháp Việt Nam.
  • Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, 2002, 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 của Việt Nam.
  • Tài liệu, văn bản hướng dẫn và báo cáo thực tiễn do Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 1 khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài tại ba không gian: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Việt Nam và một số quốc gia khác. Tác giả chỉ ra rằng tại Lào, các công trình về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật còn rất thưa thớt, chủ yếu là các bài viết mang tính chuyên ngành hẹp của Khăm Phết Vông Đa La (2010), Chăn Pheeng Si Li Văn (2011) hoặc nghiên cứu so sánh về khâu kiểm tra, xử lý văn bản của Phou sa khone Meuang wong (2010). Tại Việt Nam, hệ thống lý luận về văn bản quy phạm pháp luật, thẩm quyền lập quy của Chính phủ, quy trình soạn thảo và kỹ thuật văn bản đã được phát triển sâu sắc qua các công trình của Vũ Trọng Hách, Văn Tất Thu, Lưu Kiếm Thanh, Nguyễn Đình Hào, Nguyễn Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Thâm, Nguyễn Minh Phương. Tuy vậy, các công trình này chủ yếu phục vụ thực tiễn nền hành chính Việt Nam.

Từ việc tổng kết các công trình trước đó, chương này xác định rõ các vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết:

  • Về lý luận: Phân biệt rõ văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản hành chính khác của cơ quan hành chính nhà nước; xác định rõ chủ thể có thẩm quyền, phạm vi, nội dung, hình thức và quy trình lập quy; làm rõ sự cần thiết của quyền lập quy và các yêu cầu bảo đảm; đúc kết kinh nghiệm lập quy của Việt Nam, Pháp và Đức nhằm vận dụng cho Lào.
  • Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng lập quy của cơ quan hành chính nhà nước tại Lào trong giai đoạn 2006 - 2012, chỉ ra các sai phạm về thể thức, nội dung, thẩm quyền và nguyên nhân của những tồn tại đó; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động lập quy đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính tại Lào.

Chương 2: Cơ sở khoa học về xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Chương 2 tập trung phân tích khung lý luận về văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước, quyền lập quy, quy trình ban hành và bài học kinh nghiệm quốc tế. Luận án phân tích khái niệm văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra định nghĩa chuyên biệt về văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước. Tác giả chỉ rõ đặc trưng cơ bản nhất của loại văn bản này là tính dưới luật, ban hành trên cơ sở luật nhằm cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành các đạo luật của cơ quan quyền lực nhà nước hoặc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nội bộ và kinh tế - xã hội theo sự ủy quyền của cơ quan lập pháp.

Luận án so sánh cơ cấu chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống hành chính giữa Lào và Việt Nam theo các quy định pháp luật tương ứng:

Tiêu chí so sánh Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Luật Xây dựng VBQPPL 2012) Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Luật Ban hành VBQPPL 2008 & Luật năm 2004)
Số lượng chủ thể hành chính có thẩm quyền 06 cấp chủ thể 04 cấp chủ thể
Chính phủ Ban hành: Nghị quyết, Nghị định Ban hành: Nghị định, Nghị quyết liên tịch
Thủ tướng Chính phủ Ban hành: Chỉ thị, Quyết định Ban hành: Quyết định
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Ban hành: Chỉ thị, Quyết định (áp dụng cho cả Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ) Ban hành: Thông tư, Thông tư liên tịch (không trao thẩm quyền cho Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ)
Chính quyền địa phương cấp tỉnh Tỉnh trưởng, Thị trưởng ban hành: Chỉ thị, Quyết định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành: Quyết định, Chỉ thị
Chính quyền địa phương cấp huyện Huyện trưởng, Trưởng thị xã ban hành: Chỉ thị, Quyết định Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành: Quyết định, Chỉ thị
Chính quyền cơ sở / Cấp xã, thôn Thôn ban hành: Điều lệ thôn Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành: Quyết định, Chỉ thị
Phương thức định danh thẩm quyền Đề cao vai trò và thẩm quyền cá nhân của người đứng đầu (Thủ trưởng hành chính) Kết hợp giữa chế độ tập thể lãnh đạo (UBND, Chính phủ) và cá nhân (Bộ trưởng, Thủ tướng)

Chương 2 cũng phân tích quy trình xây dựng các loại văn bản cụ thể theo Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Lào:

  • Nghị định của Chính phủ: Hằng năm Chính phủ xác định kế hoạch xây dựng nghị định dựa trên đề xuất của các bộ, cơ quan ngang bộ gửi về Văn phòng Chính phủ trước ngày 01 tháng 9. Quy trình soạn thảo nghị định tương tự như dự thảo luật nhưng không cần báo cáo đánh giá tác động và không phải báo cáo Bộ Tư pháp mà báo cáo xin ý kiến của Bộ Nội vụ.
  • Nghị quyết của Chính phủ: Do Văn phòng Chính phủ chủ trì xây dựng thông qua khảo sát, thu thập thông tin, phối hợp với các cơ quan liên quan; văn bản này không bắt buộc phải đăng tải lấy ý kiến rộng rãi trên mạng hay báo chí mà được trình trực tiếp tại phiên họp Chính phủ.
  • Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Phải được công khai lấy ý kiến trên báo chí, mạng thông tin trước khi trình Thủ tướng xem xét.
  • Chỉ thị, quyết định của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Do văn phòng, các cục, vụ chuyên môn chủ trì soạn thảo với sự tham gia của bộ phận pháp chế của bộ.

Chương này khép lại bằng việc khảo sát kinh nghiệm lập quy của Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức và Việt Nam, rút ra các bài học về chuẩn hóa quy trình, kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp và phân định rõ thẩm quyền lập quy.

Chương 3: Thực trạng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Chương 3 khảo sát và đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn lập quy của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Lào trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012. Tác giả phân tích các mặt hoạt động cụ thể:

  • Thực trạng thể chế pháp lý: Trước năm 2012, Lào thiếu một đạo luật thống nhất điều chỉnh hoạt động lập quy của các cơ quan nhà nước, chủ yếu dựa vào các văn bản hướng dẫn tản mát, thiếu tính liên kết. Sự kiện Quốc hội thông qua Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 đánh dấu bước tiến quan trọng nhưng việc triển khai trong các cơ quan hành chính còn gặp nhiều lúng túng.
  • Thực trạng tổ chức bộ máy và sự phân công: Các đơn vị làm công tác pháp chế tại các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương chưa được tổ chức thống nhất, mô hình tổ chức pháp chế còn mỏng, vai trò điều phối của Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ trong quy trình lập quy chưa phát huy tối đa hiệu quả.
  • Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác lập quy: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tham mưu soạn thảo văn bản nhìn chung còn thấp, thiếu kiến thức chuyên sâu về quản lý nhà nước và kỹ thuật lập quy, chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng lập pháp, lập quy.
  • Thực trạng quy trình ban hành: Các bước lập chương trình, soạn thảo, thẩm định dự thảo, lấy ý kiến đóng góp của đối tượng chịu sự tác động chưa được thực hiện nghiêm túc; nhiều văn bản được xây dựng khép kín, thiếu thông tin thực tiễn.
  • Thực trạng cơ chế phối hợp, tài chính và cơ sở vật chất: Kinh phí phục vụ công tác soạn thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật còn rất hạn hẹp; cơ sở dữ liệu pháp lý và trang thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc tra cứu, rà soát văn bản còn nghèo nàn.

Từ đó, luận án tổng kết các hạn chế, yếu kém chủ yếu: Nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hành chính nhà nước ban hành sai về thể thức trình bày, vi phạm thẩm quyền ban hành, nội dung quy định mâu thuẫn hoặc chồng chéo với văn bản cấp trên, tính khả thi thấp, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện và làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Chương 4: Định hướng và giải pháp về xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân của thực trạng, Chương 4 trình bày quan điểm, chủ trương của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; từ đó đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện thể chế về xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Rà soát, sửa đổi và cụ thể hóa các quy định của Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012; ban hành các quy chế mẫu về quy trình xây dựng văn bản lập quy áp dụng cho từng cấp hành chính; phân định ranh giới thẩm quyền giữa trung ương và địa phương.
  2. Kiện toàn tổ chức tham gia xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong cơ quan hành chính nhà nước: Củng cố và chuẩn hóa mô hình tổ chức vụ, ban, phòng pháp chế tại các bộ, ngành và cơ quan chuyên môn thuộc chính quyền cấp tỉnh; nâng cao năng lực tham mưu của Văn phòng Chính phủ và vai trò thẩm định của Bộ Tư pháp.
  3. Tăng cường năng lực đội ngũ công chức làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Xây dựng tiêu chuẩn chức danh công chức lập quy; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về kỹ thuật lập quy, kỹ năng phân tích chính sách và sử dụng ngôn ngữ pháp lý cho đội ngũ cán bộ pháp chế.
  4. Hoàn thiện kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Chuẩn hóa quy tắc soạn thảo, cấu trúc điều khoản, kỹ thuật viện dẫn văn bản, văn phong pháp lý bảo đảm tính ngắn gọn, chuẩn mực, chính xác, dễ hiểu và dễ thực thi.
  5. Huy động sự tham gia của chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và nhân dân: Mở rộng các hình thức lấy ý kiến công khai qua mạng, phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức hội thảo, tọa đàm khoa học nhằm bảo đảm tính dân chủ và tính khả thi của văn bản.
  6. Hoàn thiện các quy định pháp luật về cơ chế quản lý, chế độ tài chính và cơ sở vật chất, điều kiện hỗ trợ phục vụ công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Bố trí nguồn ngân sách nhà nước thỏa đáng và có mục chi riêng cho hoạt động soạn thảo, thẩm định văn bản; đầu tư hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu số hóa phục vụ rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã xây dựng một hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Tác giả đã làm rõ bản chất quyền lập quy, đặc điểm dưới luật của văn bản quy phạm pháp luật hành chính, các chức năng quản lý, thông tin, xã hội và vai trò thể chế hóa chính sách của văn bản quy phạm pháp luật. Luận án đã so sánh, phân tích sự khác biệt về hình thức, thẩm quyền giữa hệ thống hành chính Lào và Việt Nam, đồng thời đúc kết những kinh nghiệm lập quy quốc tế phù hợp với điều kiện của Lào.

Về mặt thực tiễn, luận án đã đánh giá toàn diện, có căn cứ thực tế về thực trạng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước tại Lào trong giai đoạn 2006 - 2012. Công trình chỉ ra những khuyết tật thực tế như ban hành sai thể thức, sai thẩm quyền, mâu thuẫn nội dung, thiếu tính khả thi, phân tích rõ nguyên nhân từ sự non yếu về năng lực cán bộ, sự thiếu thốn về tài chính, trang thiết bị và hạn chế của mô hình tổ chức pháp chế. Trên cơ sở đó, luận án xác định các phương hướng và xây dựng hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động lập quy của cơ quan hành chính tại Lào trong bối cảnh cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do nguồn tài liệu khoa học và số liệu nghiên cứu chính thức trong nước tại Lào trong giai đoạn này còn rất hạn chế, việc tiếp cận các báo cáo thực tế ở các cấp chính quyền cơ sở gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu thực tiễn của luận án kết thúc ở mốc năm 2012, đúng thời điểm Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 vừa được ban hành, nên luận án chưa thể khảo sát và đánh giá đầy đủ tác động thực tế của đạo luật này trong đời sống pháp lý ở các năm tiếp theo.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào:

  • Đánh giá tác động và hiệu lực thi hành thực tế của Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Lào sau một giai đoạn áp dụng lâu dài trong bộ máy hành chính nhà nước.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của cơ quan hành chính cấp địa phương tại Lào.
  • Khảo sát thực tiễn hoạt động ban hành điều lệ thôn (bản) tại Lào, một hình thức văn bản quy phạm pháp luật đặc thù được quy định trong luật pháp của Lào.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Luật học, Quản lý hành chính công, Quản lý nhà nước tại các cơ sở đào tạo của Lào và Việt Nam (như Học viện Hành chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường đại học luật). Phần cơ sở khoa học ở Chương 2 và hệ thống giải pháp kỹ thuật ở Chương 4 có giá trị trực tiếp đối với môn học Kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý nhà nước và Luật Hành chính.
  • Cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, tham mưu lập quy tại Văn phòng Chính phủ Lào, Bộ Tư pháp Lào, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương cấp tỉnh, huyện của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong việc rà soát quy trình, hoàn thiện kỹ thuật soạn thảo và tổ chức lấy ý kiến đối với các dự thảo văn bản.
  • Các nhà hoạch định chính sách tham gia xây dựng các đề án cải cách nền hành chính nhà nước, kiện toàn bộ máy nhà nước và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa tại Lào.

Câu hỏi thường gặp

  1. Cơ sở hiến định và quan điểm chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về xây dựng hệ thống pháp luật được luận án trích dẫn từ những nguồn nào? Luận án dẫn chứng Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 2003 quy định nguyên tắc: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Đồng thời, luận án trích dẫn Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2011) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào xác định: "Điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong mọi hoạt động" và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IX (năm 2011) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước.

  2. Theo Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Lào, văn bản quy phạm pháp luật được định nghĩa và phân loại như thế nào? Điều 3 Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Lào định nghĩa: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản được xây dựng, thông qua và công bố bởi cơ quan quyền lực nhà nước cấp trung ương và địa phương. Luật phân chia thành hai loại:

  • Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực điều chỉnh chung: Ban hành để quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội, thi hành trên toàn quốc hoặc trong một lĩnh vực, không điều chỉnh riêng cho một tổ chức hoặc cá nhân cụ thể.
  • Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực điều chỉnh cá biệt: Ban hành để phục vụ quản lý hành chính nhằm điều chỉnh đối với tổ chức hoặc cá nhân nhất định (như pháp lệnh công bố luật, nghị định, quyết định khen thưởng, bổ nhiệm, thông báo).
  1. Những chủ thể nào trong cơ quan hành chính nhà nước Lào có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và hình thức văn bản tương ứng là gì? Theo Điều 3 Luật Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 của Lào, có 6 nhóm chủ thể:
  • Chính phủ: Ban hành nghị quyết và nghị định.
  • Thủ tướng Chính phủ: Ban hành chỉ thị và quyết định.
  • Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ: Ban hành chỉ thị và quyết định.
  • Tỉnh trưởng, thị trưởng: Ban hành chỉ thị và quyết định.
  • Huyện trưởng, trưởng thị xã: Ban hành chỉ thị và quyết định.
  • Thôn: Ban hành điều lệ thôn.
  1. Quy trình lập kế hoạch và soạn thảo nghị định của Chính phủ Lào có những điểm đáng chú ý nào theo Luật năm 2012? Hằng năm, Chính phủ Lào xác định kế hoạch xây dựng nghị định dựa trên đề nghị của các bộ, cơ quan ngang bộ; các cơ quan này phải gửi kế hoạch xây dựng nghị định cho Văn phòng Chính phủ trước ngày 01 tháng 9 hằng năm. Khi soạn thảo nghị định, quy trình được thực hiện tương tự như quy trình xây dựng dự thảo luật, không bắt buộc phải lập báo cáo đánh giá tác động, không cần báo cáo Bộ Tư pháp nhưng phải báo cáo xin ý kiến của Bộ Nội vụ.

  2. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để nâng cao chất lượng lập quy tại Lào? Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp: hoàn thiện thể chế lập quy; kiện toàn tổ chức tham gia xây dựng văn bản; tăng cường năng lực đội ngũ công chức lập quy; hoàn thiện kỹ thuật soạn thảo và ngôn ngữ văn bản; mở rộng sự tham gia đóng góp ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học, người dân; bảo đảm các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất và công nghệ thông tin.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Somnith SY LI BOUN LIENG là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về quyền lập quy, tổng kết thực tiễn giai đoạn 2006 - 2012 và đối chiếu với mô hình pháp luật của Việt Nam cũng như một số nước. Hệ thống 6 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực lập quy của cơ quan hành chính nhà nước Lào trong tiến trình cải cách nền hành chính và củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.