Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Oanh thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Tài Đông và TS. Nguyễn Đình Hòa, bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phật giáo là một hệ thống tôn giáo - triết học lớn xuất hiện tại Ấn Độ từ khoảng thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, sau đó du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên và gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc. Trong kho tàng văn hóa tinh thần, triết lý nhân sinh của Phật giáo đã thâm nhập sâu rộng vào đời sống bình dân, đặc biệt là trong văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng.

Theo tác giả luận án, văn kiện Đại hội và các Hội nghị Trung ương của Đảng (đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam) đã nhấn mạnh yêu cầu đúc kết, phát huy các giá trị nhân văn, đạo đức truyền thống nhằm hoàn thiện nhân cách con người hiện nay. Truyện cổ tích phản ánh đời sống hiện thực và ước mơ của quần chúng nhân dân lao động; sự hòa quyện giữa nội dung tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo với cốt truyện cổ tích tạo nên những bài học đạo đức về lòng nhân ái, sự hướng thiện và tinh thần vị tha. Việc nhận diện, phân tích thấu đáo nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích dưới góc độ chuyên ngành triết học là đòi hỏi cần thiết, nhằm phân định rõ các giá trị nhân văn cần kế thừa cũng như những giới hạn nhận thức cần khắc phục. Khoảng trống mà tác giả chỉ ra là: trước đây các công trình thường nghiên cứu Phật giáo dưới góc độ tôn giáo học, lịch sử tư tưởng thuần túy, hoặc nghiên cứu truyện cổ tích đơn thuần dưới góc độ văn học dân gian, chưa có công trình nào giải quyết toàn diện, có hệ thống các bình diện của nhân sinh quan Phật giáo biểu hiện trong thể loại truyện cổ tích Việt Nam theo cách tiếp cận triết học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích một số vấn đề lý luận và nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam, từ đó làm rõ các giá trị cùng những hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo được phản ánh trong bộ phận văn học dân gian này.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và giải quyết 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về nhân sinh quan Phật giáo và truyện cổ tích Việt Nam.
  2. Phân tích một số nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam (quan niệm về cuộc đời con người, nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ và con đường giải thoát).
  3. Luận giải những giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Luận án tập trung vào ba chiều kích căn bản của nhân sinh quan Phật giáo bao gồm: quan niệm về cuộc đời con người, nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ đau và con đường giải thoát con người.
    • Về tư liệu: Khảo cứu hệ thống văn bản thuộc thể loại truyện cổ tích của người Việt (chủ yếu là truyện cổ tích thần kỳ và sinh hoạt) được lưu giữ trong các tuyển tập văn học dân gian tiêu biểu của Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:

Hướng nghiên cứu Các tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản Nội dung chính đã đạt được
Lý luận về nhân sinh quan Phật giáo - Nguyễn Hùng Hậu (2002), Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam - Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV
- Lê Công Sự (2014), Triết học cổ đại
- Tập thể giáo viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II (2015), Giáo trình tôn giáo học đại cương
- Thích Thiện Hoa (1997), Phật học phổ thông
- Thích Thanh Từ (2015), Bước đầu học Phật
- Narada Maha Thera (Phạm Kim Khánh dịch, 1999), Đức Phật và Phật pháp
- Thích Viên Giác (2003), Phật học cơ bản
- Viên Trí (2006), Ấn Độ Phật giáo sử luận
- Fabrice Midal (Hoàng Phong dịch, 2012), Phật pháp nhập môn
- Tịnh Minh dịch (2013), Cuộc đời Đức Phật
Hệ thống hóa lịch sử hình thành Phật giáo, các giáo lý cốt lõi như Tứ diệu đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), thuyết Duyên khởi, luật Nghiệp báo, Luân hồi và con đường tu tập hướng tới giác ngộ, giải thoát.
Lý luận về truyện cổ tích Việt Nam - Nguyễn Tấn Phát, Bùi Mạnh Nhị (1994), bài viết trên Báo Văn nghệ TP.HCM số 316
- Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2010), Văn học dân gian Việt Nam
- Vũ Anh Tuấn (2012), Giáo trình văn học dân gian
- Quách Thành (2012), 100 câu chuyện Phật giáo
- Trần Hoàng (2013), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam
- Đặng Thị Thu Hà (2013), Luận án TS Triết học Truyện cổ Phật giáo trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam
- Nguyễn Hằng Phương, Ngô Thanh Thúy (2014), Đề cương bài giảng đại cương văn học dân gian
Xác định đặc trưng thể loại văn học dân gian, thời điểm nảy sinh truyện cổ tích gắn với xã hội có giai cấp; phân loại các nhóm truyện (truyện loài vật, truyện thần kỳ, truyện sinh hoạt); vai trò của truyện cổ tích trong giáo dục đạo đức và phản ánh xung đột đời sống.
Nội dung nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích - W. Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch, 1971/1989), Lịch sử văn minh Ấn Độ
- Dalai Lama & Jean Claude Carriere (Lê Việt Liên dịch, 2008), Sức mạnh của đạo Phật
- Lê Thị Huệ (2009), Tư tưởng Phật giáo trong truyện Tấm Cám
- Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2012), Văn học dân gian: những công trình nghiên cứu
- Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam
- Huệ Từ (2014/2015), Chân truyền đạo học
- Hồng Dương, Nguyễn Văn Hai (2015), Tư tưởng tôn giáo trong triết học Gilles Deleuze
Khảo sát số phận nhân vật chịu nhiều bất hạnh, phân tích dấu ấn triết lý Phật giáo qua các mô típ luân hồi, biến hóa, nguyên nhân khổ đau gắn với tham - sân - si, ước mơ công lý và giải thoát ở cõi trần.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua việc điểm luận các công trình trên, tác giả nhận thấy đa số các nghiên cứu trước đây mới khảo sát truyện cổ tích dưới góc độ thi pháp học, phân loại học văn học, hoặc tìm hiểu lịch sử tư tưởng tôn giáo một cách riêng lẻ. Một số bài viết đã phát hiện tư tưởng Phật giáo trong truyện cổ tích nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi một truyện cụ thể (như truyện Tấm Cám) hoặc khái quát tinh thần từ bi, bác ái nói chung. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu nhân sinh quan Phật giáo qua trục nội dung Tứ diệu đế (thực trạng cuộc đời, nguyên nhân đau khổ, giải pháp giải thoát), từ đó thẩm định hai mặt giá trị và hạn chế của nhân sinh quan này dưới góc nhìn duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được triển khai dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời vận dụng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa.

Khung phân tích của luận án kết nối hai hệ thống khái niệm:

  1. Hệ thống khái niệm nhân sinh quan Phật giáo: Trọng tâm là giáo lý Tứ diệu đế (Catvari aryasatyani gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế), học thuyết Duyên khởi (Pratityasamutpada), thuyết Thập nhị nhân duyên, luật Nghiệp báo (Karma), luân hồi (Samsara), Niết bàn (Nirvana), Tam độc (tham, sân, si) và Bát chính đạo.
  2. Hệ thống khái niệm văn học dân gian về truyện cổ tích: Khái niệm, nguồn gốc lịch sử, đặc điểm thi pháp (yếu tố hư cấu, kỳ ảo, mô típ nhân vật bất hạnh), nội dung xã hội và chức năng giáo dục nhân cách.

Phương pháp nghiên cứu

Là một công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Triết học, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng làm định hướng xuyên suốt. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phối hợp thực hiện gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tách bạch từng thành tố của nhân sinh quan Phật giáo (nỗi khổ, nguyên nhân khổ, phương thức giải thoát) để khảo sát trong văn bản truyện, sau đó tổng hợp thành bức tranh hoàn chỉnh về nhân sinh quan.
  • Phương pháp logic và lịch sử: Đặt sự tiếp biến của giáo lý Phật giáo vào tiến trình lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến, giải thích sự khúc xạ của giáo lý nguyên thủy khi chuyển hóa vào văn học truyền miệng của quần chúng nhân dân.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu quan niệm triết học Phật giáo kinh điển với quan niệm dân gian được phản ánh qua hành vi, số phận của các nhân vật trong truyện cổ tích; so sánh giữa hành vi thiện và ác, giữa nguyên nhân xã hội và nguyên nhân tâm linh.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Văn bản truyện cổ tích: Khảo sát các tác phẩm truyện cổ tích Việt Nam chọn lọc trong các công trình sưu tầm uy tín như Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi (Tập 1, Tập 2), công trình của Hoàng Quyết, Bùi Mạnh Nhị, cùng các truyện cổ tích tiêu biểu: Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế, Cây tre trăm đốt, Sự tích chim bắt cô/hít cô, Hai cô gái và cục bướu, Của Thiên trả Địa, Tam và Tứ, Hà rầm hà rạc, Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho (Sự tích con Mối), Của trời trời lại lấy đi, giương đôi mắt ếch làm chi được trời, Người đầy tớ và người ăn trộm.
  • Văn bản triết học và tôn giáo: Các bộ kinh văn Phật giáo trích đoạn qua các tài liệu kinh điển (Kinh Đại Bổn, Kinh Đại Duyên trong Trường Bộ Kinh, Kinh Tứ đế), các giáo trình triết học Mác - Lênin, giáo trình tôn giáo học, giáo trình văn học dân gian và các văn kiện chính trị liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Nhân sinh quan Phật giáo và truyện cổ tích Việt Nam – Một số vấn đề lý luận

Chương 1 thiết lập cơ sở lý luận cho toàn bộ luận án qua hai cụm vấn đề lớn: bản chất của thể loại truyện cổ tích Việt Nam và mối quan hệ qua lại giữa nhân sinh quan Phật giáo với truyện cổ tích.

  1. Về truyện cổ tích Việt Nam:

    • Khái niệm và nguồn gốc: Luận án chỉ rõ truyện cổ tích là thể loại tự sự dân gian nảy sinh từ sự tan rã của xã hội nguyên thủy, bước vào xã hội có giai cấp và gia đình phụ hệ. Đây là sản phẩm sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động trong quá trình sinh hoạt, sản xuất, phản ánh các mâu thuẫn giai cấp, xung đột đạo đức gia đình và xã hội.
    • Đặc điểm, nội dung và vai trò: Đặc trưng cốt lõi của truyện cổ tích là sự đan xen giữa hiện thực đời sống và yếu tố tưởng tượng, hư cấu thần kỳ. Truyện cổ tích phân thành ba loại hình chính: truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt. Nội dung tập trung phản ánh hiện thực bất công, số phận éo le của người nghèo khổ và ước mơ về công lý, lẽ công bằng xã hội. Truyện giữ vai trò định hướng tư tưởng, giáo dục thẩm mỹ và bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ.
  2. Mối quan hệ giữa nhân sinh quan Phật giáo và truyện cổ tích Việt Nam:

    • Khi du nhập vào Việt Nam, đạo Phật truyền bá giáo lý thông qua phương thức truyền khẩu, kể chuyện của các tăng lữ để tiếp cận đại chúng bình dân. Trong tiến trình lịch sử, nhiều giáo lý trừu tượng đã tách khỏi kinh viện để hòa tan vào kho tàng tự sự dân gian.
    • Quần chúng nhân dân lao động tìm thấy ở triết lý từ bi, hỷ xả, bình đẳng và luật nhân quả của Phật giáo những điểm tương đồng sâu sắc với đạo lý truyền thống và khát vọng sống của mình. Triết lý nhân sinh Phật giáo trở thành hệ quy chiếu tư tưởng, định hình số phận nhân vật, tạo lập đường dây cốt truyện và cung cấp chất liệu thần kỳ (hình tượng Bụt, Đức Phật, Phật Bà Quan Âm) để giải quyết các bế tắc trong cuộc đời thực tế của các nhân vật.

Chương 2: Một số nội dung cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam

Chương 2 là nội dung trọng tâm của luận án, phân tích ba chiều kích cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo qua hệ thống truyện cổ tích:

  1. Quan niệm về cuộc đời con người trong truyện cổ tích Việt Nam:

    • Biểu hiện của Khổ đế: Luận án khẳng định truyện cổ tích Việt Nam phản ánh sâu sắc luận điểm "đời là bể khổ" của Phật giáo. Tác giả phân tích các phương diện đau khổ theo giáo lý Phật giáo:
      • Nỗi khổ sinh, lão, bệnh, tử: Những quy luật tự nhiên khắc nghiệt của đời người mà các nhân vật phải trải qua trong cảnh hàn vi, tật bệnh, mất mát người thân.
      • Nỗi khổ xã hội và tâm lý: Bao gồm oán tăng hội khổ (phải chung sống, đối mặt hàng ngày với kẻ độc ác, bất nhân như cô Tấm đối mặt với mẹ con dì ghẻ, Thạch Sanh đối mặt với mẹ con Lý Thông); ái biệt ly khổ (cảnh ngộ mồ côi cha mẹ, chia lìa người thân yêu); cầu bất đắc khổ (những mong ước tối thiểu về cơm ăn, áo mặc, tình yêu, hạnh phúc bị chà đạp); ngũ thụ uẩn khổ (sự đày ải cả về thể xác lẫn tinh thần).
    • Số phận nhân vật: Các nhân vật trung tâm thường là người mồ côi (Thạch Sanh, Tấm Cám), người con riêng (cô Tấm), người em út bị chiếm đoạt gia tài (truyện Cây khế), người làm thuê bị bóc lột (truyện Cây tre trăm đốt). Cuộc đời của họ chịu nhiều bất công, đày đọa, phản ánh chân thực nỗi thống khổ của tầng lớp dưới đáy xã hội thời phong kiến.
  2. Quan niệm về nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ của con người trong truyện cổ tích Việt Nam:

    • Phản ánh của Tập đế: Phật giáo truy tìm căn nguyên đau khổ ở thuyết Thập nhị nhân duyên, vô minh và Tam độc (tham, sân, si).
    • Trong truyện cổ tích, nguyên nhân đau khổ được cụ thể hóa thành lòng tham lam, đố kỵ và bản tính độc ác của các lực lượng thống trị hoặc những kẻ tha hóa đạo đức:
      • Lòng tham tài sản, của cải (như người anh trong Cây khế, mụ dì ghẻ trong Tấm Cám, phú ông trong Cây tre trăm đốt).
      • Thói sân hận, ganh ghét trước phẩm hạnh và tài năng của người lương thiện.
      • Sự si mê, vô minh làm lu mờ lương tri, dẫn đến việc lừa gạt, cướp công, hãm hại người khác (như Lý Thông lừa cướp công giết chằn tinh, đại bàng của Thạch Sanh). Nỗi khổ của nhân vật không chỉ do hoàn cảnh tự nhiên mà trực tiếp bắt nguồn từ các hành vi tội lỗi do con người gây ra.
  3. Quan niệm về giải thoát con người trong truyện cổ tích Việt Nam:

    • Phản ánh của Diệt đế và Đạo đế: Khác với mục tiêu Niết bàn xuất thế trừu tượng của Phật giáo kinh viện, sự giải thoát trong truyện cổ tích mang tính trần thế, thiết thực. Đó là sự giải phóng con người khỏi áp bức, nghèo hèn để bước vào cuộc sống hạnh phúc, ấm no, công bằng ngay tại cuộc đời thực.
    • Con đường giải thoát: Được thực thi thông qua luật Nhân quả - Nghiệp báo ("ở hiền gặp lành", "gieo gió gặt bão"). Những nhân vật lương thiện, nhẫn nại, tích đức làm việc thiện dù phải trải qua nhiều lần chết đi sống lại (như cô Tấm hóa thân qua chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị) cuối cùng đều được hồi sinh và hưởng hạnh phúc trần thế.
    • Vai trò của lực lượng siêu nhiên: Ông Bụt, Đức Phật hay Quan Âm xuất hiện trong các thời điểm nhân vật bế tắc tuyệt đối, đóng vai trò là phương tiện trợ giúp nhân vật thiện lương tự vượt qua thử thách, trừng trị kẻ ác và lập lại trật tự đạo đức xã hội.

Chương 3: Giá trị và hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam

Chương 3 đánh giá toàn diện tác động hai mặt của nhân sinh quan Phật giáo thể hiện qua truyện cổ tích đối với đời sống tinh thần của người Việt:

  1. Giá trị của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam:

    • Sống lạc quan, yêu đời: Triết lý nhân quả và cái kết có hậu trong truyện cổ tích gieo vào lòng quần chúng lao động niềm tin vững chắc vào sự tất thắng của cái thiện, củng cố tinh thần lạc quan trước những gian truân, thử thách của cuộc sống.
    • Khuyến khích con người làm việc thiện, tránh việc ác: Truyện cổ tích trở thành phương tiện giáo dục đạo lý bình dân hữu hiệu; các tấm gương hiền lành được đền đáp và những kết cục bi thảm của kẻ tham lam, tàn bạo (như Thạch Sùng biến thành con mối, người anh trong truyện Cây khế rơi xuống biển) răn đe, kiềm chế hành vi xấu xa, hướng con người tới lối sống vị tha, trung thực, nhân nghĩa.
    • Sống an lạc và hạnh phúc trong tâm hồn: Tinh thần từ bi giúp con người thanh lọc tâm thức, vượt lên những toan tính tầm thường, giữ gìn sự bình an nội tâm giữa hoàn cảnh xã hội nhiều biến động.
  2. Hạn chế của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích Việt Nam:

    • Tư tưởng ít gắn liền với hoạt động thực tiễn: Các giải pháp vượt thoát nghịch cảnh trong truyện phần lớn dựa vào sự an bài mang tính siêu nhiên hoặc kỳ ảo, thiếu vắng các biện pháp đấu tranh xã hội thực tế để xóa bỏ tận gốc nguyên nhân kinh tế - giai cấp sinh ra bất công.
    • Quá thiên về nội tâm: Việc nhấn mạnh tu tâm tích đức, an phận thủ thường và giải thích bất công bằng nghiệp báo tiền kiếp dễ dẫn con người đến thái độ cam chịu, nhẫn nhục, thiếu ý thức chủ động đấu tranh cải tạo hoàn cảnh sống.
    • Sống ỷ lại, trông chờ vào phép màu: Nhân vật trong truyện cổ tích khi gặp đau khổ thường chỉ biết khóc lóc thụ động chờ Bụt hiện lên cứu giúp; điều này phản ánh tâm lý thụ động, trông chờ ngoại lực, làm suy giảm tính chủ động và năng lực thực tiễn của con người trong đời sống hiện thực.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Luận án hệ thống hóa một cách đồng bộ các vấn đề lý luận về nhân sinh quan Phật giáo và thể loại truyện cổ tích Việt Nam, luận giải rõ quá trình khúc xạ, bản địa hóa của tư tưởng Phật giáo khi chuyển dịch từ kinh điển thành các môtíp văn học dân gian.
  • Khai thác và làm rõ nội dung cốt lõi của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích thông qua cấu trúc bộ ba: quan niệm về nỗi khổ cuộc đời (Khổ đế), nguyên nhân gây khổ (Tập đế) và con đường giải thoát (Diệt đế, Đạo đế) với các biểu hiện cụ thể trong số phận nhân vật người mồ côi, người em út, người nghèo.
  • Luận giải khách quan, toàn diện cả hai mặt giá trị đạo đức - nhân văn và hạn chế nhận thức - thực tiễn của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích trên lập trường duy vật biện chứng, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa hoặc phủ nhận sạch trơn.

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Giá trị ứng dụng: Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn Triết học, Tôn giáo học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam và Văn hóa dân gian tại các trường đại học, học viện.
  • Định hướng giáo dục nhân cách: Gợi mở việc chắt lọc các bài học nhân sinh tích cực (lòng nhân ái, đức hy sinh, lối sống thiện lương, tôn trọng lẽ công bằng) trong truyện cổ tích để phục vụ công tác giáo dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
  • Phê phán tàn dư tiêu cực: Đề xuất yêu cầu nhận thức tỉnh táo nhằm loại bỏ tâm lý thụ động, cam chịu số phận, ỷ lại vào phép màu hoặc các biểu hiện mê tín dị đoan nảy sinh từ việc tiếp nhận lệch lạc triết lý nghiệp báo luân hồi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Văn bản luận án chỉ tập trung khảo cứu các nội dung cơ bản của nhân sinh quan (cuộc đời, nguyên nhân đau khổ, giải thoát) mà chưa mở rộng sang toàn bộ các khía cạnh khác của triết học Phật giáo như bản thể luận hay nhận thức luận. Địa bàn ngữ liệu chủ yếu giới hạn trong các truyện cổ tích tiêu biểu của người Việt (người Kinh), chưa bao quát toàn bộ truyện cổ tích của cộng đồng 54 dân tộc anh em tại Việt Nam.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo cứu sang truyện cổ tích của các dân tộc thiểu số có tiếp nhận văn hóa Phật giáo (như người Khmer Nam Bộ với Phật giáo Nam tông); triển khai các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa truyện cổ tích Việt Nam với truyện cổ tích các quốc gia Đông Nam Á cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo; đồng thời nghiên cứu sự chuyển hóa của các giá trị nhân sinh quan này trong các hình thức nghệ thuật đương đại.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Triết học và Tôn giáo học: Tham khảo khung phân tích vận dụng các phạm trù triết học Mác - Lênin để giải mã các hiện tượng văn hóa - tư tưởng dân gian; đặc biệt là cách luận giải Tứ diệu đế và luật nhân quả qua chất liệu tự sự.
  2. Nhà nghiên cứu Văn hóa học và Văn học dân gian: Tiếp cận cách nhìn liên ngành giữa triết học và văn học, hiểu rõ hơn căn nguyên tư tưởng chi phối kết cấu cốt truyện, sự xây dựng tính cách nhân vật và các môtíp thần kỳ trong truyện cổ tích.
  3. Người làm công tác tư tưởng, văn hóa và giáo dục đạo đức: Tham khảo các lập luận ở Chương 3 để xây dựng nội dung giáo dục giá trị sống, đạo đức hướng thiện cho học sinh, sinh viên; đồng thời nâng cao nhận thức phê phán đối với tâm lý cam chịu, thụ động trong đời sống xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích thế nào về sự chuyển hóa từ truyện Phật giáo sang truyện cổ tích dân gian Việt Nam?

Theo luận án, khi du nhập vào Việt Nam, các tăng lữ thường sử dụng phương thức kể chuyện truyền khẩu để truyền bá giáo lý nhà Phật tới quần chúng nhân dân. Qua thời gian, phương thức truyền khẩu này khiến một phần giáo lý kinh viện bị mờ nhạt dần; nhiều phật thoại đã tách khỏi hệ thống giáo lý tôn giáo chính thống để hòa nhập vào đời sống dân gian, trở thành truyện cổ tích của nhân dân, mang đậm cảm thức và ước vọng của người lao động.

2. Sự khác biệt căn bản giữa quan niệm giải thoát trong Phật giáo kinh viện và giải thoát trong truyện cổ tích Việt Nam là gì?

Trong triết học Phật giáo nguyên thủy, giải thoát tối hậu là đạt tới cõi Niết bàn, dập tắt hoàn toàn vô minh và thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Ngược lại, trong truyện cổ tích Việt Nam, quan niệm giải thoát mang tính hiện thực và nhân gian: đó là việc nhân vật lương thiện thoát khỏi cảnh ngộ nghèo hèn, áp bức, bất công để giành lại quyền sống, có được gia đình êm ấm, cuộc sống no đủ, công bằng và hạnh phúc ngay tại cõi đời thực.

3. Khổ đế của Phật giáo được phản ánh qua những dạng nhân vật nào trong truyện cổ tích Việt Nam?

Khổ đế được phản ánh chân thực qua số phận bất hạnh của các nhân vật thuộc tầng lớp nghèo khổ, yếu thế trong xã hội thời phong kiến: người mồ côi (như Thạch Sanh), người con riêng bị đày đọa (như cô Tấm), người em út bị tước đoạt gia tài (trong Cây khế), người nông dân làm thuê bị lừa gạt, bóc lột sức lao động (trong Cây tre trăm đốt). Cuộc đời của họ gánh chịu đầy đủ cả nỗi đau về thể xác (sinh, lão, bệnh, tử) lẫn sự đày đọa về tinh thần (oán tăng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ).

4. Những hạn chế căn bản của nhân sinh quan Phật giáo trong truyện cổ tích được luận án chỉ ra gồm những gì?

Luận án chỉ ra ba mặt hạn chế căn bản:

  • Tư tưởng ít gắn liền với hoạt động thực tiễn biến đổi xã hội, chủ yếu dựa vào yếu tố kỳ ảo để giải quyết mâu thuẫn.
  • Quá thiên về đời sống nội tâm, hướng con người vào việc cam chịu, nhẫn nhục, an phận trước hoàn cảnh sống bất công do hiểu lệch về nghiệp báo.
  • Dẫn đến tâm lý ỷ lại, thụ động trông chờ vào phép màu và sự can thiệp của thần linh thay vì tự thân hành động đấu tranh để giải phóng mình.

5. Tác giả đã công bố những công trình khoa học nào liên quan trực tiếp đến đề tài luận án?

Tác giả đã công bố 3 bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành:

  • "Triết lý nhân sinh Phật giáo trong văn học dân gian Việt Nam", Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt 09/2014, ISSN: 2354-0753.
  • "Những giá trị tiêu biểu của Phật giáo với việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam mới", Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, số 3/2017, ISSN: 1859-1485.
  • "Bốn chân lý của đạo Phật", Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 4/2017, ISSN: 1859-1760.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Oanh là công trình nghiên cứu chuyên khảo đã phân tích một cách có hệ thống nội dung nhân sinh quan Phật giáo được phản ánh trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Dưới lăng kính của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc tư tưởng từ nỗi khổ cuộc đời, căn nguyên đau khổ đến con đường giải thoát mang tính nhân gian của người lao động. Đồng thời, luận án đã phân định rõ ràng các giá trị giáo dục đạo đức, tinh thần lạc quan, hướng thiện cùng những hạn chế về tính thụ động, ỷ lại vào phép màu của nhân sinh quan này. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho công tác đào tạo chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học và nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam.