LỜI MỞ ĐẦU Pin nhiên liệu với những đặc điểm ƣu việt nhƣ kh ng phát sinh tiếng ồn và sản phẩm của phản ứng chỉ là nƣớc và dioxit cácbon (nếu sử dụng các nhiên liệu hóa thạch). Pin nhiên liệu giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ, giảm lƣợng dioxit cácbon, một trong các khí gây ra hiệu ứng nhà kính, các oxit của lƣu huỳnh và nitơ là các khí gây nhiễm môi trƣờng đang là vấn đề lớn cho xã hội.Vì vậy,trong những năm gần đây, Pin nhiên liệu đã nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt từ các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc vì đây là một trong những biện pháp để giải quyết bài toán lớn môi trƣờng và năng lƣợng hiện nay mà con ngƣời đang phải đối mặt. Tuy nhiên, một trong những vấn đề cản trở tính thƣơng mại và khả năng ứng dụng của nguồn nhiên liệu mới này là chi phí xúc tác điện cực cao vì Platin là kim loại cực kỳ quý. Mặt khác, trong một số loại Pin nhiên liệu chẳng hạn nhƣ Pin nhiên liệu sử dụng trƣc tiếp Methanol, hàm lƣợng xúc tác trong Pin có thể hao phí đi do quá trình oxy hóa Methanol bị đầu độc bởi các chất trung gian nhƣ CO hay CHO.
Để giải quyết những vấn đề trên, một số nghiên cứu gần đây đã tập trung vào việc đƣa thêm kim loại thứ hai và thứ ba vào hợp kim xúc tác để nâng cao tính kinh tế giảm khà năng đầu độc Pt của CO chẳng hạn PtRu, PtAu, PtPd,…[1,2,3]. Trong các hơp kim xúc tác trên, PtRu/C cho kết quả khả quan nhất nhƣng Pt và Ru vẫn là những kim loại quý hiếm, vì vậy mà tính thƣơng mại của xúc tác chƣa cao. Trong đề tài này, chúng tôi tiến hành tổng hợp hợp kim PtRuMo/C với các tỷ lệ khác nhau là (3:1:1), (3:2:1) và (2:1:1) bằng phƣơng pháp khử hóa học ở nhiệt độ thấp. Bằng các ph p đo phân tích cho thấy rằng các mẫu hợp kim xúc tác nano PtRuMo/C không những có khả năng chống đầu độc xúc tác mà khả năng hoạt hóa xúc tác của chúng cao hơn các mẫu xúc tác PtRu/C (3:1) và PtMo/C (3:1 cũng đƣợc tổng hợp bằng phƣơng pháp tƣơng tự.
Ngoài ra, để đánh giá thêm khả năng vai trò của Mo trong xúc tác, chúng tôi tiến hành gắn hợp kim nano PtRu trên nền chất mang là Ti0.3O2, kết qua phân tích đánh giá cho thấy đã có cơ chế chuyển dịch điện tử từ Mo sang Pt làm cho lien kết giữa hợp kim và chất mang bền vững hơn nên khả năng hoạt hóa xúc tác cao hơn khi so sánh với xúc tác Pt/C (ETEK và PtRu/C (JM đang sử dụng thƣơng mại hiện nay. Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu suất và làm giảm chi phí xúc tác điện cực pin nhiên liệu sử dung trực tiếp methanol.1 TỔNG QUAN VỀ PIN NHIÊN LIỆU 1.1 Định nghĩa pin nhiên liệu Pin nhiên liệu là một thiết bị có thể chuyển đổi trực tiếp hóa năng của nhiên liệu thành điện năng nhờ vào các quá trình điện hóa. Nguồn nhiên liệu cơ bản cần thiết cho pin vận hành gồm: hydro, methanol, ethanol… và chất oxy hóa ( thƣờng là lấy từ không khí) [4]. Tƣơng tự nhƣ ắc quy, pin nhiên liệu là một thiết bị tạo ra điện năng th ng qua cơ chế phản ứng điện hóa.
Điểm khác biệt nằm ở chỗ, pin nhiên liệu có thể tạo ra dòng điện liên tục khi có một nguồn nhiên liệu cung cấp cho nó, trong khi đó, ắc quy cần phải đƣợc nạp điện lại (sạc) sau một thời gian sử dụng. Vì thế mà pin nhiên liệu không chứa năng lƣợng bên trong, nó chuyển hóa trực tiếp nhiên liệu thành điện năng, trong khi ắc quy cần phải đƣợc nạp điện lại từ một nguồn bên ngoài. Hơn thế nữa, hai nhiên liệu cơ bản cần thiết cho pin nhiên liệu vận hành chỉ đơn giản là hydrogen và oxygen. Lợi thế hấp dẫn của pin nhiên liệu là ở chỗ nó tạo ra dòng điện sạch, rất ít ô nhiễm, do sản phẩm phụ của quá trình phát điện cuối cùng chỉ là nƣớc.11 Năng lƣợng sạch tạo ra từ pin nhiên liệu Hình 1.2 Lịch sử hình thành pin nhiên liệu Đầu thế kỷ XIX, đã có nhiều nhà khoa học đƣa ra khái niệm về pin nhiên liệu tiêu biểu trong số đó là Humphry Davy.
Năm 1839, William Grove, một nhà hóa học, vật lý, luật sƣ và là ngƣời đầu tiên phát minh ra acqui khí (Gas battery. Ông đã tiến hành một loạt thí nghiệm mà ông gọi nó là pin Volta khí, và cuối cùng đã chứng minh rằng dòng điện có thể đƣợc sản xuất từ một phản ứng điện hóa học giữa hydro và oxy trong một chất xúc tác Platin. Thí nghiệm của William Grove với 2 ống thủy tinh chứa khí H2 và O2 bọc điện cực platin ngâm trong H2SO4 loãng, ông nhận thấy có xuất hiện dòng 1 chiều. 2 Thí nghiệm của William Grove Năm 1889, Charles Langer và Ludwig Mond đã tiếp tục phát triển thành quả mà trƣớc đó William Grove đã làm đƣợc.
Họ đã thay thế nguồn hydro bằng khí than và họ cũng là những ngƣời đầu tiên đƣa ra thuật ngữ “Pin nhiên liệu” (Fuel cell). Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế nên những nghiên cứu của họ kh ng đƣợc ứng dụng rộng rãi. Năm 1932, Giáo sƣ Francis Bacon đã tiếp tục phát triển thêm mô hình bằng cách thay thế điện cực Platin bằng Niken và thay chất điện giải axit sulphuric bằng một chất ít ăn mòn là Kali hydroxyt (KOH. Ông đã đặt tên cho sản phẩm này là pin Bacon (Bacon cell.
Đây cũng là loại pin nhiên liệu kiềm đầu tiên. Những năm 1950, một khái niệm rất mới là pin nhiên liệu màng trao đổi proton (PEMFC đã xuất hiện và trong giai đoạn này pin nhiên liệu thật sự đƣợc nhiều lĩnh vực quan tâm hơn đặc biệt là lĩnh vực vũ trụ. Sở dĩ nhƣ vậy là do một số nguyên nhân đã gặp phải khi sử dụng những nguồn năng lƣợng khác nhƣ trọng lƣợng khá lớn của acquy, năng lƣợng hạt nhân thì nguy hiểm còn năng lƣợng mặt trời thì vẫn còn khá mới lạ. Vào những năm 1960, pin nhiên liệu đã đƣợc đƣa vào ứng dụng trong lĩnh vực quân sự và nó đƣợc sử dụng để cung cấp điện trên những loại tàu ngầm thời đó.
Tiếp sau nó đƣợc Liên X đƣa vào chƣơng trình kh ng gian có ngƣời lái. 17 Những năm 1970 đến 1980, ảnh huởng của cuộc khủng hoảng năng luợng cùng với những nhận thức sâu sắc về việc bảo vệ m i trƣờng, đã thúc đẩy nhiều tổ chức nghiên cứu và dùng pin nhiên liệu nhƣ một nguồn năng lƣợng hữu ích, nhằm thay thế những loại năng lƣợng có chi phí rất cao và khả năng gây nhiễm m i trƣờng lớn kia. DMFC cũng đã xuất hiện và phát triển trong khoảng thời gian này. Trong những năm này, chƣơng trình pin nhiên liệu quốc tế đã phát triển một loại pin nhiên liệu kiềm công suất lớn hơn cho Vệ tinh tàu con thoi củ NASA (NASA’s Space Shuttle Orbiter.
Vệ tinh sử dụng năng lƣợng 3 thiết bị pin nhiên liệu để cung cấp hoàn điện và nƣớc uống trong suốt chuyến bay mà không có bất cứ một pin dự phòng nào. Mỗi pin có khả năng cung cấp 12 kW điện liên tục và 16 kW điện trong thời gian ngắn.3 Pin nhiên liệu của NASA Đầu những năm 1990, pin nhiên liệu đã tiến lên thêm một bƣớc mới. Nếu nhƣ trƣớc đây hầu nhƣ ứng dụng chủ yếu trong những lĩnh vực nông nghiệp và một ít về không gian thì ở giai đoạn này nó đƣợc đƣa vào một lĩnh vực rất quan trọng đó là c ng nghiệp. Giai đoạn cũng gắn liền với sự chuyển công nghệ từ PEMFC (Proton exchange membrance fuel cell - PEMFC) sang SOFC (Solid oxide fuel cell - SOFC , đồng thời cũng nhe nhóm lên khả năng thƣơng mại hóa trên thị trƣờng[5].
18 Ngày nay, nay pin nhiên liệu đã đƣợc thƣơng mại hóa sử sụng một cách rộng rãi trong đời sống hằng ngày, hơn hết trong những phƣơng tiện đi lại. Nhiều công ty sản xuất ôtô lớn trên thế giới đã đƣa ra những mẫu xe có sử dụng pin nhiên liệu nhƣ: General Motor, Ford (Mỹ , Daimler Benz (Đức), Renaul (Pháp), Toyota, Nissan, Honda. (Nhật bản), Hyundai (Hàn Quốc ….Tuy vậy đến giai đoạn này, việc phổ biến sử dụng rộng rãi loại “pin” mới này vẫn còn gặp một số trở ngại do sự nghi ngờ về lợi nhuận của một số công ty về nó nhƣng chúng ta có quyền nghĩ đến và hy vọng nhiều cơ hội hứa hẹn phát triển sẽ đƣợc mở ra trong tƣơng lai kh ng xa.3 Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của pin nhiên liệu Một pin nhiên liệu có cấu tạo đơn giản bao gồm ba lớp nằm trên nhau. Lớp thứ nhất là điện cực nhiên liệu (cực dƣơng , lớp thứ hai là chất điện phân dẫn ion và lớp thứ ba là điện cực khí ôxy (cực âm.
Hai điện cực đƣợc làm bằng chất dẫn điện (kim loại, than chì,. Chất điện phân đƣợc dùng là nhiều chất khác nhau tùy thuộc vào loại của tế bào nhiên liệu, có loại ở thể rắn, có loại ở thể lỏng và có cấu trúc màng. Vì một pin riêng lẻ chỉ tạo đƣợc một điện thế rất thấp cho nên tùy theo điện thế cần dùng nhiều pin riêng lẻ đƣợc nối kế tiếp vào nhau, tức là chồng lên nhau. Ngƣời ta thƣờng gọi một lớp chồng lên nhau nhƣ vậy là stack [6].
Ngoài ra, hệ thống đầy đủ cần có các thiết bị phụ trợ nhƣ máy n n, máy bơm, để cung cấp các khí đầu vào, máy trao đổi nhiệt, hệ thống kiểm tra các yêu cầu, sự chắc chắn của sự vận hành máy, hệ thống dự trữ và điều chế nhiên liệu. 4 Cấu tạo pin nhiên liệu Nguyên lý hoạt động của pin: nhiên liệu đi vào ngăn anode bị oxy hóa thành ion H+ cùng với electron. Các electron mang điện tích âm kh ng đi qua đƣợc màng Nafion nên phải đi vòng qua một mạch điện bên ngoài, tạo ra dòng điện một chiều. Khí oxy đƣợc cung cấp đến cathode của pin nhiên liệu sẽ nhận các electron này, tạo thành các ion (O2-).
Trong một số dạng pin nhiên liệu, các ion O2- này sẽ kết hợp với các ion H+ vừa đi qua chất điện giải từ anode của pin nhiên liệu để tạo thành nƣớc. Sản phẩm tạo ra của pin còn có thể có CO2, nhƣng lƣợng CO2 do pin nhiên liệu tạo ra ít hơn nhiều so với động cơ đốt trong th ng thƣờng [4,5 .