phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng: + Chƣơng 1: Tiều sử và hành trạng Huyền Quang qua các nguồn thƣ tịch cổ + Chƣơng 2: Nhà thơ Lý Đạo Tái và Tôn giả Huyền Quang + Chƣơng 3: Huyền Quang tôn giả - nhân vật văn học và những kết tinh huyền thoại, giai thoại. 3 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG HUYỀN QUANG QUA CÁC NGUỒN THƢ TỊCH CỔ Là một hiện tƣợng tƣ tƣởng văn hóa, văn học đặc biệt ở giai đoạn Lý - Trần nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, Huyền Quang tôn giả đã đi vào sử sách từ rất sớm. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ông ở các góc độ khác nhau: lịch sử tƣ tƣởng, văn hóa dân gian, văn học… Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đánh giá cao Huyền Quang ở nhiều phƣơng diện: một nhà tƣ tƣởng lớn, một thiền gia – thi nhân, một nhân vật văn học độc đáo. Trong chƣơng đầu của luận văn, chúng tôi muốn dựng lên một bức chân phác họa, khái quát về vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm dựa trên các ngồn thƣ tịch cổ, đồng thời cũng đặt đối tƣợng nghiên cứu trong sự vận động tƣ tƣởng văn hóa, văn học của thời đại, để có đƣợc một cái nhìn tổng quát, khách quan.
Qua các nguồn thƣ tịch cổ, chúng tôi nỗ lực dựng lại hình ảnh Huyền Quang ở bốn phƣơng diện theo tiến trình tiểu sử hành trạng của ông, đó là : Hình ảnh một vị trí thức nho sĩ; Hình ảnh một nhà Phật học lỗi lạc – đệ tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm; Hình ảnh một vị ẩn sĩ vả hình ảnh một thi nhân. Chúng tôi hi vọng thông qua việc dựng lên bức chân dung phác họa về Huyền Quang qua các nguồn thƣ tịch cổ, có thể phẩn nào cung cấp cho độc giả một cái nhìn toàn diện, khách quan và thống nhất về hiện tƣợng tƣ tƣởng, văn hóa, văn học đặc biệt này. Tuy nhiên nhƣ đã đề cập ở phần đầu luận văn, hiện các nguồn thƣ tịch cổ ghi chép về tiểu sử hành trạng và trƣớc tác của Huyền Quang còn có nhiều điểm chƣa thống nhất. Vì vậy, trƣớc khi đi vào việc dựng lại hình ảnh khái quát của Huyền Quang qua các nguồn thƣ tịch cổ, chúng tôi tập trung làm việc làm rõ những vấn phức tạp trong việc nghiên cứu tiểu sử hành trạng và trƣớc tác của ông.
Vấn đề tiểu sử và trước tác của Huyền Quang 1. Vấn đề tiểu sử Huyền Quang Đƣợc nhìn nhận ở tƣ cách vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, một đơn vị tác gia văn học, một danh nhân văn hóa - lịch sử, tên tuổi, tiểu sử hành trạng 4 và trƣớc tác của Lý Đạo Tái - Huyền Quang tôn giả đã đƣợc lƣu lại từ rất sớm qua nhiều nguồn thƣ tịch khác nhau. Những thƣ tịch cổ ghi chép về tiểu sử hành trạng và trƣớc tác của Huyền Quang có thể kể đến nhƣ: 1. Tam tổ thực lục - Khuyết danh 2.
Tam tổ hành trạng - Khuyết danh 3. Thiền tông bản hạnh - Khuyết danh 4. Việt Nam cao tăng lục - Khuyết danh 5. Thánh đăng ngữ lục - Khuyết danh 6.
Đinh kế lịch triều đăng khoa lục - Khuyết danh 7. Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú 8. Kiến văn tiểu lục - Lê Quý Đôn 9. Hoàng Việt thi tuyển - Bùi Huy Bích 10.
Toàn Việt thi lục - Lê Quý Đôn 11. Trích diễm thi tập - Hoàng Đức Lƣơng 12. Việt âm thi tập - Phan Phu Tiên 13. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh - Ngô Thì Nhậm 14.
Tân đính Lĩnh Nam trích quái - Vũ Quỳnh 15. Vũ trung tuỳ bút - Phạm Đình Hổ 16. Sơn cư tạp thuật - Đan Sơn Từ kết quả liệt kê nhƣ trên, có thể thấy các nguồn thƣ tịch cổ ghi chép về tiểu sử hành trạng và trƣớc tác của Huyền Quang không phải là ít. Tuy nhiên, những ghi chép về tiểu sử hành trạng và trƣớc tác của ông trong các nguồn thƣ tịch cổ còn có nhiều điểm chƣa đƣợc thống nhất.
Điều này đã gây không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu, đƣa ra những nhận xét, đánh giá mang tính khách quan, nhất quán về hiện tƣợng tƣ tƣởng văn hóa, văn học đặc biệt này. Trong các nguồn thƣ tịch cổ mà chúng tôi đã liệt kê ở trên, thƣ tịch ghi chép về Huyền Quang đƣợc xem là chính thống và đầy đủ hơn cả là bản Tổ gia thực lục trong Tam tổ thực lục. Tổ gia thực lục nói riêng và Tam tổ thực lục nói chung đều không có tên tác giả và ngƣời hiệu khảo. Theo lời dẫn in ở cuối bản Tam tổ thực lục thì “Quyển Tổ gia thực lục này, vào khoảng niên hiệu Tuyên Đức (1426 - 1435) đời nhà Minh, Thƣợng thƣ Hoàng Phúc thấy đƣợc, liền mang 5 về nhà Minh (…).
Đến khoảng năm Gia Tĩnh (1522 - 1558) nhà Minh, Tô Xuyên Hầu đi sứ sang nhà Minh, tới 19 năm sƣ giả mới trở về. Cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa Tổ, làm quan chuyển vận (…) đã gửi cho Tô Xuyên Hầu đem về (…). Trình Tuyền Hầu (Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) nhân đến chúc mừng đoàn sứ giả về nƣớc, bèn nhận sách đem về. Sau đó Trình Tuyền Hầu có làm văn chú thích sách này”.
90] Nhƣ vậy, Tổ gia thực lục sau khi đƣợc tìm thấy đã đƣợc ghép với hai phần trƣớc chép về Điều Ngự Giác Hoàng – Trúc Lâm đệ nhất Tổ và Pháp Loa – đệ nhị Tổ (khoảng thế kỷ thứ XIV) để thành ra sách Tam Tổ thực lục và đƣợc lƣu hành vào khoảng giữa thế kỷ XVI. Theo Tổ gia thực lục trong Tam tổ thực lục thì Huyền Quang sinh năm Giáp dần (1254): “Tổ ở phía Đông Nam chùa Ngọc Hoàng, tại Lang Am, làng Vạn Tải, hạ lƣu sông Bắc Giang (khoảng năm Hồng Đức (1470 - 1497) đổi thành huyện Gia Định, xã Vạn Tƣ (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Lƣơng, tỉnh Bắc Ninh); tổ tiên chín đời của Tổ là Lý Ôn Hoà làm quan Hành khiển dƣới triều vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Ôn Hoà sinh Lƣơng, Lƣơng sinh Nhƣợng, Nhƣợng sinh Minh Doãn, Minh Doãn sinh Khâm, Khâm sinh Quang Dụ (làm quan chuyển vận đời Trần), Quang Dụ sinh 4 ngƣời con trai: ngƣời trƣởng tên là Tráng, ngƣời kế tên Tƣớng, ngƣời thứ ba tên Thành và ngƣời út tên Tuệ Tổ. Tuệ Tổ là Tổ phụ của Tổ sƣ.
Lúc còn làm học trò, nhân Chiêm Thành sang cƣớp phá, ông đánh giặc có công, nhƣng không ra làm quan, chỉ vui thú điền viên, ƣu du qua ngày tháng, lại thích xem sách hay và chuyện lạ. Mẹ Tổ là Lê Thị, vốn là ngƣời đàn bà hiền đức, chiều chuộng chồng con, kính thờ cha mẹ chồng” [56, tr. Theo Tổ gia thực lục thì Huyền Quang xuất thân từ một gia đình thi thƣ, có khiếu văn chƣơng từ nhỏ. Năm 20 tuổi, ông đỗ thi Hƣơng, năm 21 tuổi ông thi tiếp khoa thi Hội và đỗ Trạng nguyên.
Sau khi thi đỗ, ông đƣợc bổ làm việc trong viện Hàn lâm, phụng mệnh tiếp sứ giả phƣơng Bắc. Năm 1305, nhân đi theo vua Anh Tông (1293 - 1314) đến chùa Vĩnh Nghiêm, thấy quốc sƣ Pháp Loa (1284 - 1330) đang hành đạo, lòng sinh ngƣỡng mộ, nhớ lại duyên xƣa, ông bùi ngùi cảm thán rằng: “Làm quan lên Bồng Đảo, đắc đạo đến Phổ Đà, trên cõi nhân gian là Tiên, cảnh giới Tây phƣơng là Phật. Phú quý vinh hoa nào khác lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hạ, há nên lƣu luyến mãi” [56, tr. Nhân đó ông dâng biểu xin 6 từ chức để xuất gia học đạo tu hành.
Cũng theo Tổ gia thực lục thì ông thọ giáo với Thiền sƣ Pháp Loa và đƣợc pháp hiệu là Huyền Quang. Sau đó Huyền Quang phụng mệnh đệ nhất tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đến trụ trì ở chùa Vân Yên (đến đời Hồng Đức (1470 - 1497) đổi tên thành chùa Hoa Yên) núi Yên Tử. Với học vấn sâu rộng lại tinh thông Phật pháp, Tăng, Ni theo học ông đông đến hàng nghìn ngƣời. Điều Ngự còn sai ông biên soạn Chư phẩm kinh, Công văn tập và các sách khác…Ông đƣợc Điều Ngự hết sức yêu quý và đánh giá rất cao về trình độ học vấn.
Sau khi Điều Ngự mất, ông đã phò tá Pháp Loa hơn hai mƣơi năm (1309 – 1330) và đóng góp không nhỏ cho sự hƣng thịnh của Thiền phái Trúc Lâm. Năm 1330, Pháp Loa mất, ông nối tiếp làm vị Tổ thứ ba của dòng Thiền Trúc Lâm. Về cuối đời, Huyền Quang cƣ trú ở núi Thanh Mai sáu năm, rồi về trụ trì ở Côn Sơn. Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn, thọ 80 tuổi.
Đến ngày 24, tin tức mới về tới làng Vạn Tải, nên dân làng lấy ngày này làm ngày giỗ của ông. Mặc dù Tổ gia thực lục trong Tam tổ thực lục đƣợc xem là nguồn thƣ tịch ghi chép tƣơng đối đầy đủ và chính thống hơn cả về tiểu sử và hành trạng của Huyền Quang (Các nguồn thƣ tịch ghi chép về Huyền Quang vể sau cũng thƣờng dựa vào bản Tổ gia thực lục này), nhƣng tính xác thực nó cũng chỉ dừng lại ở đôi ba điểm mốc quan trọng trong tiểu sử hành trạng của Huyền Quang, bên cạnh những sự kiện khác còn gây nhiều tranh cãi và nghi hoặc. Qua Tổ gia thực lục, chúng ta cũng mới chỉ xác định đƣợc quê quán, gia thế, năm sinh năm mất của Huyền Quang. Ông đƣợc sinh ra trong một gia đình có truyền thống thi thƣ, từng kinh qua cửa Khổng sân Trình, nhƣng sau đó ông xuất gia.
Với học thuật uyên thâm, ông trở thành vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm và có những đóng góp rất quan trọng cho sự hƣng thịnh của Thiền phái này. Tổ gia thực lục nói riêng và Tam tổ thực lục nói chung, trong quá trình ghi chép tiểu sử, với mục đích đề cao tài năng và phẩm hạnh của của các vị Tổ, đã thần thánh hóa họ bằng vô số những yếu tố kỳ ảo. Điều này đã “vi phạm”, mục đích biên soạn “thực lục” - ghi chép đúng sự thực. Các vị Tổ Trúc Lâm, đặc biệt là Tam Tổ Huyền Quang đã đƣợc thần thánh hóa bằng những yếu tố kỳ ảo, những vầng hào quang huyền diệu xung quanh tiểu sử hành trạng một cách đậm đặc.
Chính vì vậy mà Tổ gia thực lục nói riêng và Tam tổ thực lục nói chung đã 7 chứa đựng những yếu tố vƣợt khỏi chức năng tôn giáo, ghi chép tiểu sử các vị thiền sƣ, tạo mầm mống cho việc hình thành những văn bản mang đậm chất văn học đích thực về sau.