CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC 1.1 Khái niệm về chiến lược Khái niệm về chiến lược có thể đã được hình thành từ ngàn xưa, khi các quốc gia giao tranh với nhau trong lĩnh vực quân sự. Khi đó, các vị tướng lĩnh của các bên đã biết phân tích tình hình thực tế lúc giao chiến, tận dụng điểm mạnh của mình, khai thác điểm yếu của đối phương đồng thời biết tận dụng thời cơ để giành chiến thắng trong các trận chiến. Thực tế, có rất nhiều khái niệm về chiến lược trong quân sự đến nay vẫn còn được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh. Điển hình hơn cả là quyển Tôn Tử Binh Pháp của Tôn Vũ, một nhà quân sự vĩ đại của Trung Quốc.
Những tư tưởng trong tác phẩm nổi tiếng bậc nhất này như “Biết người biết ta trăm trận không nguy”, “Việc hành binh thì phải thần tốc, không được kéo dài”… cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và được tham khảo, vận dụng không chỉ riêng trong lĩnh vực quân sự mà còn là trong kinh doanh, chính trị. Cho đến nay, đã có khá nhiều khái niệm về chiến lược được đưa ra: Theo Alfred Chandler: “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện.”(2) (1) , (2) Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương (2007), Quản trị chiến lược, NXB Thống Kê, trang 4. David: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.
Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh.Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ.”(4) Vậy, chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó, nó cho thấy rõ tổ chức đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động gì và tổ chức sẽ thuộc vào lĩnh vực nào. Chiến lược phát triển của một ngành là một chương trình hành động cụ thể của một ngành nhằm xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản trên cơ sở xem xét một cách khách quan đến các yếu tố khách quan và nội tại của ngành nhằm đáp ứng cho sự phát triển của ngành trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.2 Khái niệm về quản trị chiến lược Theo Alfred Chander: “Quản trị chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bố tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó. David: “Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra.” (6) (3) Fred David (2006), Bản dịch khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống Kê, trang 20. (4) Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương (2007), Quản trị chiến lược, NXB Thống Kê, trang 4.
(5) (7) Theo JohnĐồng PGS-TS Pearce II và Richard Thị Thanh B. Robinson Phương, Ths Nguyễn Đình :Hoà, “Quản Ths trị Trầnchiến Thị Ýlược là một hệ Nhi (2005), Giáo trình quản các quyết địnhtrị và chiến lược,động hành NXB để Thống Kê,thành hình trang 26. và thực hiện các kế hoạch nhằm đạt (6) Fred được các mụcDavid tiêu(2006), Bản dịch của doanh khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống Kê, trang 9. 6 Theo John Pearce và Richard B.
Robinson: “Quản trị chiến lược là một hệ các quyết định và hành động để hình thành và thực hiện các kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.”(7) Vậy, quản trị chiến lược, như mọi tiến trình quản trị khác, bao gồm việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra việc thực hiện. Đối tượng quản trị ở đây chính là các tác động của môi trường (các cơ hội, đe dọa) và cách thức doanh nghiệp phản ứng lại những tác động của môi trường (bằng nỗ lực của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp).3 Vai trò của quản trị chiến lược Từ các định nghĩa về chiến lược nói trên, chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của quản trị chiến lược: Thứ nhất, việc xác định chiến lược giúp các tổ chức thấy rõ được mục đích và hướng đi của mình, giúp nhà quản trị xem xét và xác định xem tổ chức đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới vị trí nhất định. Chiến lược cụ thể và rõ ràng sẽ khuyến khích nhà quản trị và nhân viên nắm vững những gì mình cần làm để có thể đạt được các mục tiêu trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Thứ hai, việc hoạch định chiến lược trước giúp nhà quản trị dự đoán được môi trường kinh doanh sắp tới.
Môi trường kinh doanh mà các tổ chức phải đối mặt ngày nay thay đổi không ngừng. Việc dự đoán môi trường kinh doanh sắp tới không những giúp cho tổ chức hạn chế được những biến cố có thể xảy ra mà còn tận dụng được những cơ hội mà môi trường kinh doanh mang đến cho mình. Thứ ba, việc xây dựng chiến lược giúp các nhà quản trị gắn các quyết định của mình với môi trường kinh doanh, với các dự báo có cơ sở , tránh được các yếu tố chủ quan của nhà quản trị. (7) PGS-TS Đồng Thị Thanh Phương,Ths Nguyễn Đình Hoà,Ths Trần Thị Ý Nhi (2005), Giáo trình quản trị chiến lược, NXB Thống Kê, trang 26 7 Cuối cùng, phần lớn các nghiên cứu cho thấy rằng, những tổ chức nào có một tầm nhìn, một chiến lược cụ thể, rõ ràng sẽ đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn những tổ chức khác.
Điều này không có nghĩa là tất cả các tổ chức khi đã hoạch định chiến lược thì sẽ chắc chắn thành công vì thành công hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thực thi chiến lược, quản trị nhân sự, thông tin phản hồi… mà nó hàm ý rằng những tổ chức này sẽ trở nên chủ động hơn trong từng bước đi của mình, nhanh chóng giành lợi thế khi cơ hội đến cũng như hạn chế bớt những rủi ro.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 1.1 Mô hình quản trị chiến lược toàn diện Mô hình quản trị chiến lược toàn diện được mô tả ở hình 1.1 là một mô hình quản trị chiến lược toàn diện được chấp nhận rộng rãi, nó thể hiện một phương pháp rõ ràng và thực tiễn trong việc hình thành, thực thi và kiểm tra, đánh giá các chiến lược. Quá trình quản trị chiến lược có thể chia thành 3 giai đoạn chính: § Giai đoạn hình thành chiến lược, gồm: xem xét nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược hiện tại, đánh giá các yếu tố bên ngoài để xác định các cơ hội và đe dọa chủ yếu, đánh giá tình hình nội bộ để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, xác định sứ mạng, thiết lập các mục tiêu dài hạn, lựa chọn các chiến lược để theo đuổi. § Giai đoạn thực thi chiến lược, gồm: thiết lập những mục tiêu ngắn hạn, đề ra chính sách, phân phối các tài nguyên cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược. § Giai đoạn đánh giá chiến lược, gồm: đo lường, đánh giá thành tích đạt được so với mục tiêu đã đề ra cho từng thời kỳ, đánh giá các thay đổi vị trí chiến lược, thực hiện điều chỉnh chiến lược khi có những thay đổi chính, hoặc khi chiến lược hiện tại không thành công.
Trong thực tế, quá trình quản trị chiến lược không chia cắt, tách biệt các giai đoạn rõ ràng như trong mô hình mà thực hiện liên tục, bổ sung, hổ trợ cho nhau.1 Mô hình quản trị chiến lược toàn diện Thông tin phản hồi Thực hiện việc Thiết lập Thiết lập nghiên cứu môi mục tiêu dài mục tiêu trường để xác hạn ngắn hạn định các cơ hội và đe dọa chủ yếu Xem xét sứ Xác định sứ mạng Phân Đo mạng mục (mission) phối lường tiêu và các và đánh chiến lược nguồn giá kết hiện tại lực quả Phân tích nội bộ Xây dựng và Đề ra các để nhận diện lựa chọn các chính những điểm mạnh chiến lược sách và yếu để thực hiện Thông tin phản hồi Hình thành Thực thi Đánh giá chiến lược chiến lược chiến lược Nguồn: PGS. Nguyễn Thị Liên Diệp và Th.2 Quy trình xây dựng chiến lược Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sẽ chỉ tập trung đi sâu vào giai đoạn hình thành chiến lược. Giai đoạn này được tiến hành thông qua các bước sau: 9 1.1 Xem xét sứ mạng mục tiêu và chiến lược hiện tại của tổ chức Đây là điểm khởi đầu hợp lý trong quản trị chiến lược vì tình hình hiện tại của tổ chức có thể loại trừ một số chiến lược, thậm chí giúp lựa chọn hành động cụ thể. Mỗi tổ chức đều có nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược, ngay cả khi những yếu tố này không được thiết lập và viết ra cụ thể hoặc truyền thông chính thức.2 Xác định sứ mạng Một sứ mạng cho biết chức năng cơ bản của một tổ chức trong xã hội, cho thấy tầm nhìn lâu dài của một tổ chức liên quan đến những gì họ muốn trong tương lai, những người mà họ muốn phục vụ.
Như đã thấy trong mô hình quản trị chiến lược, cần phải có một bản sứ mạng rõ ràng trước khi đề ra và thực hiện các chiến lược có thể được lựa chọn.3 Nghiên cứu môi trường để xác lập cơ hội và đe doạ chủ yếu Mục đích của việc phân tích môi trường bên ngoài là để thấy những cơ hội và mối đe dọa quan trọng mà một tổ chức gặp phải từ đó nhà quản lý có thể soạn thảo chiến lược nhằm tận dụng các cơ hội và né tránh hoặc làm giảm đi ảnh hưởng của các mối đe doạ. Môi trường hoạt động của tổ chức được phân chia thành hai loại: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô. § Môi trường vĩ mô Các yếu tố chủ yếu của môi trường vĩ mô bao gồm: - Kinh tế : Môi trường kinh tế luôn mang tính chất quan trọng hàng đầu vì nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức cầu của một ngành kinh doanh đồng thời quyết định chiến lược mà một tổ chức sẽ theo đuổi.