Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quan hệ Việt Nam – Lào là mối quan hệ láng giềng truyền thống đặc biệt, được hình thành và thử thách qua các giai đoạn đấu tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc. Sau thắng lợi lịch sử năm 1975 của cách mạng hai nước, việc nâng tầm quan hệ ngoại giao sang giai đoạn đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện đã trở thành đòi hỏi khách quan. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào chính thức được ký kết, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để mở rộng giao lưu và hỗ trợ lẫn nhau trên tất cả các phương diện. Trong tổng thể mối quan hệ đó, lĩnh vực văn hóa và giáo dục giữ vai trò là nền tảng tinh thần và cầu nối gắn kết nhân dân hai nước. Đến năm 2017, hai quốc gia đã tổ chức chuỗi sự kiện kỷ niệm 55 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (1962 – 2017) và 40 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (1977 – 2017). Nhìn nhận lại tiến trình 40 năm hợp tác văn hóa – giáo dục là yêu cầu cần thiết nhằm đúc kết kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho sự phát triển bền vững của hai dân tộc.
Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là trình bày và phân tích một cách toàn diện, có hệ thống tiến trình quan hệ Việt Nam – Lào trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục giai đoạn 1977 – 2017. Để đạt được mục đích đó, tác giả đặt ra hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích các nhân tố tác động (vị trí địa lý, bối cảnh lịch sử, đặc điểm văn hóa, xu thế quốc tế và đường lối chính sách) đến quan hệ hợp tác văn hóa – giáo dục giữa hai nước trong giai đoạn 1977 – 2017.
- Làm rõ các thành tựu giao lưu, hợp tác cụ thể trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục qua từng chặng đường lịch sử từ năm 1977 đến năm 2017; đồng thời đưa ra các nhận xét khách quan về đặc điểm, tác động nhiều mặt cũng như những mặt hạn chế còn tồn tại.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Lào trên hai lĩnh vực văn hóa và giáo dục. Phạm vi nghiên cứu về thời gian tập trung từ năm 1977 (thời điểm ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác) đến năm 2017 (mốc kỷ niệm 40 năm Hiệp ước). Phạm vi không gian được giới hạn trong lãnh thổ hai quốc gia Việt Nam và Lào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, đề tài tiếp cận khái niệm văn hóa theo nghĩa hẹp trong quan hệ đối ngoại, tập trung vào các hoạt động giao lưu về tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn học, nghệ thuật, thông tin và bảo tồn di sản. Khái niệm giáo dục được nhìn nhận là quá trình đào tạo, bồi dưỡng có định hướng nhằm hoàn thiện nhân cách, nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận và kỹ thuật cho người học. Quan hệ văn hóa – giáo dục giữa hai nước bao gồm toàn bộ các hiệp định, nghị định thư hợp tác, các chương trình trao đổi đoàn, hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hỗ trợ chuyên gia, biên soạn giáo trình và các đề án đào tạo lưu học sinh ở các cấp từ trung ương đến địa phương.
Về phương pháp luận, tác giả dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành lịch sử được vận dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, phát triển của các hoạt động hợp tác văn hóa và giáo dục theo đúng trình tự thời gian qua ba giai đoạn lịch sử (1977 – 1985, 1986 – 2010, 2011 – 2017).
- Phương pháp logic: Rút ra bản chất, quy luật, đặc điểm nổi bật và phân tích các mối liên hệ nhân quả giữa các nhân tố tác động với kết quả hợp tác thực tế.
- Các phương pháp bổ trợ: Phân tích tài liệu, tổng hợp dữ liệu số lượng, so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn và giữa các nhóm ngành đào tạo.
Nguồn tư liệu thực hiện khóa luận bao gồm các công trình lịch sử chính thống như bộ sách Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 – 2007) (NXB Chính trị quốc gia, 2011, 2012), sách Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào (1930 – 2017) của Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), sách chuyên khảo của TS. Lê Đình Chỉnh (2017); các văn kiện đại hội Đảng của hai nước, các điều ước quốc tế, hiệp định hợp tác song phương của Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cùng các bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo quốc gia và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Lào trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục
Chương 1 tập trung phân tích các điều kiện tiền đề định hình nên mối quan hệ hợp tác đặc biệt giữa hai quốc gia:
Nhân tố địa lý – lịch sử và văn hóa:
- Địa lý: Cả hai nước cùng nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương, dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, tạo nên thế tựa phòng thủ chiến lược tự nhiên. Hai quốc gia cùng chung lưu vực sông Mê Kông và sở hữu trục giao thông huyết mạch chạy dài theo hướng Bắc – Nam (Quốc lộ 1A ở Việt Nam và Quốc lộ 13 ở Lào), tạo điều kiện tự nhiên gắn kết việc giao thương, đi lại và hỗ trợ lẫn nhau.
- Lịch sử: Cư dân vùng biên giới hai nước có truyền thống cộng cư xen kẽ lâu đời. Lịch sử bang giao giữa các triều đại phong kiến luôn giữ tinh thần thân thiện. Trong thời kỳ cận - hiện đại, hai dân tộc chung chiến hào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ phong trào Cần Vương (1885 – 1895) nương tựa vào vùng núi biên giới, việc Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) xác định Lào là một bộ phận của cách mạng Đông Dương, cho đến liên minh chiến đấu 1945 – 1975, hai nước đã tạo dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó.
- Văn hóa: Hai dân tộc có nhiều nét tương đồng bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, thể hiện qua tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tinh thần cộng đồng làng xã ("làng – nước" ở Việt Nam tương đồng với cấu trúc "bản – mường" ở Lào), cùng sự ảnh hưởng sâu rộng của tinh thần từ bi bác ái Phật giáo.
Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa:
Bối cảnh kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự chuyển dịch trọng tâm kinh tế sang khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đặt hai nước trước yêu cầu vừa mở rộng hội nhập quốc tế, vừa phải bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trước nguy cơ đồng hóa văn hóa. Cả hai nước cùng tiến hành công cuộc đổi mới từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX và lần lượt gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Việt Nam gia nhập ngày 28/7/1995, Lào gia nhập tháng 7/1997), tạo điều kiện nâng tầm hợp tác văn hóa – giáo dục song phương gắn liền với việc xây dựng Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN.
Chủ trương, chính sách ngoại giao văn hóa – giáo dục:
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ngày 18/7/1977 là nền tảng pháp lý cốt lõi, xác lập nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền, kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, giáo dục với chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh. Hai Đảng và hai Nhà nước đều khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực là khâu đột phá chiến lược được ưu tiên hàng đầu trong chương trình hợp tác quốc gia.
Chương 2: Quan hệ văn hóa – giáo dục giữa hai nước Việt Nam và Lào giai đoạn 1977 – 2017
Chương 2 trình bày chi tiết tiến trình hợp tác theo ba giai đoạn lịch sử cụ thể, đồng thời rút ra các đánh giá tổng hợp:
1. Giai đoạn 1977 – 1985 (Thời kỳ đầu sau giải phóng và khắc phục hậu quả chiến tranh):
- Hợp tác văn hóa: Hàng năm hai nước đều ký các Nghị định thư về hợp tác và trao đổi văn hóa. Trong năm 1982 – 1983, Bộ Văn hóa Việt Nam đã tài trợ kinh phí và cử đoàn cán bộ 40 người sang Lào để phối hợp sản xuất bộ phim truyện "Tiếng súng Cánh đồng Chum". Việt Nam hỗ trợ Lào xây dựng Đoàn kịch nói, củng cố Đoàn xiếc quốc gia Lào, cử giảng viên sang giảng dạy tại Trường Nghệ thuật và Mỹ thuật Viêng Chăn, nâng cao chất lượng Đoàn ca múa Trung ương Lào. Về truyền thông, ngày 23/4/1977, Đài Tiếng nói Việt Nam đã ký thỏa thuận hỗ trợ Đài Phát thanh quốc gia Lào chuyển giao máy phát sóng, phương tiện kỹ thuật và đào tạo biên tập viên đối ngoại.
- Hợp tác giáo dục – đào tạo: Tháng 4/1978, Trung ương Đảng quyết định thành lập "Trường Nguyễn Ái Quốc đặc biệt" do đồng chí Xuân Thủy – Bí thư Trung ương Đảng trực tiếp phụ trách, khóa đầu tiên đào tạo 35 cán bộ lãnh đạo cấp cao của Lào (từ cấp phó bí thư tỉnh ủy trở lên) với thời gian học 2 năm. Năm 1980, "Trường Bổ túc hữu nghị Việt – Lào" được thành lập để bồi dưỡng văn hóa cơ bản cho con em các bộ tộc Lào. Tính trong 6 năm đầu sau Hiệp ước 1977, trung bình mỗi năm Việt Nam cử 900 chuyên gia sang giúp Lào và trực tiếp đào tạo 1/2 tổng số cán bộ Lào được đào tạo ở nước ngoài.
2. Giai đoạn 1986 – 2010 (Thời kỳ đẩy mạnh công cuộc Đổi mới toàn diện):
- Hợp tác giáo dục – đào tạo: Hai nước chủ trương chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng. Từ năm 1986 đến 1992, Việt Nam đào tạo cho bạn 537 cử nhân và 252 lưu học sinh trung cấp chuyên nghiệp. Giai đoạn 1996 – 2006, các cơ sở giáo dục Việt Nam đã đào tạo bồi dưỡng lý luận cao cấp 5 tháng cho 200 cán bộ lãnh đạo Lào; bồi dưỡng chuyên môn 3 tháng cho 200 cán bộ trung cấp; đào tạo 80 tiến sĩ lý luận chính trị, 118 thạc sĩ (trong đó có 28 thạc sĩ quản lý hành chính), 115 cử nhân đại học, 171 cử nhân đại học chính trị và 80 cử nhân đại học hành chính. Giai đoạn 2001 – 2007, hai bên thống nhất sử dụng 49,05% tổng nguồn viện trợ (tương đương 289,4 tỷ đồng) để cấp học bổng và xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục tại Lào. Đến cuối thập niên 2000, có 3.845 lưu học sinh Lào học tập tại 20 tỉnh, thành của Việt Nam (gồm 1.112 người diện Hiệp định, 2.434 người diện kết nghĩa địa phương và 229 người diện tự túc). Năm 2009, Việt Nam cấp 650 suất học bổng cho Lào và Lào dành 30 suất học bổng đại học chính quy cho Việt Nam. Việt Nam hỗ trợ xây dựng Ký túc xá Đại học Quốc gia Viêng Chăn (2000 – 2002) và cung cấp 45 đầu sách giáo khoa từ tiểu học đến trung học phổ thông cho Lào. Ở chiều ngược lại, có 105 lưu học sinh Việt Nam học tập tại Lào.
- Hợp tác văn hóa: Ngày 31/8/1995, Trung tâm Văn hóa – Thông tin Việt Nam tại Viêng Chăn chính thức khai trương. Tháng 9/2006, Viện Phim Việt Nam hoàn thành và bàn giao dự án ODA "Xây dựng và trang thiết bị kho bảo tồn di sản hình ảnh động của Lào". Tháng 3/2009, hai Bộ ký kết kế hoạch hợp tác văn hóa nghệ thuật giai đoạn 2009 – 2012. Tháng 12/2010, Việt Nam gửi 10 bộ phim điện ảnh tiêu biểu tham gia Liên hoan Phim Quốc tế Luang Prabang (gồm Đừng đốt, Chơi vơi, Trăng nơi đáy giếng, Mùa len trâu, Thời xa vắng, Sinh mệnh, Chuyện của Pao, Rừng đen, Trái tim bé bỏng, Còn lại với thời gian). Việt Nam cũng hỗ trợ toàn diện về cơ sở vật chất, chuyên môn và kinh nghiệm tổ chức để Lào đăng cai thành công Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games).
3. Giai đoạn 2011 – 2017 (Thời kỳ phát triển theo chiều sâu và nâng cao chất lượng):
- Hợp tác giáo dục – đào tạo: Ngày 09/4/2011, hai Bộ Giáo dục ký Nghị định thư hợp tác và triển khai Đề án "Nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt – Lào trong lĩnh vực giáo dục phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 – 2020". Hai bên đã hoàn thành biên soạn và bàn giao bộ Từ điển Việt – Lào, Lào – Việt; bộ giáo trình dạy tiếng Việt (sử dụng từ năm học 2011 – 2012); công trình Lịch sử Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào 1930 – 2007; và Tuyển tập Mác – Ăngghen – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh bằng tiếng Lào (tháng 4/2014). Việt Nam hỗ trợ xây dựng Trường THPT tỉnh Luôngphabăng, Trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Xiêng Khoảng, Khoa Tiếng Việt tại Đại học Quốc gia Lào và Trường THPT Hữu nghị Lào – Việt tại Viêng Chăn. Quy mô lưu học sinh Lào tại Việt Nam tăng từ 9.295 người (năm 2015) lên hơn 14.000 người vào năm 2017; số lưu học sinh Việt Nam tại Lào năm 2017 là 290 người (phía bạn cấp 60 suất học bổng/năm).
- Hợp tác văn hóa: Tổ chức thường niên các sự kiện quy mô lớn như "Những ngày văn hóa Việt Nam tại Lào", "Những ngày văn hóa Lào tại Việt Nam" (năm 2012, 2017), "Tuần Văn hóa" (2013, 2014, 2015). Ngày 23/4/2013, thành phố Huế và thành phố Luang Prabang ký biên bản ghi nhớ hợp tác quản lý, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. Ngày 08/4/2016, tổ chức Triển lãm báo chí Việt Nam tại Viêng Chăn và Chương trình giao lưu văn hóa ẩm thực Việt – Lào tại Đà Nẵng. Ngày 21/7/2016, Trường Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh ký thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2016 – 2020 với Học viện Mỹ thuật Quốc gia Lào.
| Tiêu chí so sánh |
Giai đoạn 1977 – 1985 |
Giai đoạn 1986 – 2010 |
Giai đoạn 2011 – 2017 |
| Trọng tâm giáo dục |
Đào tạo cán bộ lãnh đạo cấp cao cấp bách, đào tạo bổ túc văn hóa cơ bản |
Đào tạo chuẩn hóa đại học, sau đại học, bồi dưỡng ngắn hạn theo nhu cầu đổi mới |
Triển khai Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 2011 – 2020, đổi mới giáo trình |
| Quy mô đào tạo tiêu biểu |
Khóa 1 Trường Nguyễn Ái Quốc (35 cán bộ); 900 chuyên gia/năm; đào tạo 1/2 cán bộ Lào ở nước ngoài |
537 cử nhân (1986-1992); 80 TS, 118 ThS (1996-2006); 3.845 LHS Lào tại VN; 105 LHS VN tại Lào |
9.295 LHS Lào (2015) tăng lên hơn 14.000 LHS Lào (2017); 290 LHS VN học tập tại Lào (2017) |
| Cơ sở vật chất, học liệu |
Thành lập Trường Bổ túc hữu nghị Việt - Lào (1980) |
KTX ĐHQG Viêng Chăn; cung cấp 45 đầu SGK phổ thông; 49,05% vốn viện trợ cho nhân lực |
Bàn giao Từ điển Việt - Lào, Lào - Việt; xây dựng THPT Luôngphabăng, DTNT Xiêng Khoảng, Khoa Tiếng Việt |
| Hoạt động văn hóa nổi bật |
Phim "Tiếng súng Cánh đồng Chum"; hỗ trợ kỹ thuật phát thanh; xây dựng Đoàn kịch nói |
Mở Trung tâm VH-TT tại Viêng Chăn (1995); ODA Kho lưu trữ phim (2006); hỗ trợ SEA Games |
Ghi nhớ di sản Huế - Luang Prabang; Tuần văn hóa định kỳ; Triển lãm báo chí và giao lưu ẩm thực (2016) |
Đặc điểm, tác động và hạn chế:
- Đặc điểm: Hợp tác giáo dục mang tính toàn diện, bền vững; diễn ra qua nhiều kênh (Chính phủ, địa phương kết nghĩa, doanh nghiệp); đa dạng về loại hình và cấp bậc đào tạo; thể hiện tinh thần quốc tế trong sáng không vì mục đích thương mại; chú trọng đầu tư hạ tầng trường lớp và giáo trình chuẩn.
- Tác động: Thắt chặt tin cậy chính trị, củng cố vị thế ngoại giao của hai nước; giữ vững ổn định xã hội và gắn kết cộng đồng kiều dân; đóng góp nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Hạn chế và nguyên nhân: Về văn hóa, các chương trình giao lưu nghệ thuật còn ít về số lượng, chủ yếu tập trung vào các dịp lễ kỷ niệm lớn, thiếu nguồn kinh phí duy trì thường niên; truyền thông giới thiệu văn hóa của nhau chưa phong phú. Về giáo dục, trình độ tiếng Việt chuyên ngành của sinh viên năm thứ nhất còn yếu dẫn đến kết quả học tập ban đầu chưa cao; cơ cấu ngành học mất cân đối (tập trung nhiều vào ngành Luật, Quan hệ quốc tế, Kinh tế, Tài chính; ít người học khối Nông - Lâm nghiệp, Kỹ thuật, Y dược); công tác cử tuyển và quản lý lưu học sinh ở một số cơ sở có biểu hiện buông lỏng; thủ tục giải ngân và thi công một số dự án trường lớp còn chậm trễ do vướng mắc hành chính.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và làm sáng tỏ hệ thống thành tựu của mối quan hệ Việt Nam – Lào trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục qua 40 năm (1977 – 2017) với các cứ liệu lịch sử rõ ràng:
- Làm rõ vai trò then chốt của nguồn viện trợ Việt Nam trong phát triển giáo dục Lào, tiêu biểu là tỷ lệ 49,05% nguồn vốn viện trợ giai đoạn 2001 – 2007 (289,4 tỷ đồng) và sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô lưu học sinh Lào tại Việt Nam (đạt hơn 14.000 người vào năm 2017).
- Liệt kê và hệ thống hóa đầy đủ các công trình hợp tác văn hóa mang tính biểu tượng, như việc sản xuất phim "Tiếng súng Cánh đồng Chum" (1982 – 1983), xây dựng Kho bảo tồn di sản hình ảnh động của Lào (2006), thành lập Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Viêng Chăn (1995), xuất bản Từ điển Việt – Lào và các công trình sách lý luận chính trị bằng tiếng Lào (2014).
- Khái quát 5 đặc điểm nổi bật của hợp tác giáo dục Việt – Lào, chỉ ra tính chất đặc thù phi thương mại và tình nghĩa thủy chung hiếm có trong quan hệ quốc tế.
Về mặt khoa học, công trình góp phần bổ sung vào mảng nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ văn hóa – giáo dục Việt – Lào, khắc phục tình trạng các nghiên cứu trước đó chỉ trình bày khái lược, mang tính sự kiện thời sự hoặc chỉ đề cập như một tiểu mục phụ trong hợp tác chính trị - kinh tế. Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị tư liệu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử ngoại giao và phục vụ công tác giáo dục truyền thống đoàn kết cho thế hệ trẻ hai nước.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được hoàn thành trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp đại học nên tác giả chủ yếu tiếp cận nguồn tư liệu thành văn, các văn kiện công bố công khai, báo cáo tổng kết của các Bộ, ngành và tài liệu nghiên cứu sẵn có. Công trình chưa có điều kiện thực hiện các phương pháp điều tra xã hội học thực địa sâu rộng, như khảo sát định lượng bảng hỏi về mức độ hài lòng hoặc phỏng vấn trực tiếp các cựu lưu học sinh Lào sau khi về nước công tác để đánh giá chi tiết hơn về mức độ thích ứng thực tiễn của nguồn nhân lực.
Do giới hạn phạm vi nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2017, các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát giai đoạn từ năm 2018 đến nay, đặc biệt là việc đánh giá tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đại học và các hình thức ngoại giao văn hóa số giữa hai quốc gia trong tình hình mới.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích đối với sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quan hệ quốc tế, Ngoại giao, Khu vực học (Đông Nam Á học) và Việt Nam học.
Nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 2, nơi lưu trữ hệ thống số liệu, văn kiện, mốc sự kiện và các đề án hợp tác giáo dục - văn hóa cụ thể giữa hai nước trong 40 năm. Đây cũng là tài liệu giá trị cho các cán bộ quản lý lưu học sinh tại các trường đại học, cán bộ làm công tác đối ngoại nhân dân và các tổ chức hữu nghị Việt – Lào.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở pháp lý nền tảng nào định hình quan hệ hợp tác văn hóa – giáo dục Việt Nam – Lào trong giai đoạn nghiên cứu?
Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa hai nước ký ngày 18/7/1977 là văn kiện pháp lý cơ bản nhất. Điều 2 của Hiệp ước xác định hai bên mở rộng trao đổi khoa học, kỹ thuật, hợp tác về văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, y tế, thông tấn, báo chí, phát thanh, điện ảnh và thể thao, làm nền tảng cho các hiệp định và nghị định thư hợp tác chuyên ngành hàng năm.
2. "Trường Nguyễn Ái Quốc đặc biệt" thành lập năm 1978 có nhiệm vụ cụ thể gì?
Trường được Trung ương Đảng quyết định thành lập vào tháng 4/1978, giao cho Ban Tuyên huấn Trung ương và Ban cán sự Đảng về công tác phối hợp phụ trách, chuyên bồi dưỡng lý luận chính trị cao cấp cho cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Lào từ cấp phó bí thư tỉnh ủy trở lên. Khóa học đầu tiên có 35 cán bộ tham gia với thời gian học 2 năm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Xuân Thủy.
3. Trong giai đoạn 2001 – 2007, nguồn lực tài chính Việt Nam dành cho hợp tác phát triển nhân lực của Lào đạt mức nào?
Hai bên đã thống nhất trích 49,05% tổng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam dành cho Lào (tương đương 289,4 tỷ đồng) để cấp học bổng cho cán bộ, lưu học sinh Lào học tập tại Việt Nam và đầu tư xây dựng các cơ sở đào tạo, ký túc xá tại Lào.
4. Đến năm 2017, quy mô lưu học sinh giữa hai nước đạt con số cụ thể ra sao?
Tính đến năm 2017, số lượng lưu học sinh Lào đang học tập tại các cơ sở giáo dục của Việt Nam đạt hơn 14.000 người. Ở chiều ngược lại, Chính phủ Lào dành 60 suất học bổng/năm cho Việt Nam, nâng tổng số lưu học sinh Việt Nam đang học tập, nghiên cứu tại Lào lên 290 người.
5. Khóa luận chỉ ra những hạn chế lớn nào trong công tác đào tạo lưu học sinh Lào tại Việt Nam?
Các hạn chế chính gồm: sinh viên Lào năm thứ nhất còn rào cản lớn về ngôn ngữ tiếng Việt và thuật ngữ chuyên môn; cơ cấu ngành học phân bổ chưa cân đối (tập trung nhiều vào Luật, Ngoại thương, Quan hệ quốc tế, Tài chính; ít sinh viên theo học khối Nông nghiệp, Xây dựng, Kỹ thuật, Dược); quy chế cử tuyển đầu vào ở một số nơi chưa đồng đều; và một số ít học viên cao học có chuyên ngành đào tạo chưa ăn khớp với bằng đại học trước đó.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan và chi tiết bức tranh toàn cảnh về quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào trên lĩnh vực văn hóa và giáo dục trong suốt chặng đường 40 năm (1977 – 2017). Thông qua nguồn tư liệu phong phú và phương pháp lịch sử kết hợp logic, tác giả đã làm nổi bật các thành tựu hợp tác đào tạo hàng vạn cán bộ, xây dựng hạ tầng giáo dục và giao lưu nghệ thuật, khẳng định đây là lĩnh vực hợp tác thành công hàng đầu giữa hai nước. Dù còn một số mặt hạn chế về kinh phí tổ chức và cơ cấu đào tạo, kết quả nghiên cứu đã khẳng định quan hệ văn hóa – giáo dục là chất keo bền vững, góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc.