Tổng quan luận án
Vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) xuất hiện từ những năm 1950 của thế kỷ XX và dần phát triển thành một chuẩn mực phổ quát trong quản trị kinh tế hiện đại. Đối với các quốc gia phát triển, việc thực hiện trách nhiệm xã hội được xem là triết lý kinh doanh và chiến lược phát triển bền vững, được bảo đảm bởi hệ thống thể chế pháp lý chặt chẽ và chuẩn mực đạo đức kinh doanh hoàn thiện. Ngược lại, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nhận thức và thực tiễn thực thi trách nhiệm xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập do khung pháp lý chưa đồng bộ, nguy cơ độc quyền, tham nhũng và lợi ích nhóm.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò chủ đạo, là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế, nhiều DNNN đã bộc lộ những khiếm khuyết nghiêm trọng như: hiệu quả kinh doanh thấp, đầu tư dàn trải ngoài ngành, làm thất thoát nguồn vốn lớn của Nhà nước, gây ô nhiễm môi trường, vi phạm quyền lợi người lao động và thiếu minh bạch tài chính. Mặc dù vấn đề TNXHDN đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ như kinh tế học, luật học, đạo đức học và khoa học môi trường, nhưng việc nghiên cứu một cách hệ thống dưới lăng kính triết học nhằm khái quát hóa ở tầm nhận thức xã hội về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước (TNXHDNNN) trong bối cảnh hội nhập quốc tế vẫn còn là một khoảng trống lớn. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học với đề tài "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay" được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp thiết này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích những thành tựu, hạn chế của các DNNN ở Việt Nam trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội dưới tác động của hội nhập quốc tế; từ đó đề xuất và luận giải hệ thống giải pháp nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện TNXHDNNN trong thời gian tới. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến TNXHDN và TNXHDNNN.
- Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về TNXHDN và TNXHDNNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các DNNN ở Việt Nam, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Phạm vi không gian: Tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát từ năm 2011 đến thời điểm thực hiện luận án.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận và luận giải TNXHDNNN dưới góc nhìn triết học xã hội, phân tích kết quả, hạn chế thực tiễn và đề xuất các khuyến nghị chính sách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm nội dung chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận chung về khái niệm, cấu trúc và tầm quan trọng của TNXHDN:
Nhiều tác giả trong nước và quốc tế đã tiếp cận khái niệm TNXHDN từ các khung tham chiếu khác nhau. Các nghiên cứu của Lê Thanh Hà (2006), Michel Capron và Françoise Quairel-Lanoizelée (bản dịch của Lê Minh Tiến và Phạm Như Hồ, 2009), Nguyễn Ngọc Thắng (2010), Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2008), Trần Hồng Minh (2007), Nguyễn Văn Thắng (2010), Nguyễn Thị Minh Châu (2007), Nguyễn Thị Lan Hương (2010), Hà Tôn Vinh (2013), Trương Nam Thắng và Margaret Mckee (2008) đã dẫn giải các định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, Liên Hợp Quốc, OECD, WBCSD. Lê Đăng Doanh (2009) xem TNXHDN là cam kết của doanh nghiệp phù hợp với lợi ích xã hội và là một phạm trù của đạo đức kinh doanh. Gerd Mutz (2006) nhấn mạnh TNXHDN bao gồm trách nhiệm xã hội và môi trường trong các hoạt động kinh doanh cốt lõi. Phạm Văn Đức (2011, 2012) chỉ ra hai quan điểm đối lập về TNXH và khẳng định tính tất yếu của việc doanh nghiệp phải có trách nhiệm với người lao động, môi trường và cộng đồng. Võ Khắc Thường (2013) xem đây là nghĩa vụ kết hợp giữa bảo vệ phúc lợi xã hội và lợi ích doanh nghiệp.
Về cấu trúc và vai trò của TNXHDN, Nguyễn Văn Thức (2010), Phạm Thị Tuyết (2010), Bùi Loan Thùy (2011), Đặng Hữu Toàn (2007), Đỗ Hoài Nam (2008), Trần Nguyên Việt (2010), Nguyễn Ngọc Hà (2010), Richard Welford (2011), Nguyễn Trọng Chuẩn (2009), Đặng Đình Cung (2009), Hoàng Tùng (2011), Hoàng Thị Phương Thảo và Huỳnh Long Hồ (2012), Lê Thị Thơm (2014) đều khẳng định việc thực hiện TNXH giúp bảo vệ môi trường, gắn kết người lao động, nâng cao hình ảnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc tế.
Nhóm các công trình nghiên cứu về hội nhập quốc tế:
Các nghiên cứu của Bộ Ngoại giao - Vụ Hợp tác kinh tế đa phương (2001), Nguyễn Xuân Thắng (2006, 2011), Phạm Quốc Trụ (2012), Đặng Đình Quý (2012), Hoàng Anh Tuấn (2010), Phạm Tất Thắng (2014), Nguyễn Độ (2014) đã làm rõ bản chất, tính tất yếu và các giai đoạn phát triển tư duy đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XI (2011) và Nghị quyết 22-NQ/TW (2013) của Bộ Chính trị.
Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp DNNN tại Việt Nam:
Các tác giả Trần Đăng Bộ (2012), Nguyễn Khánh Ly (2012), Nguyễn Duy Long (2012), Phương Ngọc Thạch (2012), Chu Văn Cấp (2012), Lê Hữu Thành (2012), Đỗ Phú Thọ (2013) đã phân tích vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước, chỉ ra tình trạng hoạt động kém hiệu quả, đầu tư đa ngành, lãng phí vốn và nợ xấu ngân hàng của khối DNNN. Nghiên cứu của Đinh Thị Cúc (2012) và Nguyễn Thị Kim Chi (2013) bước đầu phân tích một số khía cạnh thực trạng TNXH của doanh nghiệp.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn:
Mặc dù các tài liệu trước đây đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của TNXHDN và thực trạng tái cơ cấu DNNN, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống về trách nhiệm xã hội của loại hình doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ lý luận triết học trong tiến trình hội nhập quốc tế. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh và đưa ra các nhóm giải pháp đồng bộ gắn với các chủ thể trong xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trọng tâm lý thuyết được vận dụng là mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nghiên cứu quán triệt các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống pháp luật của Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Về khung phân tích lý luận, luận án tiếp thu các khái niệm triết học Đông - Tây về trách nhiệm và đạo đức (từ khái niệm chữ "nghĩa" trong Luận ngữ của Khổng Tử đến định nghĩa phạm trù trách nhiệm trong Từ điển Triết học Liên Xô năm 1986), kết hợp mô hình kim tự tháp trách nhiệm xã hội của Archie B. Carroll (gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện).
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp thống nhất lịch sử và logic: Dùng để phân tích tiến trình nhận thức và chính sách hội nhập quốc tế, cũng như lịch sử hình thành khái niệm TNXHDN.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp: Dùng để xử lý các nội dung lý luận và khái quát hóa thực trạng.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu và khái quát hóa: Đánh giá giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa các khối doanh nghiệp và trường hợp điển hình.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bảng xếp hạng VNR500, báo cáo của các bộ, ngành và viện nghiên cứu chuyên ngành.
Nguồn tư liệu thực chứng của luận án bao gồm các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị; số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2015; kết quả điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp nông thôn; báo cáo nghiên cứu thị trường của Nielsen; cùng các dữ liệu hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 1 tổng thuật chi tiết các công trình học thuật trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 nhóm nội dung chính:
- Các nghiên cứu lý luận chung về TNXHDN, cấu trúc 7 nội dung cơ bản của trách nhiệm xã hội (bảo vệ môi trường; chăm lo vật chất và tinh thần cho người lao động; bình đẳng giới; không phân biệt đối xử; an toàn chất lượng sản phẩm; đóng góp cộng đồng; tham gia bảo vệ an ninh hòa bình) và lợi ích kinh tế - xã hội khi thực hiện TNXH.
- Các nghiên cứu về hội nhập quốc tế, các cách tiếp cận hội nhập (chủ nghĩa liên bang, thuyết liên kết giao lưu, phái tân chức năng) và các mốc chuyển dịch tư duy đối ngoại của Việt Nam.
- Các nghiên cứu về thực trạng hoạt động của DNNN. Dẫn chứng nghiên cứu của Đinh Thị Cúc chỉ rõ những hạn chế giai đoạn 2006 - 2010: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2010 là 1.290 nghìn tỷ đồng (bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu); đầu tư ngoài ngành 21.814 tỷ đồng (chiếm 34% vốn chủ sở hữu); tỷ trọng tạo việc làm mới giảm từ -4% xuống -13%; sai phạm chi lương tại 3 công ty công ích TP.HCM năm 2012 hơn 6 tỷ đồng.
Chương 2: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
Chương 2 tập trung luận giải các khái niệm cơ bản và cơ sở lý luận của TNXHDNNN:
- Khái niệm trách nhiệm bắt nguồn từ phạm trù đạo đức và pháp lý. Ở phương Đông, trách nhiệm gắn liền với khái niệm "nghĩa" trong Nho giáo (Khổng Tử: "Thấy được lợi, nghĩ tới nghĩa"); ở phương Tây xuất phát từ gốc Latinh Respondere và được định nghĩa trong từ điển triết học là thái độ xã hội và pháp luật biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ.
- Vai trò của TNXHDN được làm rõ qua 4 khía cạnh: (1) Tăng doanh thu, nâng cao giá trị thương hiệu và xây dựng niềm tin của người tiêu dùng; (2) Đảm bảo và giữ gìn môi trường sinh thái; (3) Thu hút và giữ chân nguồn lao động chất lượng cao; (4) Nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phân tích tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam qua các kỳ Đại hội VI (1986), VII (1991), VIII (1996), IX (2001), X (2006), XI (2011) và Nghị quyết 22-NQ/TW (2013). Luận án phân tích những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến việc thực hiện TNXHDNNN, trong đó có yêu cầu vượt qua các hàng rào phi thuế quan (kỹ thuật, môi trường, lao động) khi tham gia thị trường toàn cầu.
| Chỉ tiêu / Nghiên cứu thực chứng |
Dữ liệu & Kết quả ghi nhận trong văn bản |
| Nghiên cứu của John Kotter & James Heskett (Harvard) |
Trong 11 năm, các công ty "đạo đức cao" tăng thu nhập 682% (so với 36% ở nhóm trung bình); giá cổ phiếu tăng 901% (so với 74%). |
| Khảo sát người tiêu dùng của Nielsen |
80% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm thân thiện môi trường; 79% sẵn sàng trả thêm để mua sản phẩm không chứa chất có hại. |
| Khảo sát của Viện Chính sách & Chiến lược NN-NT |
Người tiêu dùng tại Hà Nội và TP.HCM sẵn sàng trả giá cao hơn 30% cho thịt lợn và rau an toàn có nguồn gốc rõ ràng. |
| Tăng trưởng của doanh nghiệp sản xuất sạch |
Doanh nghiệp cam kết sản phẩm xanh có mức tăng trưởng cao gấp 4 lần cùng ngành; ngành thực phẩm - đồ uống tăng 2% - 11%; Unilever tăng trưởng 30%. |
| Hiệu quả công nghệ của Tập đoàn Hòa Phát |
Nhà máy than coke sạch tự sản xuất điện đáp ứng 40% nhu cầu khu liên hợp (Kinh Môn - Hải Dương); dùng khí sinh than giảm 45% chi phí nhiên liệu nung phôi. |
| Cơ giới hóa và môi trường tại Vinacomin |
Tuyển than mô-đun công suất 650.000 tấn/năm giúp tận thu than tăng 20% - 30%; trồng cỏ vetiver rễ dài 1,2m - 1,4m chống sạt lở bãi thải. |
| Thị phần và xuất khẩu của Công ty Duhal & Vinamilk |
Duhal nội địa hóa 95%, chiếm 28% thị phần đèn led; Vinamilk (Forbes 2015 xếp thứ 1888/2000) chiếm 48,7% thị phần trong nước, xuất khẩu 250 - 270 triệu USD/năm. |
Chương 3: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN
Chương này đi sâu phân tích hai mặt thực trạng thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam:
Thành tựu và nguyên nhân:
- DNNN giữ vị trí nòng cốt trong việc tạo nguồn thu ngân sách, duy trì tăng trưởng kinh tế, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội, an ninh - quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa.
- Đảm bảo việc làm và thu nhập bình quân cho người lao động ổn định, tỷ lệ tham gia các loại hình bảo hiểm bắt buộc cao hơn so với mặt bằng chung của khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
- Nguyên nhân thành tựu: Sự định hướng nhất quán của Đảng và Nhà nước về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; sự hỗ trợ từ các nguồn lực công và nỗ lực chuyển đổi mô hình quản trị sau cổ phần hóa.
Hạn chế và nguyên nhân:
- Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của nhiều DNNN chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; tỷ suất sinh lời trên vốn thấp; tình trạng thua lỗ, nợ nần kéo dài làm gia tăng nợ công và nợ xấu ngân hàng.
- Vi phạm trách nhiệm bảo vệ môi trường qua việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phát thải gây ô nhiễm nghiêm trọng.
- Vi phạm quyền lợi người lao động và nguyên tắc phân phối: Tồn tại sự bất bình đẳng về thu nhập (điển hình là các vụ chi trả lương sai quy định hàng tỷ đồng cho lãnh đạo tại các công ty dịch vụ công ích); cắt giảm việc làm; thiếu minh bạch thông tin tài chính đối với xã hội.
- Nguyên nhân hạn chế: Hệ thống thể chế pháp luật quản lý DNNN còn nhiều kẽ hở; cơ chế giám sát đại diện chủ sở hữu nhà nước bị buông lỏng; quy mô doanh nghiệp lớn nhưng bộ máy quản lý kém năng lực; tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành làm tiêu hao nguồn lực; nhận thức của lãnh đạo DNNN về TNXH còn lệch lạc (đồng nhất TNXH với hoạt động từ thiện hoặc quảng bá hình ảnh).
Chương 4: NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp tương ứng với 4 nhóm chủ thể:
- Hoàn thiện khung pháp luật: Tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho môi trường kinh doanh và điều kiện thực hiện TNXH; hoàn thiện các quy định về quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, quy chuẩn môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với hành vi trốn tránh trách nhiệm pháp lý.
- Nâng cao nhận thức và biện pháp thực hiện của DNNN: Đổi mới tư duy quản trị doanh nghiệp, tích hợp TNXH vào chiến lược kinh doanh cốt lõi; nâng cao đạo đức kinh doanh; chấm dứt đầu tư dàn trải ngoài ngành; áp dụng công nghệ sạch; công khai, minh bạch báo cáo tài chính và báo cáo phát triển bền vững.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp: Tăng cường chức năng phản biện xã hội, giám sát độc lập, tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp trong việc áp dụng các bộ tiêu chuẩn quốc tế về lao động, an toàn và môi trường.
- Nâng cao vai trò của người lao động và người tiêu dùng: Tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động; nâng cao hiểu biết pháp luật của người tiêu dùng để thúc đẩy hành vi tiêu dùng có trách nhiệm, chủ động tẩy chay các sản phẩm và doanh nghiệp vi phạm chuẩn mực xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận triết học về TNXH và TNXHDNNN trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
- Khái quát hóa cấu trúc nội hàm của TNXHDNNN, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa việc thực hiện trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm pháp lý với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và sự ổn định kinh tế - xã hội.
- Phân tích tính tất yếu khách quan của các đòi hỏi từ quá trình hội nhập quốc tế (hàng rào phi thuế quan, tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn môi trường) đối với việc điều chỉnh hành vi kinh doanh của DNNN.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng thực hiện TNXHDNNN tại Việt Nam từ năm 2011 đến nay; chỉ rõ các thành tựu về đóng góp ngân sách, an sinh xã hội cùng những yếu kém nghiêm trọng về hiệu quả đầu tư, thất thoát tài sản nhà nước, ô nhiễm môi trường và bất bình đẳng lao động.
- Chỉ ra các nguyên nhân cốt lõi mang tính hệ thống dẫn đến các vi phạm TNXH ở khu vực DNNN.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi, phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể (Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, người lao động và người tiêu dùng) nhằm nâng cao hiệu quả thực thi TNXHDNNN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Luận án giới hạn phạm vi khảo sát chủ yếu từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu, tập trung vào góc độ triết học xã hội và kinh tế chính trị, do đó các phân tích tài chính chuyên sâu và mô hình định lượng vi mô chưa được mở rộng toàn diện.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp về TNXHDNNN phụ thuộc vào các báo cáo công khai của các bộ, ngành và doanh nghiệp, trong khi mức độ minh bạch thông tin của khối DNNN tại thời điểm nghiên cứu còn chưa đồng đều.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như EVFTA, CPTPP) đối với việc thực thi các cam kết xã hội và lao động của DNNN.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh thực nghiệm việc thực hiện TNXH giữa DNNN sau cổ phần hóa với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Triết học, Kinh tế chính trị, Quản trị kinh doanh, Đạo đức kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp tại các trường đại học, học viện.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý nhà nước tại các cơ quan quản lý vốn nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trong việc xây dựng thể chế và cơ chế giám sát DNNN.
- Lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển bền vững và tái cấu trúc doanh nghiệp.
- Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức công đoàn và các hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quan tâm đến vấn đề chuẩn mực đạo đức kinh doanh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước dưới góc độ chuyên ngành nào?
Luận án tiếp cận đề tài dưới góc độ Triết học (cụ thể là phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin), xem xét TNXHDNNN như một phạm trù đạo đức - pháp lý phản ánh mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong quá trình hội nhập quốc tế.
2. Thực trạng đầu tư và hiệu quả của khối DNNN giai đoạn 2006 - 2010 được luận án chỉ ra như thế nào?
Văn bản luận án dẫn chứng: Tính đến cuối năm 2010, tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 1.290 nghìn tỷ đồng (bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu); đầu tư ngoài ngành vào chứng khoán, bảo hiểm, bất động sản, ngân hàng là 21.814 tỷ đồng (chiếm 34% vốn chủ sở hữu). Đóng góp vào GDP của khu vực DNNN giảm từ 30% (giai đoạn 2001 - 2005) xuống 28% (giai đoạn 2006 - 2010), tỷ trọng lao động giảm từ 44% xuống 23%, tỷ lệ tạo việc làm mới giảm từ -4% xuống -13%.
3. Việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường mang lại những lợi ích kinh tế cụ thể nào theo số liệu trong luận án?
Luận án nêu các minh chứng: Áp dụng công nghệ than coke sạch giúp Tập đoàn Hòa Phát tự sản xuất điện đáp ứng 40% nhu cầu khu liên hợp Kinh Môn và giảm 45% chi phí nhiên liệu nung phôi; Vinacomin tuyển than bằng mô-đun công suất 650.000 tấn/năm giúp tận thu sản lượng than tăng 20% - 30%; sử dụng 60 tấn chế phẩm Biomix1 sản xuất được 60.000 tấn phân hữu cơ sạch từ phế phụ phẩm nông nghiệp.
4. Bốn nhóm giải pháp trong Chương 4 của luận án tập trung vào các chủ thể nào?
Bốn nhóm giải pháp được phân định theo 4 nhóm chủ thể: (1) Nhà nước (hoàn thiện khung pháp luật và thể chế); (2) Doanh nghiệp nhà nước (nâng cao nhận thức, đạo đức kinh doanh và đổi mới biện pháp quản trị); (3) Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (tăng cường tư vấn, phản biện và giám sát độc lập); (4) Người lao động và người tiêu dùng (phát huy vai trò công đoàn và thực hiện quyền giám sát, lựa chọn tiêu dùng có trách nhiệm).
Kết luận
Luận án đã phân tích toàn diện vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam dưới lăng kính triết học trong bối cảnh hội nhập quốc tế từ năm 2011 đến nay. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với các dẫn chứng thực tế, công trình đã làm rõ các thành tựu về đóng góp kinh tế - xã hội cũng như các hạn chế nghiêm trọng về hiệu quả đầu tư, môi trường và quyền lợi lao động của khu vực DNNN. Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước và định hướng tái cơ cấu DNNN theo hướng phát triển bền vững.