Mở đầu tác phẩm, tác giả giới thiệu thời trẻ của C. Ăng-ghen đồng thời khảo sát sự phát triển tư tưởng của các ông trong hoạt động lý luận và thực tiễn quá trình hoạt động của chủ nghĩa Mác. Nó được xem như một cuốn câm nang thu nhỏ toàn bộ tiêu sử của C. Tác giả chú ý phân tích sâu sắc tác phâm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 của C.
Mác và tác phẩm Gia đình thần thánh năm 1945 của C. Ăng- ghen, coi đó là mốc đầu tiên, quan trọng đánh dấu sự phát triển của chủ nghĩa Mác. Đặc biệt, công trình này dành một phan quan trọng trong tập 1 dé bàn về cơ sở hình thành và quá trình phát triển tư tưởng của triết học Mác nói chung, đối với triết học về con người nói riêng. Tóm lại, nghiên cứu triết học về con người trong lịch sử triết học phương Tây cũng có thé được xem là hành trình dan thân vào cuộc sống.
Đây không chỉ là một hành trình đầy rẫy những khó khăn và thách thức mà còn mang lại cơ hội phát triển tư duy phản biện, khả năng phân tích sâu sắc, và hiểu biết sâu rộng về thế giới quan của nhân loại. Ở phạm vi hẹp hơn, nghiên cứu các công trình triết học phương Tây trước Mác có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác lập cơ sở hình thành và quá trình phát triển quan niệm của triết học Mác về con người. Trên cơ sở điều kiện và tiền đề này, tác giả luận án sẽ tiếp tục làm sáng rõ những nền tảng đầu tiên cả về lý luận và thực tiễn trong quan niệm của triết học Mác về con người thời kỳ 1844-1848. Hướng thứ hai, các công trình nghiên cứu vấn đề con người trong triết học Mác.
Trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề con người trong triết học Mác. Đây là hướng nghiên cứu rộng lớn. Các công trình nghiên van đề con người trong triết học Mác có thé chia thành hai chủ đề: Chi dé thứ nhất, các công trình tập trung nghiên cứu quan niệm về con người trong triết học Mác với tư cách là một van đề độc lập; chu đề thứ hai, các công trình nghiên cứu vấn đề con người trong triết học Mác gắn với sự vận dụng dưới nhiều góc độ thực tiễn liên quan đến hoàn cảnh xã hội Việt Nam. Chủ dé thứ nhất, các công trình nghiên cứu quan niệm về con người trong triết học Mác với tư cách là một van dé độc lập.
Các công trình nghiên cứu quan niệm đề con người trong triết học Mác với tư các là một vấn đề độc lập thường xuất hiện ở các nguồn văn liệu nước ngoài. Cac nha nghiên cứu có cách tiêp cận phản biện, đặt van đê con người của các nhà kinh điện của triết học Mác trong mối tương quan với các trào lưu tư tưởng khác tạo ra những đối thoại cởi mở. Các nhà nghiên cứu chú trọng phân tích vấn đề con người gắn với bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị-xã hội cụ thẻ, từ đó thấy được tính thời đại và tính phô quát trong tư tưởng các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác. Nhiều công trình không chỉ dừng lại ở việc trình bày tư tưởng của C.
Ăng-ghen mà còn vận dụng tư tưởng ấy một cách sáng tạo, linh hoạt để lý giải các vấn đề đương đại và không bị ảnh hưởng bởi yếu tố ý thức hệ, do đó, một số học gia nước ngoài có thê tiếp cận những quan niệm của triết học Mác một cách khách quan, độc lập. Tuy nhiên, đặc điểm riêng trong các công trình nghiên cứu này là phần lớn các nhà nghiên cứu thường chỉ đề cập một khía cạnh hẹp trong quan niệm của triết học Mác về con người, từ đó các tác giả luận giải chuyên sâu, kết hợp với chính trị học, tâm lý học, xã hội học, tôn giáo học về những vấn đề đang bàn luận, chứ hiếm khi bàn luận quan niệm về con người trong triết học Mác một cách tổng quát. Theo chủ đề nghiên cứu này, có thé ké đến một số công trình như sau: Một là, công trình Karl Marx’s philosophy of man của tác giả John Plamenatz năm 1975 (NXB Oxford: The Clarendon Press). Đây một công trình có giá trị, cấu trúc gồm ba phan: Phẩn mới, tac giả trình bày con người với tư cách là thực thé xã hội và thực thé bị tha hóa.
Phần hai, tác giả đi sâu vào các hình thức của đời sống bị tha hóa. Phan ba, tac giả trình bày những van dé nan giải của phái cấp tiến trong xã hội công nghiệp. Tác giả so sánh quan niệm con người như là một thực thé xã hội của triết học Mác với quan niệm của Giôn Lốc-cơ, Tô-mát Hốp-xơ, và đặc biệt là với Giăng Giắc Rút-xô, tác giả cuốn Bàn về nguồn gốc cua sự bat bình đẳng của con người, coi tình trạng đồi bại của con người là do xã hội mà ra. Tác giả đã bàn luận khá sâu sắc tư tưởng của C.
Mác về con người, cụ thé là về ban chất của con người, cỗ gắng làm sáng tỏ những khái niệm không may dễ hiểu của C. Mác như “thực thê loài”, “su sáng tạo nên bản thân mình”, “tính lịch sử” và “khách thé hóa” của con người. Đồng thời ông khang định quan điểm về bản chất con người của C. Mác giữ vai trò trung tâm trong lý thuyết xã hội của ông.
Plamenatz (1975) nhân mạnh rang: Sự tha hóa của xã hội bao gồm trong nó lao động bị tha hóa và sản phẩm bị tha hóa, nó được xác định qua việc người ta đã coi người lao động như là một hang hóa, người ta không hiểu và kiểm soát được hệ thống sản xuất, cũng như toàn bộ hệ thống xã hội (John Plamenatz, tr. 10 Mỗi quan tâm nên tảng của cuốn sách là trình bày những kiến giải của C. Mác về thân phận con người trong xã hội công nghiệp. Hai là, công trình Marx’s concept of man của tac giả Erich Fromm vào năm 1991 (NXB Continuum, New York).
Trong công trình nay, nha phân tâm học Erich Fromm đã thé hiện sự quan tâm sâu sắc của mình đối với các tác phẩm của Mác thời kỳ đầu nói chung và tư tưởng của Mác về con người nói riêng. Đồng thời, Erich Fromm đã chỉ rõ sức ảnh hưởng của các khái niệm trong các tác phâm ấy, cũng như sự phát triển tư tưởng về sau của Mác. Công trình này in lần đầu năm 1961, đính kèm bản dịch tiếng Anh tác phẩm Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844 của Mác đã giúp công chúng Mỹ và các nước nói tiếng Anh tiếp cận được những tư tưởng thời kỳ đầu của Mác. Erich Fromm đã có găng diễn giải thuyết nhân bản của Mác như là một học thuyết nền tảng và cố gắng lần theo con đường của thuyết nhân bản ấy qua các tác phẩm về sau của ông, cho thấy vấn đề con người giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong toàn bộ tư tưởng của Mác.
Tuy nhiên, do khoảng cách lịch sử nên Erich Fromm không phản ánh toàn diện các khía cạnh trong tư tưởng của Mác về con người. Ba la, công trình Marxism and Human Nature của Sean Sayers năm 1998 (NXB London: Routledge). Công trình này gồm 2 phan: Phdn thứ nhất tac giả bàn về lao động và bản tính người. Phần thứ hai tác giả nói đến các giá trị và sự tiến bộ trong học thuyết của Mác về con người.
Mục đích của Sayer trong sách này là trình bày và bảo vệ một nghiên cứu lịch sử về bản tính người, những điều kiện nảy sinh, phát triển và hoàn thành cái bản tính ấy, cũng như những hàm ý đạo đức xã hội của nó. Sayers cho rang bản tính người vừa mang tính lịch sử vừa mang tính phổ quát. Khi các phương thức sản xuất thay đổi, bản tính người thay đổi theo đó, vì “toàn bộ cái gọi là lịch sử thế giới chang qua chỉ là sự sáng tạo của con người qua lao động của mình”. Công trình này có nội dung sâu sắc, rất cần thiết cho những ai nghiên cứu về bản tính của con người theo quan niệm của chủ nghĩa Mác.
Bốn là, công trình Karl Marx, Anthropologist của Thomas C. Tác phẩm là một công trình quan trọng của các tác gia hiện đại khi nghiên cứu về triết học Mác nói chung. Trong cuốn sách này, giáo sư khoa Nhân học trường Đại học California là Thomas C. Patterson cô găng tách riêng Mác ra khỏi hệ thống chủ nghĩa Mác dé khảo sát một cách có hệ thống những quan điểm của chính bản thân C.
Mác về con người và sức ảnh hưởng của những quan điêm ay đên tư tưởng của ngành nhân học hiện 11 nay. Trong chương | - “Phong trào Khai sáng và nhân hoc” Patterson đưa ra một bức tranh tổng quát về những nguồn ảnh hưởng chính yếu của phong trào Khai sáng, như Sác-lơ dd Mông-te-xki-ơ (1689-1755), Giăng Giắc Rút-xô (1717-1778), Da-vit Hi-um (1711-1776), I-ma-nu-en Can-tơ (1724-1803), Ghê-oóc Vin-hem Phri-drich Hé-ghen (1770-1831), đến sự phát triển tư tưởng của C. Mác và những nguyên lý cơ bản của ông về vấn đề con người, hay vấn đề nhân học. Trong chương 2 - “Nhân học của Mác”, tác giả cô gắng phác thảo những nét chính trong quan điểm triết học của Mác về vấn đề con người, hay nói theo ngôn ngữ của tác giả “nhân học triết học” của C.
Mác: Cấu tạo thân xác của con người, tầm quan trọng của sự tông hòa các quan hệ xã hột, tính da dang và tính lịch sử của các xã hội con người, và tầm quan trọng của thực tiễn trong hoạt động sản xuất, tái sản xuất và sự biến đổi của các cộng đồng xã hội. Patterson cũng cho thấy C. Mác khác với Rút-xô, Hê-ghen và các nhà Khai sáng khác ở chỗ ông không phân biệt đặc tính thân xác vật lý với đặc tính tinh thần của con người, bởi lẽ thao tác phân biệt ấy sẽ dẫn đến hệ qua là tách con người ra khỏi vương quốc của giới tự nhiên. Mác nhìn thấy sự tương tác biện chứng giữa sự cấu tạo thân xác của con người với tập hợp các quan hệ xã hội, tạo thành thế giới đời sống hàng ngày mà cá nhân con người ta sống trong đó.
Vì thế, bản chất của con người không những mang tính lịch sử mà còn rất đa dạng. Trong chương này, chúng ta có thé nhận thay các văn bản của C. Mác được trích dẫn, phân tích và diễn giải chủ yếu là các văn bản thuộc giai đoạn thời kỳ đầu của C. Điều đó cho thấy, về cơ bản tư tưởng của C.