Tổng quan luận án
Quan hệ giữa Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là mối quan hệ láng giềng gắn kết bởi hơn 2.337 km đường biên giới tự nhiên và lịch sử cùng chung vận mệnh chính trị. Từ năm 1986, khi cả hai nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh kết thúc, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, trật tự quốc tế và khu vực Đông Nam Á có những biến chuyển căn bản. Mặc dù mối quan hệ hai nước đã được nâng từ "hữu nghị truyền thống" lên "hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện", nhưng việc Lào đẩy mạnh đa phương hóa, hội nhập quốc tế và trở thành đối tượng cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn (đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan) đã đặt ra những thách thức mới cho quan hệ song phương.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Lào, phần lớn đều tiếp cận đơn tuyến từ phía Việt Nam, tập trung vào công tác tuyên truyền chính trị, hoặc giới hạn ở từng giai đoạn, từng lĩnh vực riêng lẻ. Chưa có công trình sử học độc lập nào tái hiện toàn diện, hệ thống tiến trình quan hệ Lào - Việt Nam xuyên suốt 30 năm Đổi mới (1986 - 2016) trên cả bình diện song phương lẫn đa phương.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở tái hiện chân thực, khách quan và có hệ thống, luận án làm rõ sự vận động, đặc điểm, bản chất và tác động của quan hệ Lào - Việt Nam trên các mặt khác nhau (cả song phương và đa phương) giai đoạn 1986 - 2016 trong bối cảnh quốc tế, khu vực và tình hình mỗi nước có những thay đổi căn bản.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, làm rõ nền tảng và những nhân tố tác động đến quan hệ Lào - Việt Nam; phân tích, luận giải những nhân tố làm nên mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước từ năm 1986 đến năm 2016.
- Hệ thống hoá, phân tích tiến trình quan hệ Lào - Việt Nam trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và hợp tác đa phương từ năm 1986 đến năm 2016.
- Đánh giá những thành tựu nổi bật, những khó khăn, thách thức trong quan hệ Lào - Việt Nam và tác động của nó đến tình hình của mỗi nước và khu vực; từ đó rút ra tính chất, đặc điểm riêng có của quan hệ Lào - Việt Nam (1986 - 2016).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển quan hệ giữa Lào với Việt Nam trên các lĩnh vực từ năm 1986 đến năm 2016.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ hai nước Lào và Việt Nam; các cơ chế hợp tác song phương; quan hệ giữa các địa phương biên giới; các khuôn khổ đa phương khu vực như ASEAN, Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) và Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (TGPT CLV).
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn 30 năm Đổi mới (1986 - 2016). Luận án cũng khảo sát giai đoạn lịch sử trước năm 1986 để làm rõ tiền đề và cội nguồn của quan hệ đặc biệt.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu được tác giả phân định thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
Các nhóm nghiên cứu trong nước:
- Nhóm văn kiện, công trình định hướng chính trị: Tiêu biểu là công trình đồng biên soạn của hai Đảng Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007) (2012) và công trình của Ban Tuyên giáo Trung ương Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào (1930 - 2017) (2017), xác lập quan điểm chính thống về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt.
- Nhóm công trình nghiên cứu tổng thể: Gồm các chuyên khảo của Vũ Dương Huân (Quan hệ đặc biệt Việt - Lào, 2003), Nguyễn Duy Dũng (Phát triển quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào trong bối cảnh mới, 2012), Lê Đình Chỉnh (2007, 2017), luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Nam (Quan hệ Việt Nam - Lào từ năm 1975 - 2005, 2007) và Nhotkhamani Souphanouvong (Những nhân tố chi phối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam từ năm 1986 - 2011, 2016). Các công trình về quan hệ cấp địa phương dọc biên giới của Bùi Văn Hào (2011), Trần Trọng Tứ (2014), Đặng Thị Hồng Liên (2018).
- Nhóm nghiên cứu chuyên sâu theo lĩnh vực:
- Chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh: Nguyễn Xuân Thắng (2017), Vũ Dương Huân (2007), Trương Duy Hòa (2017), Bounthan Kousonsanong (2006), Nguyễn Tiến Ngọc (2007), Vilay Duangmani (2007).
- Kinh tế: Nguyễn Quốc Nghi và Hoàng Thị Hồng Lộc (2011), Kim Ngọc (2012), Nguyễn Quang Hiệp (2012), Trịnh Quang Hưng (2016), Trương Duy Hòa (2017, 2019), Nguyễn Thương Huyền (2019).
- Văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và đối ngoại nhân dân: Đỗ Thị Thảo (2012), Bouapao Tytou (2007), Đỗ Thanh Bình (2017), Nguyễn Lê Phương (2018), Nguyễn Thị Mai (2019), Dương Thị Huệ (2011), Sompheng Xaynhavong (2019).
- Nhóm nghiên cứu hợp tác ba nước Đông Dương: Các công trình về Tam giác phát triển của Nguyễn Duy Dũng (2010), Nguyễn Thị Thanh Vân (2016), Nguyễn Đình Hiền (2013), Lê Quang Mạnh (2016), Phạm Đức Thành và Vũ Công Quý (2010).
Các nhóm nghiên cứu ngoài nước:
- Từ phía Lào: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của Bộ Ngoại giao Lào (2001), Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (2009), Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào (2015); các ấn phẩm của Thông tấn xã Pathet Lào (2000), Bộ Quốc phòng Lào (2007), Phân ban hợp tác Lào - Việt Nam (2006, 2007); nghiên cứu của Phetsamone Sorasuern (2007), Phitsanou Souvanhna (2000), Nhotkhamani Souphanouvong (2015).
- Từ các tổ chức quốc tế và học giả quốc tế: Báo cáo kinh tế của WB, ADB, OECD; nghiên cứu của Syviengxay Oraboune (2008), Dean Forbes và Cecile Culter (2006), Tsutomu Murano (1992), John Walsh (2015), Leeber Leebouapao (2008). Các nghiên cứu về ảnh hưởng của Trung Quốc tại Lào của Martin Stuart-Fox (2009), Nick Freeman (2019), David Hutt (2018), Zhu Zhenming (2010). Các nghiên cứu về an ninh và địa chính trị của Vatthana Pholsena và Michael Smithies (2006), Prashamth Parameswaran (2018), Khang Vu (2020), Andrew Korybko (2015), Michael Hart (2017), Edgar Pang (2017).
Khoảng trống luận án giải quyết: Phần lớn công trình quốc tế chỉ nhìn nhận quan hệ Lào - Việt Nam trước năm 1986 hoặc đặt Lào trong tương quan so sánh địa chính trị với Trung Quốc; các công trình trong nước chủ yếu tiếp cận theo góc nhìn một chiều từ Việt Nam hoặc phục vụ sự kiện chính trị. Luận án giải quyết khoảng trống về một công trình sử học độc lập, phân tích đối sánh 30 năm quan hệ song phương và đa phương (1986 - 2016) trên cơ sở kết hợp nguồn tư liệu từ cả hai quốc gia.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích:
- Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Quán triệt đường lối, quan điểm, chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về quan hệ hữu nghị đặc biệt.
- Sử dụng quan điểm hệ thống để phân tích mối quan hệ giữa hai chủ thể quốc gia có chủ quyền trong sự tương tác với các biến chuyển của cục diện quan hệ quốc tế, quan hệ giữa các nước lớn và cấu trúc an ninh khu vực.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Đây là hai phương pháp nền tảng, được sử dụng xuyên suốt để tái hiện tiến trình vận động cụ thể của mối quan hệ qua từng mốc thời gian, đồng thời khái quát hóa bản chất, quy luật và tính chất đặc thù của quan hệ hai nước.
- Phương pháp nghiên cứu quốc tế, tổng hợp, thống kê, so sánh: Dùng để phân tích các chỉ số phát triển kinh tế, số liệu thương mại, quy mô đầu tư, khoảng cách vận tải và tương quan can dự của các đối tác bên ngoài tác động đến quan hệ song phương.
Nguồn tư liệu khai thác:
- Tư liệu gốc (sơ cấp): Văn kiện Đại hội Đảng, nghị quyết, chỉ thị của hai Đảng; các hiệp định, hiệp ước, nghị định thư, tuyên bố chung giữa hai Chính phủ từ năm 1945 đến 2016; báo cáo tổng kết định kỳ của Ủy ban liên Chính phủ, Phân ban hợp tác hai nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính; số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Hải quan, cơ sở dữ liệu của các tổ chức quốc tế (WB, ADB).
- Tư liệu thứ cấp: Sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước, các luận án tiến sĩ liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu quan hệ Lào - Việt Nam (1986 - 2016)
Chương này phân loại, tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước, tại Lào và trên trường quốc tế về quan hệ hai nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố cung cấp bức tranh dữ liệu phong phú về liên minh chiến đấu thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ và các hiệp định giai đoạn 1975 - 1986. Tuy nhiên, mảng nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2016 còn bộc lộ điểm hạn chế: thiên về tổng kết chính trị, thiếu tính bao quát đa chiều về sự tác động tương hỗ giữa chuyển đổi kinh tế nội tại của Lào với chính sách đối ngoại của Việt Nam, cũng như chưa phân tích đầy đủ sự cạnh tranh chiến lược của các nước lớn tại địa bàn Lào trong thời kỳ Đổi mới.
Chương 2: Cơ sở và nhân tố tác động đến quan hệ Lào - Việt Nam (1986 - 2016)
Chương 2 luận giải các nền tảng tự nhiên, lịch sử và các nhân tố định hình quan hệ hai nước:
- Cơ sở địa lý, văn hóa và thân phận lịch sử: Tuyến biên giới trên đất liền dài 2.337,459 km trải dài qua 10 tỉnh của Lào và 10 tỉnh của Việt Nam. Dãy Trường Sơn giữ vai trò trục tự nhiên kết nối sườn Đông và sườn Tây. Lào là quốc gia không giáp biển, các tuyến giao thông huyết mạch xương cá nối sang Việt Nam giữ vai trò cửa ngõ ra biển gần nhất:
| Tuyến giao thông |
Điểm kết nối (Lào - Việt Nam) |
Cửa khẩu / Cảng biển tiếp cận |
| Quốc lộ 6 |
Sam Nuea (Houaphanh) - Thanh Hóa |
Cửa khẩu Na Mèo / Cảng Nghi Sơn (qua QL 217) |
| Quốc lộ 7 |
Xiangkhouang - Nghệ An |
Cửa khẩu Nậm Cắn / Cảng Cửa Lò |
| Quốc lộ 8 |
Borikhamsai - Hà Tĩnh |
Cửa khẩu Cầu Treo / Cảng Vũng Áng |
| Quốc lộ 12 |
Khammouane - Quảng Bình |
Cửa khẩu Cha Lo / Cảng Hòn La |
| Quốc lộ 9 |
Savannakhet - Quảng Trị |
Cửa khẩu Lao Bảo / Hành lang Kinh tế Đông - Tây (EWEC) ra Cảng Đà Nẵng |
| Quốc lộ 18B |
Attapeu - Kon Tum |
Cửa khẩu Bờ Y / Vùng Tây Nguyên |
| Quốc lộ 13 |
Nối Pakse (Lào) - Kratié (Campuchia) - TP. Hồ Chí Minh |
Kết nối vùng Đông Nam Bộ |
- Địa giới hành chính 10 cặp tỉnh biên giới giáp nhau:
- Phía Lào: Phongsaly, Luang Prabang, Houaphanh, Xiangkhouang, Borikhamsai, Khammouane, Savannakhet, Salavane, Sekong, Attapeu.
- Phía Việt Nam: Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Kon Tum.
- Liên minh lịch sử trước năm 1986:
- Giai đoạn 1930 - 1954: Thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (1930), Xứ ủy lâm thời Ai Lao (9/9/1934), Nghị quyết Hội nghị TW 8 (5/1941), thắng lợi khởi nghĩa tháng Tám và Tuyên bố độc lập Lào (10/1945), Hiệp ước tương trợ Lào - Việt (16/10/1945), Hiệp định tổ chức liên quân Lào - Việt (30/10/1945), Đội vũ trang Latsavong (20/1/1949), Mặt trận Neo Lao Issara (1950), Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương (1951), thành lập Khối Liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào (11/3/1951) và chiến thắng Điện Biên Phủ dẫn đến Hiệp định Genève 1954.
- Giai đoạn 1954 - 1975: Thành lập Đảng Nhân dân Lào (22/3 - 6/4/1955), Mặt trận Lào yêu nước (1956), Đại hội II đổi tên thành Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (1972), các chiến dịch phối hợp lớn (Nambak 1968, Cù Kiệt 1969 - 1970, Đường 9 - Nam Lào 1971), dẫn đến sự ra đời của nước CHDCND Lào (2/12/1975).
- Giai đoạn 1975 - 1986: Nghị quyết 251-NQ/TW của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (30/4/1976); ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia (18/7/1977); Hiệp ước phòng thủ (22/9/1977); thành lập Binh đoàn 678 (6/1978); Hiệp định liên minh quân sự (23/2/1984); hoàn thành cắm mốc thực địa (25/7/1978 - 24/1/1986) dựa trên bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000; hợp tác khai thác mỏ thạch cao Dong Hen (10 vạn tấn/năm), thăm dò kali tại Vientiane.
- Nhân tố tác động thời kỳ Đổi mới (1986 - 2016): Nhân tố nội sinh gồm đường lối đổi mới của Đại hội IV Đảng NDCM Lào và Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), nhu cầu tăng trưởng kinh tế vĩ mô và mở rộng cảng biển của Lào. Nhân tố ngoại sinh gồm cục diện sau Chiến tranh Lạnh, tiến trình mở rộng ASEAN, sự trỗi dậy của Trung Quốc thông qua Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), dòng vốn FDI Trung Quốc vào Lào (2012 - 2016) và các chính sách can dự khu vực từ Mỹ, EU, Ấn Độ.
Chương 3: Quan hệ Lào - Việt Nam trên các lĩnh vực chủ yếu
Chương 3 trình bày chi tiết thực trạng triển khai quan hệ hợp tác qua các trụ cột chính:
- Chính trị - Ngoại giao: Duy trì cơ chế gặp gỡ thường niên cấp cao giữa hai Bộ Chính trị, hai Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội và Chính phủ. Triển khai đồng bộ 3 kênh: Ngoại giao Đảng, Ngoại giao Nhà nước và Đối ngoại Nhân dân. Nâng cấp định vị quan hệ lên "mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện".
- Quốc phòng - An ninh: Phối hợp giữ vững an ninh biên giới, ngăn chặn vượt biên trái phép, phòng chống diễn biến hòa bình, buôn lậu và tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; thực hiện các cơ chế phòng chống ma túy (AMMTC, SOMTC, ACCORD, ASOD). Việt Nam hỗ trợ đào tạo sĩ quan, cán bộ chỉ huy quân sự và an ninh cho Lào; phối hợp tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào.
- Kinh tế, Thương mại và Đầu tư: Ký kết các hiệp định thương mại song phương và hiệp định thương mại biên giới; áp dụng ưu đãi thuế quan (cắt giảm thuế suất theo CEPT/AFTA và ATIGA). Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp (FDI) vào Lào trong các lĩnh vực: năng lượng thủy điện, khai khoáng, trồng và chế biến cao su, viễn thông (liên doanh Unitel của Viettel), nông nghiệp công nghệ cao và hệ thống ngân hàng thương mại.
- Văn hóa, Giáo dục - Đào tạo và Khoa học - Công nghệ: Đào tạo nguồn nhân lực là lĩnh vực hợp tác chiến lược. Hàng ngàn lưu học sinh, cán bộ quản lý và cán bộ lý luận của Đảng NDCM Lào được cử sang học tập tại các trường đại học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội và chuyển giao công nghệ ứng dụng.
- Hợp tác đa phương: Phối hợp lập trường chặt chẽ trong khuôn khổ ASEAN (xây dựng các cộng đồng APSC, AEC, ASCC); hợp tác quản lý, khai thác bền vững nguồn nước sông Mekong trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS); triển khai các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới trong Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (TGPT CLV).
Chương 4: Một số nhận xét, đánh giá về quan hệ Lào - Việt Nam
Chương 4 tổng kết các mặt thành tựu, hạn chế và đúc kết bản chất của mối quan hệ:
- Thành tựu: Giữ vững sự ổn định chính trị, củng cố vững chắc môi trường an ninh, chủ quyền lãnh thổ của mỗi nước; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; kim ngạch thương mại và dự án đầu tư có bước phát triển vượt bậc so với giai đoạn trước năm 1986; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Lào.
- Hạn chế: Quy mô trao đổi thương mại song phương chưa tương xứng với tiềm năng chính trị; tiến độ triển khai một số dự án đầu tư hạ tầng giao thông và năng lượng còn chậm; cơ chế giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính qua biên giới còn phức tạp; khả năng cạnh tranh về nguồn vốn và công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào chịu sức ép lớn từ các nhà đầu tư Trung Quốc, Thái Lan.
- Tính chất, đặc điểm: Quan hệ Lào - Việt Nam mang tính chất liên minh chiến lược khách quan, chia sẻ sống còn về an ninh ("Lào có ổn định thì Việt Nam mới ổn định và ngược lại"), là mối quan hệ đặc biệt dựa trên sự tương đồng về ý thức hệ, lòng tin chính trị tuyệt đối giữa hai Đảng cầm quyền và sự gắn bó giữa hai dân tộc.
- Tác động: Đảm bảo không gian an ninh phía Tây cho Việt Nam; mở lối thoát ra biển, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế cho Lào; duy trì cân bằng chiến lược và củng cố khối đoàn kết nội khối ASEAN trên bán đảo Đông Dương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học:
- Tái hiện một cách hệ thống, toàn diện và khách quan bức tranh quan hệ Lào - Việt Nam trong 30 năm Đổi mới (1986 - 2016) dưới góc độ khoa học lịch sử.
- Luận giải cơ sở hình thành, các nhân tố thúc đẩy cũng như các rào cản tác động đến mối quan hệ; làm rõ bước chuyển từ mô hình hỗ trợ, viện trợ bao cấp sang mô hình hợp tác bình đẳng, cùng có lợi trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đúc kết tính chất, đặc điểm riêng biệt của mối quan hệ "hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt", phân tích tác động nhiều chiều của mối quan hệ này đối với an ninh, phát triển của từng quốc gia và cấu trúc khu vực.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử xác thực, có hệ thống phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử thế giới và ngoại giao Đông Nam Á tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam nhận diện các nhân tố cạnh tranh chiến lược, từ đó điều chỉnh cơ chế hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và đào tạo cán bộ với Lào trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Về nguồn tư liệu tiếng Lào, do tác giả không trực tiếp sử dụng ngôn ngữ Lào nên việc tiếp cận tài liệu sơ cấp từ các cơ quan Đảng, Nhà nước Lào chủ yếu thông qua các bản dịch tiếng Việt hoặc tài liệu công bố chính thức tại Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang giai đoạn sau năm 2016; tăng cường khai thác các nguồn văn khố lưu trữ gốc bằng tiếng Lào; khảo sát sâu hơn tác động từ các dự án cụ thể của Sáng kiến Vành đai và Con đường (như tuyến đường sắt cao tốc Lào - Trung Quốc) đối với cán cân quan hệ Lào - Việt Nam và cấu trúc liên kết kinh tế tiểu vùng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Thế giới, Quan hệ Quốc tế, Đông Nam Á học; cán bộ làm công tác đối ngoại, an ninh quốc phòng và các nhà hoạch định chính sách thuộc Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương.
- Các nội dung đáng tham khảo: Hệ thống dữ liệu lịch sử về các hiệp định, hiệp ước hoạch định và cắm mốc biên giới đất liền (1977 - 1986); phân tích mạng lưới giao thông kết nối liên vùng (các quốc lộ 6, 7, 8, 9, 12, 18B, 217); thực trạng đầu tư trực tiếp và các cơ chế phối hợp an ninh, kiểm soát ma túy, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia giữa hai nước.
Câu hỏi thường gặp
-
Cơ sở địa lý tự nhiên nào giữ vai trò quan trọng nhất trong việc gắn kết an ninh và kinh tế giữa Lào và Việt Nam?
Đó là đường biên giới đất liền dài 2.337,459 km trải dọc dãy Trường Sơn đi qua 10 cặp tỉnh của hai nước. Dãy Trường Sơn giữ vai trò phòng thủ sườn Tây cho Việt Nam, trong khi các tuyến quốc lộ huyết mạch chạy ngang (QL 6, 7, 8, 9, 12, 18B, 217) là những lối thông thương ra biển ngắn nhất đối với một quốc gia không giáp biển như Lào.
-
Văn kiện pháp lý nào đặt nền tảng căn bản cho quan hệ giữa hai nước sau năm 1975?
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam, cùng Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia, được ký kết ngày 18-7-1977, cam kết bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.
-
Hai nước đã tiến hành phân vạch và cắm mốc biên giới trên thực địa trong khoảng thời gian nào và dựa trên cơ sở bản đồ nào?
Việc phân vạch và cắm mốc thực địa diễn ra từ ngày 25-7-1978 đến ngày 24-1-1986, dựa trên cơ sở Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia năm 1977 và đối chiếu theo bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương.
-
Những cơ chế đa phương khu vực nào ghi nhận sự phối hợp chặt chẽ giữa Lào và Việt Nam?
Hai nước phối hợp chặt chẽ trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) và Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (TGPT CLV).
-
Nhân tố bên ngoài nào tác động lớn nhất đến môi trường kinh tế - an ninh của quan hệ Lào - Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2016?
Sự gia tăng ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc thông qua dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI), các chương trình viện trợ phát triển và các dự án cơ sở hạ tầng giao thông thuộc khuôn khổ Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) tại Lào.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Viết Xuân là công trình sử học tái hiện chân thực, khách quan và toàn diện tiến trình phát triển của quan hệ Lào - Việt Nam trong giai đoạn 30 năm Đổi mới (1986 - 2016). Công trình làm rõ quá trình vận động từ liên minh chiến đấu giải phóng dân tộc sang mô hình hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa - giáo dục và đa phương. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam là quy luật khách quan, nhân tố sống còn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước và góp phần duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực Đông Nam Á. Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử có độ tin cậy cao, mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật cũng như hoạch định chính sách đối ngoại.