Chương 1: Cơ sở khoa học về xác định điểm, tuyến du lịch Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định điểm, tuyến du lịch ở tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch và xác định các điểm, tuyến du lịch ở tỉnh Quảng Nam. Chương 4: Định hướng và giải pháp khai thác và phát triển có hiệu quả các điểm, tuyến du lịch ở tỉnh Quảng Nam đến năm 2030. 10 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ XÁC ĐỊNH ĐIỂM, TUYẾN DU LỊCH 1.
Tổng quan nghiên cứu 1. Trên thế giới Nghiên cứu về điểm, tuyến và xác định điểm, tuyến DL đã được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau như tổ chức lãnh thổ (TCLT), đánh giá TN, sức chứa lãnh thổ, xác định điểm, tuyến DL,. Nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ du lịch, điểm, tuyến du lịch Các nghiên cứu đã xác định vị trí của điểm, tuyến DL trong sơ đồ TCLT DL của một QG, vùng, địa phương.Mirosnhitrenco khi đánh giá lãnh thổ, đưa ra những khái niệm về vùng DL nhằm hình thành và phát triển các tổng thể lãnh thổ DL ở Liên Xô [10]; E.Kotliarov (1978), đã đưa ra các chỉ tiêu phân vùng và phân vị lãnh thổ DL, trong đó có điểm DL.Xtauxkat (1969) nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá các ĐK phục vụ cho quy hoạch lãnh thổ DL các cấp (trong đó, điểm DL được xác định là cấp quan trọng) ở Liên Xô.Pirôgiơnic (1985) đã phân tích hệ thống lãnh thổ DL, các vùng DL như là đối tượng cho quy hoạch và quản lý. Ở Đức, có công trình “Đánh giá các điều kiện tự nhiên và xây dựng các dự án quy hoạch các trung tâm nghỉ dưỡng” (M.
Các nghiên cứu trên đều xác định điểm DL là hình thức TCLT ở cấp phân vị thấp nhất và có vai trò quan trọng. Nghiên cứu về tài nguyên và sức chứa lãnh thổ tác động đến xác định điểm, tuyến du lịch Hướng nghiên cứu này được nhiều nhà khoa học thực hiện.Phêđôrôp (1921) đã đánh giá thành phần khí hậu phục vụ DL theo phương pháp khí hậu tổng hợp.Mukhina (1973) trong công trình “Những nguyên tắc và phương pháp đánh giá kỹ thuật các tổng thể tự nhiên” đã đưa ra những nguyên tắc và phương pháp chung nhất để tiến hành đánh giá các thành phần phục vụ phát triển DL, trong đó có điểm, tuyến DL.Budriunax đã XD thang điểm chi tiết về mỹ cảm cho 130 dấu hiệu của phong cảnh bao gồm cả địa hình, nước và thực vật để đánh giá TN tại các điểm DL. Các 12 nghiên cứu này đã đánh giá các giá trị của TN tại các điểm DL, phù hợp với tiêu chí độ HD vận dụng để xác định các điểm DL trong luận án. Tổ chức DL thế giới (UNWTO) sử dụng các chỉ tiêu (khí hậu, cảnh quan,.) cho phát triển BV làm căn cứ để đánh giá, sử dụng các loại TN cho phát triển DL trên thế giới [139].
Tổ chức UNESCO (1972) đã thành lập Hội đồng Di sản thế giới (WHC) và tiến hành XD các ĐK, tiêu chuẩn, tiêu chí công nhận các di sản thế giới [140]. Những di sản sau khi được công nhận toàn cầu đều trở thành các điểm DL có sức hút đối với khách nội địa và QT.Raybnouard (2000), trong “Quy hoạch du lịch”, đã dùng phiếu xác định nguồn TN gồm 9 chỉ tiêu: “(1) Tên và định vị của nguồn TN; (2) Quan hệ của nó với nguồn TN khác và những chu trình lưu thông liên quan; (3) CSHT và những thiết bị đặc thù; (4) Tín hiệu của nó và sự tiếp cận với nó; (5) Lịch trình sử dụng và khai thác nó; (6) Trình độ và mức độ sử dụng; (7) Người sở hữu; (8) Người hoặc tổ chức chịu trách nhiệm quy hoạch, bảo tồn, quản lý hoặc cho thuê nó; (9) Những đặc trưng đáng chú ý: như LS công trình XD, kiểu kiến trúc,. Các tác giả cũng đưa ra cách xác định giá trị thông qua lập một bảng chuẩn từ 0-10 điểm hoặc một barem điểm định tính: giá trị cao, trung bình và thấp. Từ đó, cộng tất cả những giá trị được xác định cho từng TN sẽ cho ra điểm đánh giá tổng cộng [10].
Ở Mỹ có công trình nghiên cứu về “Công cụ đánh giá và phát triển tài nguyên du lịch” do Đại học Illinois, Hoa Kỳ thực hiện, trong đó đánh giá TN gồm 7 bước (đánh giá TN là một trong những bước quan trọng của công cụ) với thang điểm 4 hoặc 5 cấp. Có 4 tiêu chí đánh giá TN gồm: “(1) tính khác biệt, (2) chất lượng tổng thể TN, (3) sức HD và (4) động lực cho DL của điểm TN” [141]. Nghiên cứu của G.Raybnouard, Elleen Guierrez và của Đại học Illinois đề cập đến nhiều chỉ tiêu liên quan đến xác định điểm DL như giá trị và độ HD của TN DL, vị trí và khả năng tiếp cận, CSHT, CSVCKT, công tác quản lý, khai thác và quy trình, thang, hệ số, phương pháp xác định, phân loại điểm DL. Đây là những tiêu chí quan trọng có thể vận dụng trong luận án.
Kostrovixki (1970) và Vacdunxki (1973) nghiên cứu xác định dung lượng tối ưu 13 khách DL cho mỗi cảnh quan tự nhiên. Năm 1978, Hội đồng Châu Âu đã tổ chức hội thảo: “Các nguyên lí chịu tải và khả năng chịu tải ở vùng núi Alpes. Phân tích các sức ép đối với không gian” [10].Baud Bovy và F.Lowson đưa ra các tiêu chí, định mức về sức chứa vận dụng trong dự án quy hoạch đảo Sip [122]. Ở Hoa Kỳ, Mieczkowski (1995) đã “phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của du lịch đối với tài nguyên tự nhiên và môi trường, sức tải của các điểm du lịch và đưa ra một số biện pháp nhằm đảm bảo phát triển du lịch bền vững” [125].
Các nghiên cứu này liên quan đến tiêu chí khả năng đón khách, sức chứa lãnh thổ, sức chịu tải của điểm DL. Đây cũng là nội dung quan trọng để tác giả nghiên cứu vận dụng vào luận án. Nghiên cứu về điểm, tuyến du lịch và xác định điểm, tuyến du lịch Các nhà khoa học thuộc tổ chức ICURP gồm Lechoslaw Czernic, Halina Orlinska (Ba Lan) và Edfrank (Hà Lan) (1994) “đã nghiên cứu xác định các điểm, tuyến DL giữa biên giới Ba Lan – Đức và KV ven biển phía Bắc của biển Bantic thuộc lãnh thổ Ba Lan – Đức. Bắt đầu từ việc phân tích các ĐK tự nhiên, KT-XH để xác định các điểm – tuyến DL, sau đó nhấn mạnh bảo vệ MT sinh thái trên quan điểm BV cho ngành DL tại vùng này” [dẫn theo 38].
Peter Zimmer, Simone Grassmann (1996) cùng các cộng sự trong ấn phẩm “Đánh giá tiềm năng du lịch của lãnh thổ” (Evaluating a Territory’s touristics potential) đã đưa ra quy trình trong việc đánh giá tiềm năng DL của một địa phương gồm hai giai đoạn: “Giai đoạn 1: Phân tích tình hình DL địa phương bao gồm việc phân tích khả năng cung cấp, nhu cầu, sự cạnh tranh, thị trường khách (gồm 05 tiêu chí như: (1) Tổ chức hoạt động DL; (2) Tiếp thị DL; (3) Vấn đề đào tạo trong ngành DL; (4) Sự hợp tác cùng phát triển; (5) Các cơ chế, chính sách hỗ trợ). Giai đoạn 2: Đánh giá kết quả thông qua so sánh kết quả phân tích thực trạng từ đó đưa ra các điểm mạnh, điểm yếu và định hướng phát triển DL trong KV” [124]. Ở Trung Quốc, Liu Xiao (2006), đã đưa ra“Mô hình đánh giá tài nguyên du lịch – QEPP: Trường hợp nghiên cứu ở Bắc Kinh”. Tác giả đưa ra phân loại TN DL và XD một phương pháp đánh giá mới với 08 chỉ tiêu theo mô hình QEPP (Q:Quality, E:Environment, P:Position và P:Pubic Praise) gồm: “(1) Cấp (hạng công nhận) TN (từ 1-4A); (2) Mức độ phong phú của cảnh quan; (3) Diện tích KV; (4) Quy mô dân số đô thị trung tâm; (5) Khoảng cách đến trung tâm TP; (6) Mức độ tập trung TN; (7) Vị trí; (8) Giá trị cộng đồng”, trong đó, mỗi tiêu chí đều có 5 14 mức đánh giá với số điểm là A=10 điểm, B=8 điểm, C=6 điểm, D=4 điểm, E =2 điểm.
Trong đó, cấp TN được đánh giá ở hệ số 4. Từ các tiêu chí, tác giả đã tiến hành đánh giá các điểm DL tại TP Bắc Kinh [123]. Tổ chức Lao động QT (ILO) (2012) đã XD “Bộ công cụ Hướng dẫn giảm nghèo thông qua du lịch”, trong đó, Bộ công cụ xếp hạng điểm tham quan với 9 tiêu chí và mức điểm tối đa tương ứng gồm: “(1) Điểm tham quan DL thiên nhiên (15 điểm); (2) Đa dạng sinh học (15 điểm); (3) VH trải nghiệm (15 điểm); (4) Tượng đài VH (10 điểm); (5) LS và truyền thống (5 điểm); (6) Dễ tiếp cận (10 điểm); (7) Các điểm DL hiện có (5 điểm); (8) MT trực tiếp (10 điểm) (9) Dễ hỏng (15 điểm)”. Với thang điểm 100, Bộ công cụ đã đưa ra 6 bậc phân loại điểm DL gồm: “Trên 80 điểm: Chất lượng hàng đầu; từ 70-80 điểm: chất lượng tuyệt vời; từ 60-70 điểm: chất lượng rất tốt; Từ 50-60 điểm: chất lượng tốt; từ 40-50 điểm: chất lượng khá tốt; dưới 40 điểm: điểm tham quan nằm trong phạm vi không bổ sung bất kỳ giá trị đáng kể nào” [90].
Các nghiên cứu của tổ chức ICURP, N.Tirođokhlebok, Peter Zimmer, Simone Grassmann, Liu Xiao, ILO,. đã đề cập đến nhiều tiêu chí xác định điểm, tuyến DL như độ HD của TN DL, MT DL, vị trí địa lý, khả năng LK, công tác quản lý, các cơ chế chính sách và quy trình, thang, hệ số và phân loại điểm DL. Đây là những tiêu chí quan trọng được tác giả nghiên cứu để vận dụng trong luận án. Nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ điểm, tuyến du lịch Nghiên cứu điểm, tuyến DL được thực hiện cùng với nghiên cứu, quy hoạch lãnh thổ DL các cấp.
Trong các nghiên cứu, điểm, tuyến DL luôn được xác định là hình thức TCLT quan trọng. Các công trình công trình nhiên cứu như “Sơ đồ phát triển và phân bố ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 1986-2000” (chương trình 70- 01, Đề tài 70-01-04.05) của Tổng cục DL Việt Nam (1986); “Xây dựng luận chứng khoa học kỹ thuật xây dựng và phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam” trong công trình “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (Vũ Tuấn Cảnh, 1991, 1995) [9]; “Xây dựng chỉ tiêu phân vùng du lịch Việt Nam và xác định những nội dung chính trong quy hoạch du lịch cấp tỉnh” (Lê Thông, 1991) [76]. Theo Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch (1991), TCLT DL Việt Nam gồm 5 cấp điểm DL, trung tâm DL, tiểu vùng, á vùng và vùng DL [dẫn theo 98]. Tổng Cục DL Việt Nam (1995), XD “Quy hoạch tổng thể phát triển DL Việt Nam giai đoạn 1995- 15 2010” và “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể DL Việt Nam đến 2015, tầm nhìn 2020”.