Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Vấn đề con người trong triết học Mác thời kỳ 1844-1848 và ý nghĩa lịch sử của nó" được nghiên cứu sinh Cù Ngọc Phương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Triết học, mã số: 9229001), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thế Nghĩa.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, vấn đề con người là chủ đề nghiên cứu trung tâm của nhiều ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, việc lý giải bản chất, nguồn gốc và vị thế của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội đòi hỏi cơ sở thế giới quan và phương pháp luận triết học nhất quán. Giai đoạn 1844-1848 giữ vị trí đặc biệt trong toàn bộ tiến trình hình thành chủ nghĩa Mác, đánh dấu bước chuyển biến căn bản từ thế giới quan duy tâm và lập trường dân chủ cách mạng sang thế giới quan duy vật biện chứng và lập trường cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng về con người và giải phóng con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình xác lập quan niệm duy vật về lịch sử.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: phần lớn các công trình trong và ngoài nước tập trung vào giai đoạn phát triển chín muồi của triết học Mác (sau năm 1848) hoặc khảo sát các tác phẩm riêng lẻ (như Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 hay Hệ tư tưởng Đức) dưới dạng các bài báo khoa học hoặc luận văn thạc sĩ hẹp. Chưa có công trình chuyên khảo nào ở bậc tiến sĩ khảo cứu một cách hệ thống, toàn diện và chỉnh thể toàn bộ quá trình hình thành, phát triển nội dung, đặc điểm của quan niệm về con người trong trọn vẹn giai đoạn 1844-1848, đồng thời làm rõ ý nghĩa lịch sử hai chiều: đối với triết học hiện đại và đối với thực tiễn phát triển con người ở Việt Nam đương đại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ quá trình hình thành, nội dung cơ bản, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của quan niệm về con người trong triết học Mác thời kỳ 1844-1848.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 4 nội dung:

  1. Phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, tiền đề lý luận và vai trò của nhân tố chủ quan tác động đến sự hình thành, phát triển quan niệm về con người trong triết học Mác thời kỳ 1844-1848.
  2. Khảo sát tiến trình phát triển tư tưởng từ bước đầu xác lập đến khi hoàn thiện quan niệm về con người hiện thực của C. Mác và Ph. Ăng-ghen qua các văn bản kinh điển giai đoạn 1844-1848.
  3. Luận giải nội dung cốt lõi (bản chất con người, tha hóa con người, giải phóng con người) và các đặc điểm đặc trưng của quan niệm triết học Mác về con người thời kỳ này.
  4. Đánh giá ý nghĩa lịch sử của quan niệm về con người thời kỳ 1844-1848 đối với triết học hiện đại (bao gồm triết học mác-xít và ngoài mác-xít), từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp giải phóng và phát triển con người Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm về con người trong triết học Mác thời kỳ 1844-1848 và ý nghĩa lịch sử của quan niệm này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian tư tưởng và tư liệu: Khảo sát các tác phẩm kinh điển do C. Mác và Ph. Ăng-ghen biên soạn trong giai đoạn 1844-1848, cùng các công trình nghiên cứu lý luận liên quan.
    • Về thời gian lịch sử: Tập trung vào mốc lịch sử từ năm 1844 đến năm 1848 trong tiến trình phát triển tư tưởng triết học Mác; phạm vi liên hệ thực tiễn mở rộng đến công cuộc đổi mới và phát triển con người tại Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án hệ thống hóa tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 3 hướng chính:

Hướng nghiên cứu Nhóm chủ đề / Trọng tâm Tác giả và công trình tiêu biểu được khảo lược
Hướng 1 Các công trình nghiên cứu về con người trong triết học phương Tây liên quan đến tiền đề hình thành tư tưởng Mác - Lê Công Sự (2012), Con người qua lăng kính triết gia (NXB Chính trị quốc gia); Lê Công Sự (2006), Triết học cổ điển Đức (NXB Thế giới).
- Corazon L. Cruz (Lê Đình Trị dịch, 2018), Triết học về con người (NXB Đồng Nai).
- Đinh Ngọc Thạch - Doãn Chính (2018), Lịch sử triết học phương Tây (tập 1) (NXB Chính trị quốc gia Sự thật).
- Trần Sỹ Dương (2020), Tư tưởng về con người trong lịch sử triết học phương Tây trước Mác (NXB Quân đội nhân dân).
- Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp (1999), Vấn đề tư duy trong triết học Hê-ghen (NXB Chính trị quốc gia).
- L. Phoi-ơ-bắc (1841), The Essence of Christianity; L. Phoi-ơ-bắc (1843), Principles of the Philosophy of the Future.
- Ô-Guy-xtơ Coóc-Nuy (1976), C. Mác và Ph. Ăng-ghen cuộc đời và hoạt động (NXB Sự thật).
Hướng 2 Nghiên cứu vấn đề con người trong triết học Mác (chủ đề độc lập và gắn với thực tiễn Việt Nam) Chủ đề độc lập / Nước ngoài:
- John Plamenatz (1975), Karl Marx’s philosophy of man (The Clarendon Press).
- Erich Fromm (1991), Marx’s concept of man (Continuum).
- Sean Sayers (1998), Marxism and Human Nature (Routledge).
- Thomas C. Patterson, Karl Marx, Anthropologist.
- Norman Geras (2016), Marx and Human Nature: Refutation of a Legend (Verso).
- György Márkus (1988), Marx and anthropology: the concept of "human essence" in the philosophy of Marx (Modem-Verlag).
- Trần Đức Thảo (2000), Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người; Trần Đức Thảo (2004), Sự hình thành con người.
Chủ đề vận dụng tại Việt Nam:
- Hồ Sỹ Quý (2007), Con người và phát triển con người; Hồ Sỹ Quý (2003), Con người và phát triển con người trong quan niệm của Mác - Ăng-ghen.
- Bùi Bá Linh (2003), Quan niệm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người.
- Nguyễn Thanh (2007), Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội.
- Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (2009), Triết học Mác và thời đại.
- Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010), Quan niệm của C. Mác về tha hóa và ý nghĩa của quan niệm đó đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay.
- Vũ Thị Kiều Phương (2020), Quan niệm của các nhà kinh điển mác-xít về tự do và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm Như Cương (1987), Vấn đề xây dựng con người mới.
- Vũ Thiện Vương (2001), Triết học Mác - Lênin về con người và việc xây dựng con người trong thời công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Các luận án: Phạm Thị Đoạt (2014), Phạm Thu Trang (2013), Ngô Thị Huyền (2018), Ngô Thị Nụ (2018).
Hướng 3 Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề con người trong triết học Mác giai đoạn 1844-1848 - Các luận văn thạc sĩ: Lê Thị Thanh Hà (2006), Trương Thị Kim Oanh (2011), Lê Thị Tuyết (2013), Nguyễn Thị Thanh Phúc (2020), Trần Nhật Minh (2019).
- Các bài báo: Hồ Sỹ Quý, Nguyễn Anh Quốc, Cao Thu Hằng, Đặng Hữu Toàn trên Tạp chí Triết học và tạp chí quốc tế.
- Sách chuyên khảo: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2008), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin; Bùi Văn Mưa (2010), Giới thiệu một số tác phẩm kinh điển của C. Mác và Ph. Ăng-ghen.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Luận án giải quyết khoảng trống về tính hệ thống và tính chỉnh thể lịch sử - logic của toàn bộ giai đoạn 1844-1848, liên kết các lát cắt tư tưởng rời rạc từ các tác phẩm đơn lẻ thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về con người hiện thực, tha hóa và giải phóng con người, đồng thời xác lập khung phân tích ý nghĩa lịch sử đối với triết học hiện đại và thực tiễn phát triển con người Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ khái niệm

  • Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Hệ thống các khái niệm công cụ trung tâm bao gồm: con người hiện thực, bản chất con người (tổng hòa các quan hệ xã hội), hoạt động thực tiễn, lao động bị tha hóa (sự tha hóa con người), sản xuất vật chất, giải phóng con người, phát triển toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành triết học:

  • Phương pháp kết hợp lịch sử và logic: Tái hiện sự vận động tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen từ năm 1844 đến 1848 trong mối liên hệ với các biến chuyển kinh tế, chính trị - xã hội tại Tây Âu nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Phương pháp phân tích văn bản học: Phân tích trực tiếp các luận điểm, thuật ngữ trong nguyên bản và các bản dịch chính thức của các tác phẩm kinh điển.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh quan niệm của C. Mác với các triết gia Hy Lạp cổ đại, triết gia Phục hưng, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học cổ điển Anh, và các đại diện của triết học cổ điển Đức (như I. Can-tơ, G. Hê-ghen, L. Phoi-ơ-bắc).
  • Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa: Rút ra các đặc điểm cốt lõi và hệ thống hóa các giá trị lịch sử, thực tiễn.

Nguồn tư liệu và quy ước

  • Nguồn tư liệu: Các tập tác phẩm trong bộ C. Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển con người, cùng các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học trong và ngoài nước.
  • Quy ước định danh: Các triết gia kinh điển từ cuối thế kỷ XIX trở về trước được phiên âm theo quy chuẩn của Nhà xuất bản Sự thật - Chính trị quốc gia (như C. Mác, Ph. Ăng-ghen, Can-tơ, Hê-ghen, Phoi-ơ-bắc, Đê-mô-crít, Ê-pi-quya, Pla-tôn, A-rít-xtốt); các tác giả từ đầu thế kỷ XX trở về sau giữ nguyên dạng ký tự gốc (như Jean-Paul Sartre, György Lukács, Erich Fromm, John Plamenatz, Norman Geras).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Điều kiện, tiền đề hình thành và quá trình phát triển quan niệm về con người trong triết học Mác thời kỳ 1844 - 1848

Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, tiền đề tư tưởng và hai bước tiến triển của quan niệm về con người:

  • Điều kiện kinh tế và chính trị - xã hội:
    • Cuộc cách mạng công nghiệp tại Anh và Tây Âu thúc đẩy sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, làm sâu sắc mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề (ngày lao động kéo dài 12-16 tiếng, điều kiện làm việc khắc nghiệt, bóc lột lao động phụ nữ và trẻ em với đồng lương rẻ mạt), dẫn đến sự bần cùng hóa và tha hóa lao động.
    • Về mặt chính trị - xã hội, giai cấp vô sản vươn lên thành lực lượng chính trị độc lập qua các phong trào đấu tranh: khởi nghĩa thợ dệt Li-ông (Pháp) năm 1831 và 1834, Phong trào Hiến chương (Anh) thập niên 1830, khởi nghĩa công nhân Xi-lê-di (Đức) năm 1844. Các phong trào này đặt ra yêu cầu khách quan về một vũ khí lý luận cách mạng soi đường.
  • Tiền đề lý luận:
    • Triết học Hy Lạp cổ đại: Thuyết nguyên tử luận mang tính nhân bản của Đê-mô-crít và Ê-pi-quya (được C. Mác phân tích trong Luận án tiến sĩ), tư tưởng đạo đức học và quan niệm xã hội của Pla-tôn, Xô-crát, A-rít-xtốt.
    • Tư tưởng nhân văn thời Phục hưng: Đề cao con người cá nhân, giải phóng tư duy khỏi trói buộc thần học.
    • Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (Xanh Xi-mông, Sác-lơ Phu-ri-ê, Rô-bớt Ô-oen) và Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (A-đam Xmít, Đa-vít Ri-các-đô): Cung cấp nhận thức về bất công xã hội và cơ sở kinh tế, dù còn mang tính không tưởng và phiến diện.
    • Triết học cổ điển Đức: Triết học đạo đức của I. Can-tơ, phép biện chứng và quan niệm tha hóa của G. Hê-ghen, cùng chủ nghĩa duy vật nhân bản của L. Phoi-ơ-bắc.
  • Nhân tố chủ quan và tiến trình phát triển:
    • Nhân tố chủ quan thể hiện ở trí tuệ uyên bác, lập trường giai cấp vô sản và tinh thần gắn kết lý luận với thực tiễn đấu tranh của C. Mác và Ph. Ăng-ghen.
    • Quá trình phát triển trải qua hai chặng:
      1. Giai đoạn bắt đầu xây dựng (1844): Đánh dấu qua tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 và Gia đình thần thánh (1845), bước đầu phê phán Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc, tiếp cận vấn đề con người qua phạm trù tha hóa lao động.
      2. Giai đoạn phát triển và xác lập hệ thống (1845-1848): Thể hiện qua Luận cương về Phoi-ơ-bắc (1845), Hệ tư tưởng Đức (1845-1846), Sự khốn cùng của triết học (1847) và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), chuyển hẳn từ con người trừu tượng sang con người hiện thực và hoàn thiện quan niệm duy vật lịch sử.

Chương 2. Nội dung và đặc điểm của quan niệm về con người trong triết học Mác thời kỳ 1844 - 1848

Chương 2 trình bày cấu trúc nội dung và ba đặc trưng bản chất của quan niệm:

  • Nội dung cơ bản:
    • Quan niệm về con người và bản chất con người: Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội thống nhất; tiền đề đầu tiên của lịch sử nhân loại là sự tồn tại của những cá nhân con người sống bằng hoạt động sản xuất vật chất. Bản chất con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của từng cá nhân riêng biệt, mà "trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" (Luận cương thứ sáu về Phoi-ơ-bắc).
    • Quan niệm về tha hóa con người: Phân tích hiện tượng tha hóa lao động trong chế độ tư bản chủ nghĩa dưới 4 biểu hiện: (1) tha hóa của người lao động đối với sản phẩm lao động; (2) tha hóa trong hoạt động lao động (lao động trở thành sự cưỡng bức); (3) tha hóa bản chất loài của con người; (4) tha hóa giữa con người với con người. Nguồn gốc của sự tha hóa bắt nguồn từ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và sự phân công lao động xã hội đối kháng.
    • Quan niệm về giải phóng con người: Giải phóng con người là mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa Mác; giải phóng thực sự không thể đạt được bằng suy tưởng trừu tượng mà phải bằng con đường cách mạng thực tiễn, thủ tiêu chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa, đưa đến hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa – nơi "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người".
  • Ba đặc điểm cốt lõi:
    1. Tính duy vật biện chứng: Xem xét con người trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội, trong quá trình vận động, phát triển lịch sử cụ thể.
    2. Tính thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng: Lấy hoạt động thực tiễn sản xuất vật chất và đấu tranh cách mạng làm cơ sở giải thích sự tồn tại và phát triển của con người.
    3. Tính nhân bản, nhân văn: Hướng tới giải phóng toàn thể người lao động bị áp bức, tôn trọng phẩm giá và tạo điều kiện phát triển toàn diện mọi năng lực của con người hiện thực.

Chương 3. Ý nghĩa lịch sử của quan niệm về con người trong triết học Mác thời kỳ 1844 - 1848

Chương 3 luận giải giá trị lý luận và thực tiễn của quan niệm:

  • Ý nghĩa đối với triết học hiện đại:
    • Đối với triết học mác-xít: Đặt nền tảng thế giới quan và phương pháp luận cho toàn bộ sự phát triển tiếp theo của chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học; định hình nguyên tắc tiếp cận con người từ các quan hệ sản xuất hiện thực.
    • Đối với triết học ngoài mác-xít: Cung cấp kích thước xã hội và phương diện kinh tế - chính trị cho các nghiên cứu nhân học triết học, triết học hiện sinh, lý thuyết phê phán phương Tây (như Trường phái Frankfurt, chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Sartre, các công trình của Erich Fromm, György Lukács), tạo cơ sở để các nhà tư tưởng phê phán sự tha hóa con người trong xã hội công nghiệp hiện đại.
  • Ý nghĩa đối với sự nghiệp giải phóng và phát triển con người Việt Nam hiện nay:
    • Đối với việc giải phóng con người: Cung cấp cơ sở thế giới quan khoa học để nhận thức tính tất yếu khách quan của công cuộc giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người khỏi nghèo nàn, lạc hậu, áp bức và các định chế tha hóa.
    • Đối với việc phát triển con người Việt Nam hiện nay: Là kim chỉ nam tư tưởng để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng chiến lược phát triển con người toàn diện (đức, trí, thể, mỹ); xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; nhận diện và hạn chế các biểu hiện tha hóa mới nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và phân hóa xã hội; khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên công bố của tác giả, luận án đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới sau:

  1. Về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa một cách toàn diện và logic tiến trình phát triển tư tưởng triết học Mác về con người trong thời kỳ 1844-1848, chỉ rõ sự chuyển biến mang tính bước ngoặt từ quan niệm con người trừu tượng, tư biện sang con người hiện thực gắn với thực tiễn xã hội.
    • Luận giải sâu sắc cấu trúc nội dung bản chất con người, hiện tượng tha hóa lao động và con đường giải phóng con người, đồng thời xác lập ba đặc trưng cơ bản: tính duy vật biện chứng, tính thực tiễn cách mạng và tính nhân văn sâu sắc.
    • Làm rõ tác động hai chiều của quan niệm về con người thời kỳ 1844-1848 đối với sự phát triển của triết học mác-xít và sự gợi mở đối với các trào lưu triết học phương Tây ngoài mác-xít.
  2. Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

    • Cung cấp cơ sở khoa học để vận dụng sáng tạo quan điểm triết học Mác vào công cuộc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
    • Đề xuất các phương hướng vận dụng thực tiễn: gắn phát triển con người với đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế; hoàn thiện chính sách giáo dục - đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống an sinh xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; ngăn chặn tình trạng tha hóa đạo đức, lối sống trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án giới hạn phạm vi khảo sát tư tưởng trong khung thời gian 1844-1848, do đó chưa có điều kiện khảo cứu sâu sự phát triển tiếp theo của quan niệm về con người trong các tác phẩm kinh tế - chính trị thời kỳ chín muồi của C. Mác (như Bản thảo kinh tế 1857-1858, Tư bản).
  • Nguồn tài liệu khảo sát chủ yếu dựa trên các văn bản dịch thuật tiếng Việt hiện hành của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và các ấn phẩm học thuật thứ cấp trong và ngoài nước, chưa đối chiếu toàn diện với các bản thảo nguyên ngữ tiếng Đức (MEGA).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Khảo sát sự tiếp biến và hoàn thiện quan niệm về con người từ thời kỳ 1844-1848 sang thời kỳ sau năm 1848 trong toàn bộ di sản kinh điển của C. Mác và Ph. Ăng-ghen.
  • Vận dụng lý thuyết tha hóa và giải phóng con người của Mác để giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong kỷ nguyên số, như tác động của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, chuyển đổi số và kinh tế nền tảng đối với phẩm giá và sự phát triển của con người Việt Nam hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Triết học Mác - Lênin, Lịch sử triết học và Lý luận chính trị: Tham khảo khung phân tích lịch sử - văn bản học các tác phẩm thời kỳ 1844-1848 (tại Chương 1 và Chương 2) và phần tổng quan tài liệu ba hướng chi tiết.
  • Nhà nghiên cứu xã hội học, nhân học triết học, văn hóa học và giáo dục học: Tham khảo cách tiếp cận liên ngành về bản chất con người, vấn đề tha hóa lao động và con người xã hội (Chương 2).
  • Cán bộ quản lý, chuyên viên hoạch định chính sách xã hội, lao động và giáo dục: Tham khảo cơ sở lý luận và các hàm ý thực tiễn về chiến lược phát triển nguồn nhân lực và giải quyết mặt trái kinh tế thị trường ở Việt Nam (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bước ngoặt căn bản trong quan niệm về con người của C. Mác thời kỳ 1844-1848 là gì?
Bước ngoặt căn bản là sự chuyển biến từ việc tiếp cận con người trừu tượng, phi lịch sử, thuần túy tinh thần (chịu ảnh hưởng của Hê-ghen và Phoi-ơ-bắc) sang tiếp cận con người hiện thực – tức con người trong hoạt động thực tiễn sản xuất vật chất và trong tổng hòa các quan hệ xã hội cụ thể.

2. Điều kiện kinh tế - xã hội nào trực tiếp thúc đẩy sự hình thành học thuyết của Mác về sự tha hóa lao động?
Đó là sự xác lập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sau cách mạng công nghiệp, sự thống trị của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất, dẫn đến việc người công nhân bị bóc lột kiệt quệ, ngày làm việc 12-16 tiếng, lao động bị biến thành hàng hóa và sản phẩm lao động trở thành lực lượng đối lập nô dịch chính người sản xuất.

3. Tiền đề lý luận trực tiếp nhất của quan niệm triết học Mác về con người là gì?
Tiền đề trực tiếp và quan trọng nhất là triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phép biện chứng về sự tự tha hóa và tha hóa của G. Hê-ghen và chủ nghĩa duy vật nhân bản coi con người là đối tượng tối cao của L. Phoi-ơ-bắc, được C. Mác và Ph. Ăng-ghen kế thừa có phê phán và cải tạo triệt để.

4. Khái niệm "bản chất con người" được định nghĩa như thế nào trong Luận cương thứ sáu về Phoi-ơ-bắc (1845)?
C. Mác khẳng định: "Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội".

5. Luận án nêu ý nghĩa của quan niệm này đối với phát triển con người Việt Nam hiện nay ở những điểm cốt lõi nào?
Ý nghĩa cốt lõi gồm: cung cấp nền tảng thế giới quan để xây dựng chiến lược con người toàn diện, lấy con người làm trung tâm và động lực phát triển; định hướng chính sách an sinh xã hội và giáo dục; nhận diện, khắc phục tình trạng tha hóa lối sống và bất bình đẳng do mặt trái của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa gây ra.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Cù Ngọc Phương đã tái hiện một cách hệ thống, khoa học toàn bộ điều kiện, tiền đề, nội dung và đặc điểm của quan niệm về con người trong triết học Mác giai đoạn 1844-1848. Công trình làm sáng rõ bước chuyển biến cách mạng từ quan niệm con người trừu tượng sang con người hiện thực gắn với thực tiễn sản xuất vật chất, lý thuyết tha hóa và con đường giải phóng con người. Đồng thời, luận án khẳng định giá trị lịch sử sâu sắc của di sản này đối với sự phát triển của triết học hiện đại và cung cấp luận cứ phương pháp luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện trong giai đoạn hiện nay.