Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Những công trình nghiên cứu liên quan những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp * Những công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nghiên cứu về khái niệm TNXHDN tại Việt Nam cũng khá phong phú bởi nhiều tác giả dưới những góc độ khác nhau như: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế" của Lê Thanh Hà [61]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Michel Capron và Françoise Quairel-Lanoizelée (Dịch giả: Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ) [27]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Nguyễn Ngọc Thắng [118]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước ở Việt Nam" của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức [39]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam" của Trần Hồng Minh [92]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam theo khung tham chiếu của Hiệp ước Toàn cầu (Global Compact)" của Nguyễn Văn Thắng [122]; "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cá thể đối với người lao động: Nghiên cứu trường hợp ở thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thị Minh Châu [30]; "Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Nguyễn Thị Lan Hương [72]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Hãy hành động, thôi hô "khẩu hiệu"" của Hà Tôn Vinh [165]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam" của Trương Nam Thắng, Margaret Mckee [116]… Những tác giả trên chưa đưa ra khái niệm riêng của mình về TNXHDN, họ chỉ dẫn giải những khái niệm phổ biến nhất hiện nay của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: Hội đồng thương mại thế giới, Ngân hàng thế giới, Liên hiệp quốc, Tổ chức 7 hợp tác và phát triển kinh tế (OEDC), Ủy ban Thương mại thế giới về phát triển bền vững (WBCSD), một số tổ chức phi chính phủ (NGO), một số công ty đa quốc gia… Điểm chung của các tác giả đều cho là khái niệm TNXHDN được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do: Phụ thuộc vào truyền thống, điều kiện văn hóa của quốc gia yêu cầu đối với các DN; Do không gian, thời gian tranh luận. Và các tác giả đều thống nhất là nội hàm khái niệm TNXHDN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của DN đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động.
Các ứng xử bao gồm: Trách nhiệm với khách hàng; Trách nhiệm với nhân viên; Trách nhiệm với đối tác kinh doanh; Trách nhiệm với môi trường; Trách nhiệm với cộng đồng; Trách nhiệm với các nhà đầu tư. Có thể nói, đó là những công trình tham khảo có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án trong việc nghiên cứu lịch sử và nội hàm của khái niệm TNXHDN. - "Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam" của Lê Đăng Doanh [45] đã cho rằng, TNXHDN được coi là thước đo cơ bản của các DN tại các quốc gia phát triển, và phần lớn các DN thực hiện phong trào này một cách tình nguyện và luôn chủ động. Còn ở Việt Nam, TNXHDN được nhận thức và bước đầu thực hiện đã mang lại những hiệu quả nhất định.
Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế đòi hỏi các DN phải tiếp tục nhận thức và hoạt động thực tiễn tích cực. Từ việc dẫn giải nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm TNXHDN, tác giả cho rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể được định nghĩa ngắn gọn như một sự cam kết của công ty trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng nhờ cung ứng nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường. Trong đó trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của DN [45, tr. - "Trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam: Sự thách thức đối với doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự" của Gerd Mutz [57] cho là, sự phát triển của xã hội sẽ dần xóa bỏ ranh giới giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, kinh tế và xã hội không thể xem là những lĩnh vực độc lập và không liên hệ gì với nhau.
Những yêu cầu về tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm TNXHDN. Từ đó tác giả cho rằng: 8 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm cả trách nhiệm xã hội lẫn trách nhiệm với môi trường, đề cập tới các hoạt động được tiến hành trong phạm vi kinh doanh cốt lõi (trọng tâm) của doanh nghiệp - đó là các hoạt động kinh tế của DN, bao gồm các lĩnh vực xã hội, như công bằng thương mại, cải thiện các điều kiện làm việc, kiểm soát chuỗi giá trị gia tăng và những vấn đề như (quy trình) sản xuất thân thiện với môi trường ở các cơ sở trong và ngoài nước [57]. - "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam" của Phạm Văn Đức [55] đã cho rằng, thuật ngữ TNXHDN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung có hai quan điểm đối lập nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, DN không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của DN, còn NN phải có trách nhiệm với xã hội, DN đã có trách nhiệm nộp thuế cho NN. Quan điểm thứ hai cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh tế thị trường, các DN đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên.
Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, DN còn có trách nhiệm bảo vệ môi trường, cộng đồng, người lao động, v.v… Tác giả cho là, ở Việt Nam trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới về TNXHDN. Theo đó, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội. Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng [55, tr. Từ phân tích các định nghĩa thì ông đã kết luận, TNXHDN thể hiện ở các yếu tố: 1, bảo vệ môi trường; 2, đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3, thực hiện trách nhiệm cho nhà cung cấp; 4, bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5, quan hệ tốt với người lao động; 6, đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong DN [55, tr.
9 Có thể nói đây là bài viết khá phong phú về lịch sử hình thành và phát triển khái niệm TNXHDN, tác giả cũng đã dẫn giải nhiều khái niệm về TNXHDN của các nhà khoa học, các tổ chức kinh tế. Và nội dung khái niệm của ông nội hàm cũng rất rộng và bao quát những vấn đề xã hội mong muốn các DN thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội. - "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam và những vấn đề còn bất cập" của Võ Khắc Thường [137] đã nhận định, ở Việt Nam đa phần các học giả đều đồng ý TNXHDN có hai ý chính: Một là, phát triển kinh doanh của chính DN để tạo ra giá trị thặng dư lớn cho xã hội; Hai là, có trách nhiệm với xã hội, cụ thể là môi trường xung quanh. Từ đó tác giả cho rằng "TNXHDN là nghĩa vụ của DN vừa phải hành động, bảo vệ cải thiện phúc lợi cho xã hội cũng như lợi ích của DN" [137, tr.
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến cấu trúc TNXHDN - "Vai trò của Nhà nước và vấn đề Trách nhiệm xã hội" của Nguyễn Văn Thức [136] đã cho rằng, TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản: 1, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác khoan dung với nhau trong xã hội; 2, sự gắn bó (đoàn kết, cấu kết) giữa cá nhân với cộng đồng xã hội; 3, đóng góp vào bảo vệ và phát triển của cộng đồng và xã hội. Sự đóng góp này thể hiện ở 3 mức độ "Tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ" [136, tr. - "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam" của Trần Hồng Minh [92] đã cho rằng, DN hiện đại chỉ được xem là có TNXH khi: Đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất, đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động là điều hoàn toàn xa lạ với TNXHDN; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một tiêu chí rất 10 quan trọng thể hiện trách nhiệm của DN đối với người tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng.