ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Vì vậy trong suốt những năm qua Đảng và nhà nƣớc luôn quan tâm, đã đƣa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục: Quyết định 43- 2007 ―Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” [12]; Nghị quyết TW số 29 về "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo"[5]… Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân đƣợc Đảng và nhà nƣớc quan tâm, chỉ đạo về lĩnh vực này nhƣ: Thông tƣ số 25/2015/TT- BGD&ĐT ngày 25 tháng 10 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo “Quy định về chương trình môn học Giáo dục thể chất thuộc các chương trình đào tạo trình độ đại học” [20]; Nghị định số 11/2015/NĐ-CP “Chương trình GDTC và hoạt động TDTT trong nhà trường” [85]. Nghị định này quy định GDTC trong nhà trƣờng là môn học bắt buộc trong chƣơng trình chính khóa từ bậc tiểu học đến bậc đại học… Khái quát những vấn đề làm đƣợc và chƣa làm đƣợc trong đó có đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực, để đáp ứng nhu cầu về số lƣợng giáo viên thể dục và cán bộ làm công tác thể dục thể thao, ngoài các trƣờng đào tạo chuyên về TDTT nhƣ: Đại học TDTT, Đại học Sƣ phạm TDTT… hầu hết các trƣờng đại học của trung ƣơng hoặc các tỉnh thành đều tham gia đào tạo cử nhân TDTT ngành GDTC.
Theo xu hƣớng phát triển của xã hội đòi hỏi đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, có tay nghề vững vàng và phải có sức khoẻ tốt để đáp ứng nhu cầu và áp lực của công việc. Trƣớc nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội, đòi hỏi giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cần có những cải tiến, đổi mới cho phù hợp nhu cầu thực tiễn. Bộ GD&ĐT cũng có hàng loạt các công văn, yêu cầu về vấn đề này nhƣ: Thông tƣ số: 07/2015/TT- BGD ĐT “Quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ” [19]; Quyết định số 72/2008/QĐ-BGD&ĐT “Quy định tổ chức thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên [13]; Quyết định số 53/2008/QĐ-BGD&ĐT “Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên”[14]… 2 Từ năm 2004 trƣờng Đại học Cần Thơ bắt đầu đào tạo cử nhân ngành giáo dục thể chất, hàng năm đào tạo đƣợc hơn 60 cử nhân TDTT ngành giáo dục thể chất cung cấp nhu cầu cán bộ cho vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Tuy nhiên cần có sự đánh giá khách quan về những tồn tại cơ bản của hệ thống đào tạo ngành giáo dục thể chất với thái độ coi trọng chất lƣợng đào tạo là nền tảng của sự phát triển bền vững cho nhà trƣờng.
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc áp dụng nội dung giảng dạy, chƣơng trình đào tạo ngành giáo dục thể chất ở mỗi trƣờng đều có sự khác biệt nhất định tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên. Qua kinh nghiệm giảng dạy, kết hợp với phân tích, tổng hợp và tham khảo ý kiến từ các chuyên gia, đồng nghiệp, cán bộ quản lý cho thấy: việc áp dụng dụng chƣơng trình giảng dạy khác nhau sẽ dẫn đến chất lƣợng đào tạo khác nhau. Hiệu quả của chƣơng trình giảng dạy các môn học chuyên sâu trong đó có môn bóng chuyền đang đƣợc áp dụng cho sinh viên ngành GDTC trƣờng Đại học Cần Thơ hiện vẫn chỉ đƣợc xây dựng trên kinh nghiệm của bản thân giảng viên nên không tránh khỏi những hạn chế. Ban Giám hiệu trƣờng Đại học Cần Thơ rất quan tâm và đã ban hành nhiều văn bản của nhà trƣờng chỉ đạo việc đổi mới cho phù hợp và đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội.
Bản thân là giáo viên GDTC muốn đóng góp một phần sức lực của mình vào sự phát triển của Bộ môn, đồng thời là nghiên cứu sinh cũng muốn gắn kết các hoạt động đào tạo trong thực tiễn vào việc chuẩn hóa các nội dung giảng dạy thông qua nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo ngành giáo dục thể chất nói riêng và góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng nói chung, trong xu thế hội nhập, tiến hành chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu xây dựng chƣơng trình chuyên sâu môn bóng chuyền cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trƣờng Đại học Cần Thơ” Mục đích nghiên cứu: Nhằm xây dựng chƣơng trình giảng dạy môn chuyên sâu bóng chuyền cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trƣờng Đại học Cần Thơ, chuẩn hóa nội dung giảng dạy góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trƣờng Đại học Cần Thơ. 3 Mục tiêu nghiên cứu: Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, luận án cần giải quyết ba mục tiêu sau: 1. Đánh giá thực trạng việc thực hiện chƣơng trình giảng dạy môn chuyên sâu bóng chuyền cho sinh viên ngành giáo dục thể chất Trƣờng Đại học Cần Thơ giai đoạn 2010-2014. Xây dựng đổi mới và ứng dụng thực nghiệm chƣơng trình giảng dạy môn chuyên sâu bóng chuyền cho sinh viên ngành GDTC Trƣờng Đại học Cần Thơ.
Đánh giá hiệu quả việc thực nghiệm chƣơng trình giảng dạy đổi mới môn chuyên sâu bóng chuyền cho sinh viên ngành GDTC tại Trƣờng Đại học Cần Thơ. Giả thiết khoa học của luận án: Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện chƣơng trình giảng dạy môn chuyên sâu bóng chuyền cho sinh viên ngành GDTC Trƣờng Đại học Cần Thơ, làm rõ ƣu nhƣợc điểm của chƣơng trình. Từ đó làm cơ sở và là điều kiện lựa chọn lại nội dung để xây dựng đổi mới chƣơng trình giảng dạy môn bóng chuyền cho phù hợp với đặc điểm đối tƣợng, các điều kiện đảm bảo, góp phần nâng cao chất lƣợng cho sinh viên ngành giáo dục thể chất nói riêng, nhằm đào tạo một đội ngũ giáo viên TDTT có chất lƣợng theo hƣớng đáp ứng nhu cầu xã hội, đảm bảo theo tiêu chuẩn chuẩn đầu ra mà nhà trƣờng đã công bố theo mục tiêu đào tạo đặt ra. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác đào tạo cán bộ TDTT trong giai đoạn hiện nay 1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác TDTT trong giai đoạn mới Các quan điểm của Đảng về phát triển TDTT là những định hƣớng cơ bản để xác định vị trí và mối quan hệ của toàn bộ sự nghiệp TDTT đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.các mối quan hệ nội tại của TDTT. Vì vậy đó chính là các cơ sở để lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một thời kỳ tƣơng đối dài. Các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, thứ VII và thứ VIII, IX và X của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trƣơng lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong sự nghiệp đổi mới [99].
Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng giao lƣu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nƣớc. Thể dục thể thao là một phƣơng tiện có hiệu quả để nâng cao sức khoẻ và thể lực cho nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần tích cực bồi dƣỡng nguồn lực con ngƣời, đáp ứng yêu cầu lao động và sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc. Do vậy phát triển TDTT đƣợc coi nhƣ một nội dung quan trọng của chính sách xã hội nhằm chăm lo và bồi dƣỡng nguồn lực con ngƣời [8]. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa IX trình bày tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, về thể dục thể thao đã nêu rõ: Xây dựng chiến lƣợc quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con ngƣời Việt Nam, tăng cƣờng tuổi thọ, cải thiện chất lƣợng giống nòi.
Tăng cƣờng thể lực của thanh niên. Phát triển mạnh thể dục thể thao, kết hợp tốt thể thao phong trào và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại. Có chính sách và cơ chế phù hợp để phát hiện, 5 bồi dƣỡng và phát triển tài năng, đƣa thể thao nƣớc ta đạt vị trí cao của khu vực, từng bƣớc tiếp cận với châu lục và thế giới [3], [92]. Ngày 3/12/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2198/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lƣợc phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020.
Theo đó, Chiến lƣợc phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 sẽ tập trung với 3 nội dung chủ yếu là: TDTT cho mọi ngƣời; Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp; Ủy ban Olympic Việt Nam và tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thể thao. Chiến lƣợc nhằm xây dựng và phát triển nền TDTT nƣớc nhà để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc và tăng tuổi thọ của ngƣời Việt Nam theo tinh thần vì sự nghiệp dân cƣờng, nƣớc thịnh, hội nhập và phát triển [83], [98]. TDTT luôn phải gắn liền với việc an sinh xã hội, vừa tăng cƣờng sức khỏe cho ngƣời tập luyện, vừa tạo sân chơi lành mạnh giúp nhân dân tránh xa các tệ nạn xã hội. TDTT còn phải gắn liền với việc giáo dục đạo đức cho con ngƣời, gắn với hợp tác quốc tế, tăng tình đoàn kết giữa các nƣớc; gắn liền với phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đó cũng chính là mục tiêu lớn mà thể thao Việt Nam hƣớng tới [92]. Hiện nay, văn kiện trình Đại hội XII Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trƣờng, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.