Luận án tiến sĩ triết học trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhà nước ở việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong hội nhập quốc tế được phân tích sâu về vai trò và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ
192
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước trong quá trình hội nhập quốc tế

1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

1.3. Giá trị của các công trình đã nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm

2. CHƯƠNG 2: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

2.1. Trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và vai trò của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

2.2. Hội nhập quốc tế và những yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

2.3. Những nhân tố tác động đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

3. CHƯƠNG 3: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

3.1. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - thành tựu và nguyên nhân

3.2. Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - hạn chế và nguyên nhân

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY

4.1. Hoàn thiện khung pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho điều kiện kinh doanh và thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

4.2. Doanh nghiệp Nhà nước cần nâng cao nhận thức và biện pháp thực hiện trách nhiệm xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

4.3. Nâng cao vai trò của các hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm tác động thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

4.4. Nâng cao vai trò của người lao động và người tiêu dùng nhằm tác động thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương này tập trung vào việc tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các nghiên cứu được đề cập bao gồm cả lý luận chung và thực tiễn, nhấn mạnh sự cần thiết của việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong quá trình phát triển bền vữngquản trị doanh nghiệp.

1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận chung

Các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (DN) đã được thực hiện từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm kinh tế, luật pháp, và đạo đức. Các tác giả như Lê Thanh Hà, Nguyễn Ngọc Thắng, và Trần Hồng Minh đã đóng góp nhiều công trình quan trọng, làm rõ khái niệm và vai trò của trách nhiệm xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các nghiên cứu này nhấn mạnh rằng trách nhiệm xã hội không chỉ là nghĩa vụ mà còn là yếu tố then chốt giúp DN tăng cường uy tín và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp

Các nghiên cứu về thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN tại Việt Nam chỉ ra rằng, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, vẫn còn nhiều hạn chế trong nhận thức và thực tiễn. Các tác giả như Phạm Văn Đức và Võ Khắc Thường đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội, bao gồm hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, sự thiếu hụt về nguồn lực, và nhận thức chưa đầy đủ của các DN. Các giải pháp được đề xuất tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao nhận thức, và tăng cường sự tham gia của cộng đồng.

II. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong hội nhập quốc tế

Chương này đi sâu vào phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm xã hội của DNNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội được làm rõ, cùng với các nhân tố tác động đến quá trình này.

2.1. Trách nhiệm xã hội và vai trò của nó trong doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội được định nghĩa là sự cam kết của DN trong việc đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội, thông qua các hoạt động bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền lợi người lao động, và đóng góp cho cộng đồng. Đối với DNNN, trách nhiệm xã hội không chỉ là nghĩa vụ mà còn là cơ hội để nâng cao uy tín và cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2.2. Yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với trách nhiệm xã hội

Hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN, bao gồm tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, lao động, và đạo đức kinh doanh. Các DN cần phải thích ứng với các quy định và chuẩn mực quốc tế để có thể cạnh tranh và phát triển bền vững.

III. Thực trạng và nguyên nhân thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN

Chương này phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN tại Việt Nam, bao gồm cả thành tựu và hạn chế. Các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này cũng được làm rõ, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục.

3.1. Thành tựu và nguyên nhân

Một số DNNN đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội, như đóng góp vào ngân sách nhà nước, tạo việc làm, và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều DN chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm này, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường và vi phạm quyền lợi người lao động.

3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Các hạn chế trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN bao gồm nhận thức chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, và sự thiếu hụt về nguồn lực. Các nguyên nhân chính được xác định là sự thiếu đồng bộ trong chính sách quản lý nhà nước và sự thiếu quan tâm của các DN đối với vấn đề này.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN

Chương này đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các giải pháp tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao nhận thức, và tăng cường sự tham gia của các bên liên quan.

4.1. Hoàn thiện khung pháp luật

Việc hoàn thiện khung pháp luật là yếu tố then chốt để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện trách nhiệm xã hội của DNNN. Các chính sách cần được xây dựng đồng bộ và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

4.2. Nâng cao nhận thức và biện pháp thực hiện

Nâng cao nhận thức của các DN về trách nhiệm xã hội là yếu tố quan trọng để thúc đẩy việc thực hiện trách nhiệm này. Các biện pháp cụ thể bao gồm đào tạo, tuyên truyền, và khuyến khích các DN tham gia các chương trình trách nhiệm xã hội.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ triết học trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhà nước ở việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Những công trình nghiên cứu liên quan những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp * Những công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nghiên cứu về khái niệm TNXHDN tại Việt Nam cũng khá phong phú bởi nhiều tác giả dưới những góc độ khác nhau như: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế" của Lê Thanh Hà [61]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Michel Capron và Françoise Quairel-Lanoizelée (Dịch giả: Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ) [27]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Nguyễn Ngọc Thắng [118]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước ở Việt Nam" của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức [39]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam" của Trần Hồng Minh [92]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam theo khung tham chiếu của Hiệp ước Toàn cầu (Global Compact)" của Nguyễn Văn Thắng [122]; "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cá thể đối với người lao động: Nghiên cứu trường hợp ở thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thị Minh Châu [30]; "Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Nguyễn Thị Lan Hương [72]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Hãy hành động, thôi hô "khẩu hiệu"" của Hà Tôn Vinh [165]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam" của Trương Nam Thắng, Margaret Mckee [116]… Những tác giả trên chưa đưa ra khái niệm riêng của mình về TNXHDN, họ chỉ dẫn giải những khái niệm phổ biến nhất hiện nay của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: Hội đồng thương mại thế giới, Ngân hàng thế giới, Liên hiệp quốc, Tổ chức 7 hợp tác và phát triển kinh tế (OEDC), Ủy ban Thương mại thế giới về phát triển bền vững (WBCSD), một số tổ chức phi chính phủ (NGO), một số công ty đa quốc gia… Điểm chung của các tác giả đều cho là khái niệm TNXHDN được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do: Phụ thuộc vào truyền thống, điều kiện văn hóa của quốc gia yêu cầu đối với các DN; Do không gian, thời gian tranh luận. Và các tác giả đều thống nhất là nội hàm khái niệm TNXHDN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của DN đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động.

Các ứng xử bao gồm: Trách nhiệm với khách hàng; Trách nhiệm với nhân viên; Trách nhiệm với đối tác kinh doanh; Trách nhiệm với môi trường; Trách nhiệm với cộng đồng; Trách nhiệm với các nhà đầu tư. Có thể nói, đó là những công trình tham khảo có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án trong việc nghiên cứu lịch sử và nội hàm của khái niệm TNXHDN. - "Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam" của Lê Đăng Doanh [45] đã cho rằng, TNXHDN được coi là thước đo cơ bản của các DN tại các quốc gia phát triển, và phần lớn các DN thực hiện phong trào này một cách tình nguyện và luôn chủ động. Còn ở Việt Nam, TNXHDN được nhận thức và bước đầu thực hiện đã mang lại những hiệu quả nhất định.

Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế đòi hỏi các DN phải tiếp tục nhận thức và hoạt động thực tiễn tích cực. Từ việc dẫn giải nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm TNXHDN, tác giả cho rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể được định nghĩa ngắn gọn như một sự cam kết của công ty trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng nhờ cung ứng nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường. Trong đó trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của DN [45, tr. - "Trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam: Sự thách thức đối với doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự" của Gerd Mutz [57] cho là, sự phát triển của xã hội sẽ dần xóa bỏ ranh giới giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, kinh tế và xã hội không thể xem là những lĩnh vực độc lập và không liên hệ gì với nhau.

Những yêu cầu về tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm TNXHDN. Từ đó tác giả cho rằng: 8 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm cả trách nhiệm xã hội lẫn trách nhiệm với môi trường, đề cập tới các hoạt động được tiến hành trong phạm vi kinh doanh cốt lõi (trọng tâm) của doanh nghiệp - đó là các hoạt động kinh tế của DN, bao gồm các lĩnh vực xã hội, như công bằng thương mại, cải thiện các điều kiện làm việc, kiểm soát chuỗi giá trị gia tăng và những vấn đề như (quy trình) sản xuất thân thiện với môi trường ở các cơ sở trong và ngoài nước [57]. - "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam" của Phạm Văn Đức [55] đã cho rằng, thuật ngữ TNXHDN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung có hai quan điểm đối lập nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, DN không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của DN, còn NN phải có trách nhiệm với xã hội, DN đã có trách nhiệm nộp thuế cho NN. Quan điểm thứ hai cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh tế thị trường, các DN đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên.

Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, DN còn có trách nhiệm bảo vệ môi trường, cộng đồng, người lao động, v.v… Tác giả cho là, ở Việt Nam trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới về TNXHDN. Theo đó, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội. Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng [55, tr. Từ phân tích các định nghĩa thì ông đã kết luận, TNXHDN thể hiện ở các yếu tố: 1, bảo vệ môi trường; 2, đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3, thực hiện trách nhiệm cho nhà cung cấp; 4, bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5, quan hệ tốt với người lao động; 6, đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong DN [55, tr.

9 Có thể nói đây là bài viết khá phong phú về lịch sử hình thành và phát triển khái niệm TNXHDN, tác giả cũng đã dẫn giải nhiều khái niệm về TNXHDN của các nhà khoa học, các tổ chức kinh tế. Và nội dung khái niệm của ông nội hàm cũng rất rộng và bao quát những vấn đề xã hội mong muốn các DN thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội. - "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam và những vấn đề còn bất cập" của Võ Khắc Thường [137] đã nhận định, ở Việt Nam đa phần các học giả đều đồng ý TNXHDN có hai ý chính: Một là, phát triển kinh doanh của chính DN để tạo ra giá trị thặng dư lớn cho xã hội; Hai là, có trách nhiệm với xã hội, cụ thể là môi trường xung quanh. Từ đó tác giả cho rằng "TNXHDN là nghĩa vụ của DN vừa phải hành động, bảo vệ cải thiện phúc lợi cho xã hội cũng như lợi ích của DN" [137, tr.

* Những công trình nghiên cứu liên quan đến cấu trúc TNXHDN - "Vai trò của Nhà nước và vấn đề Trách nhiệm xã hội" của Nguyễn Văn Thức [136] đã cho rằng, TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản: 1, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác khoan dung với nhau trong xã hội; 2, sự gắn bó (đoàn kết, cấu kết) giữa cá nhân với cộng đồng xã hội; 3, đóng góp vào bảo vệ và phát triển của cộng đồng và xã hội. Sự đóng góp này thể hiện ở 3 mức độ "Tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ" [136, tr. - "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam" của Trần Hồng Minh [92] đã cho rằng, DN hiện đại chỉ được xem là có TNXH khi: Đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất, đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động là điều hoàn toàn xa lạ với TNXHDN; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một tiêu chí rất 10 quan trọng thể hiện trách nhiệm của DN đối với người tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam trong hội nhập quốc tế" tập trung phân tích vai trò và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nó nhấn mạnh sự cần thiết của việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, đóng góp vào phát triển bền vững, và nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên trường quốc tế. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách các doanh nghiệp nhà nước có thể cân bằng giữa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội, đồng thời tận dụng cơ hội từ hội nhập để phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước và phát triển kinh tế, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ kinh tế vai trò của ktnn trong việc quản lý nợ công ở việt nam, Luận văn tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại việt nam, và Luận án tiến sĩ cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững ở việt nam. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn sâu sắc về quản lý kinh tế và tài chính công, giúp bạn hiểu rõ hơn về các thách thức và cơ hội trong quá trình phát triển kinh tế bền vững.