chương ITXALA hạng Nhì của nhà nước Lào trao tặng,. và nhiều cá nhân, tập thể cũng được Bộ, Thủ tướng tặng bằng khen. Đó chính là sự ghi nhận xứng đáng dành cho những đóng góp lớn lao của nhà trường” [1-tr. Việt Nam giúp Lào về chuyên gia, cán bộ, công nhân kỹ thuật, đào tạo cán bộ, công nhân cho Lào.
“Theo số liệu của Lào thì tính trong sáu năm, từ khi hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trung bình mỗi năm Việt Nam cử 900 chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau sang giúp Lào và đã đào tạo 1/2 tổng số cán bộ của Lào được đào tạo ở nước ngoài” [2-tr. Giai đoạn 1986 - 2010 Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu cũng gặp rất nhiều khó khăn trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động. Các thế lực tư bản phương Tây đang tìm mọi cách thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong nội bộ hai nước, tình hình kinh tế cũng đang bị khủng hoảng nghiêm trọng.
Trước hoàn cảnh đó, Đảng và nhân dân hai nước đã đưa ra quyết định vô cùng đúng đắn và hợp thời, đó chính là thực hiện đường lối đổi mới toàn diện. Chính sự đổi mới toàn diện của hai nước đã làm thay đổi trên mọi lĩnh vực nói chung và trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục nói riêng. Năm 1986, đánh dấu thời kỳ đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của mỗi nước, đồng thời cũng đổi mới trong hợp tác giáo dục đào tạo của hai nước. Hai nước phối hợp tổ chức thực hiện chặt chẽ nhiều biện pháp có hiệu quả, đặc biệt là chủ động giảm số lượng để có điều kiện nâng cao chất lượng.
“Từ năm 1986 đến năm 1992, Việt Nam đã đào tạo cho Lào 537 cử nhân các ngành, 252 lưu học sinh trung cấp chuyên nghiệp” [1-tr. Vào những thập niên 90, Lào đã trở thành thành viên thứ 8 của khối các nước ASEAN. Số lượng LHS Lào được gửi đi các nước như: Thái Lan, Xingapo, Philippin và một số nước khác tăng đáng kể, nhưng ở Việt Nam lại giảm sút. Từ năm 1995, Chính phủ Lào và Việt Nam có chủ trương ngoài số đào tạo hệ chính quy còn cử số cán bộ Lào đã từng tốt nghiệp tại Việt Nam hiện đang giữ trọng trách tại các cơ quan Trung ương và đại phương sang Việt Nam học tập bồi dưỡng các khóa học ngắn hạn từ 3 – 6 – 9 tháng về các môn: Tiếng Anh, kỹ thuật vi tính và quản lý.
“Tính từ năm 1996 - 2006, số cán bộ lãnh đạo của Lào đi đào tạo bồi dưỡng nâng cao lý luận cao cấp cấp tốc 5 tháng có 200 người. Số cán bộ trung cấp ở các bộ ngành và địa phương đi bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn 3 tháng có 200 người. Số cán bộ là trụ cột của các Bộ, Ngành, tổ chức và địa phương của Lào đã hoàn thành bậc đào tạo tiến sĩ về lý luận chính trị có 80 người, thạc sĩ 118 người, trong đó 28 người là thạc sĩ quản lý hành chính.Tốt nghiệp đại học: 115 người; Tốt nghiệp đại học chính trị: 171 người; Tốt nghiệp đại học hành chính: 80 người” [16-tr. Như vậy việc đào tạo cán bộ cho Lào được đặt lên trên.
Đây là nguồn lực to lớn giúp cho Lào có được nguồn cán bộ phục vụ to lớn cho sự nghiệp đổi mới đất nước. Điều đó thể hiện sự hợp tác 18 c về giáo dục ngày càng mật thiết và tốt đẹp hơn. Vào thế kỷ 21, Đảng và hai Nhà nước Việt Nam và Lào ngày càng quan tâm hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực. “Từ năm 2001 đến 2007, hai bên đã thống nhất dùng 49,05% nguồn viện trợ (289,4 tỷ VNĐ) để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của Lào thông qua việc cấp học bổng cho cán bộ, học sinh Lào có mặt ở Việt Nam và đầu tư cho các cơ sở đào tạo tại Lào” [1-tr.
Về công tác đào tạo các lưu học sinh Việt Nam tại Lào được thể hiện trong các Hiệp định hợp tác từ 1995 đến 2002. “Theo Bộ Giáo dục Lào, hiện có 3.845 lưu học sinh Lào đang theo học nhiều ngành nghề khác nhau tại hàng chục trường đại học, học viện ở 20 tỉnh, thành của Việt Nam. Trong tổng số trên, có 1.112 sinh viên theo diện Hiệp định, 2.434 theo diện kết nghĩa giữa các tỉnh và cơ sở đào tạo của hai nước và 229 lưu học sinh tự túc. Từ năm 2006 đến nay, mỗi năm số lượng lưu học sinh Lào được gửi sang Việt Nam duy trì từ 550 đến 650 người” [19-tr.
Năm 2009, “Chính phủ Việt Nam cam kết dành 650 suất học bổng cho cán bộ, học sinh Lào theo học ở Việt Nam trong chương trình đại học, sau đại học và các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn tại Việt Nam. Bên cạnh đó phía Lào cũng dành cho Việt Nam 30 suất học bổng hệ đào tạo chính quy dài hạn tập trung cho cán bộ, học sinh học tập các ngành nghề tại Lào” [9-tr. Bên cạnh việc đào tạo cán bộ, học sinh Lào, Việt Nam còn dành cho Lào sự hỗ trợ to lớn về vật chất trong lĩnh vực giáo dục, các công trình trường học, sách giáo khoa, các thiết bị giáo dục.đã mang lại hiệu quả dạy và học to lớn cho ngành giáo dục Lào. Ký túc xá đầu tiên trong dự án này của lưu học sinh nước ngoài tại Đại học Quốc gia Viêng Chăn đã được khởi công tháng 11 năm 2000 và hoàn thành vào tháng 7 năm 2002.
Riêng công tác hỗ trợ giáo trình và sách giáo khoa từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, “Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã cung cấp khoảng 45 đầu sách giáo khoa từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông. Song song với công tác bồi dưỡng nhân lực và giúp đỡ cơ sở vật chất Lào,Việt Nam cũng đã giúp Lào trong công tác chuyên gia, chuyển giao kỹ thuật và phối hợp nghiên cứu khoa học. Chính phủ Lào dành tiêu chuẩn cho 6 đến 10 chuyên gia, giáo sư Việt Nam có điều kiện sang tham quan ở Lào từ 5 – 7 ngày” [9-tr.318], toàn bộ chi phí do phía Lào tài trợ. Đây là nguồn 19 c động viên lớn lao, thể hiện sự quan tâm chu đáo đầy nghĩa tình của Đảng và Chính phủ Lào đối với Việt Nam.
Trong những năm qua mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, phía Lào cũng đã sẵn sàng thúc đẩy hợp tác Lào – Việt thông qua cả hình thức đào tạo sinh viên Việt Nam tại Lào. Từ năm 1992 tới nay đã có hàng trăm sinh viên, cán bộ được cử sang Lào học tập nghiên cứu tại Trường Đại học Quốc gia Lào. Hiện nay, “số lượng lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại Lào là 105 người” [8- tr. Mặc dù khó khăn song phía Lào vẫn cố gắng đảm bảo học bổng và các điều kiện học tập sinh hoạt khác cho lưu học sinh Việt Nam tại Lào.
Đây là thành tích đáng kể của hai ngành Giáo dục Đào tạo. Những sinh viên và cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Lào là nguồn nhân lực quan trọng trong việc phát triển hợp tác chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học với nước bạn Lào. Từ năm 1986 đến 2010 là giai đoạn mà cả hai nước đều tiến hành đổi mới nên đời sống tinh thần cũng được tăng lên và ngày càng được chú trọng. Hai nước có hệ tư tưởng và những nét văn hóa truyền thống khá tương đồng, và trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ thì sự hợp tác về văn hóa của Lào chủ yếu là với Việt Nam.
Chính vì thế giai đoạn này hai bên đã có sự giao lưu văn hóa, nghệ thuật mang đậm nét văn hóa truyền thống của hai nước. Đó là cơ sở và điều kiện cho sự hợp tác về văn hóa giữa hai nước diễn ra mạnh mẽ. Ở giai đoạn này các đoàn nghệ thuật của hai nước thường xuyên giao lưu và lưu diễn tạo không khí chan hòa cởi mở và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Ngoài ra, sự giúp đỡ về cơ sở vật chất cũng giúp cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật của Lào được phong phú và đa dạng hơn.
Nhân dịp quốc khánh nước CHDCND Lào (2 tháng 12 năm 1996) đoàn nghệ thuật do ông Khămbang Thipphavong dẫn đầu đến thăm và biểu diễn ở Việt Nam.Trong đó, “có 25 cán bộ, diễn viên ca múa nhạc dân tộc Lào đã ra mắt khán giả Việt Nam trong hai đêm diễn với một chương trình nghệ thuật sinh động, đậm đà bản sắc Lào. Nhân dịp kỷ niệm 26 năm ký Hiệp ước hữu nghị Việt Nam - Lào (18/ 7/ 1977- 18/ 7/ 1997) đoàn nghệ thuật xiếc Việt Nam gồm 25 người cũng sang biểu diễn tại Việt Nam” [5-tr. Đây là biểu hiện sinh động của tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Một sự kiện không thể không nhắc đến khi đề cập đến hợp tác văn hóa Việt - Lào là ngày 20 c 05/03/2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam Hoàng Tuấn Anh cùng Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa Lào Mounkeo Olaboune đã ký kết hợp tác văn hóa nghệ thuật Việt Nam - Lào giai đoạn 2009 - 2012.
Năm 2010 được coi là năm thành công của hợp tác văn hóa Việt Nam - Lào với hàng loạt các sự kiện. Đến tháng 12 năm 2010, nhân dịp Liên hoan Phim Quốc tế Luang Prabang, Cục Điện ảnh và Viện Phim Việt Nam cũng gửi 10 phim và cử đoàn cán bộ tham gia. Các phim gồm: “Đừng đốt, Chơi vơi, Trăng nơi đáy giếng, Mùa len Trâu, Thời xa vắng, Sinh Mệnh, Chuyện của Pao, Rừng đen, Trái tim bé bỏng, Còn lại với thời gian” [43-tr. Ngoài ra, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã cử các đồng chí lãnh đạo và chuyên gia về lĩnh vực bảo tàng sang giúp Lào về công tác chuyển chuyên môn, xây dựng kế hoạch hợp tác giữa hai nước.
Các đoàn cán bộ hoạt động trên lĩnh vực bảo tàng của Lào cũng đã sang Việt Nam trao đổi kinh nghiệm về lĩnh vực xây dựng bảo tàng.Về lĩnh vực điện ảnh: Hai bên đã phối hợp thực hiện dự án “Xây dựng và trang thiết bị kho bảo tồn di sản hình ảnh động của Lào” [27- tr. Đây là dự án được sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Việt Nam giúp Lào.Viện phim Việt Nam đã phối hợp với Viện Lưu trữ phim Quốc gia Lào xây dựng kho lưu trữ hình ảnh động của Lào. Công trình đã được hoàn thành và giao cho phía Lào đưa vào sử dụng vào tháng 9 năm 2006.