CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thời gian gần đây, các nghiên cứu về kế toán quản trị (KTQT) và tổ chức KTQT thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và thực hành kế toán ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là sự gia tăng cạnh tranh của thị trường trong và ngoài nước do tác động của toàn cầu hóa, tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất,… Vì vậy, nhiều công ty tại các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi cũng có xu hướng gia tăng áp dụng KTQT – các kỹ thuật mà trước đây chỉ áp dụng tại các doanh nghiệp ở các quốc gia phát triển. Song song với sự gia tăng của ứng dụng KTQT cũng là các nghiên cứu, ban đầu được thực hiện chủ yếu ở các nước phát triển, nay đã lan tỏa sang các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, việc áp dụng KTQT ở các nước đang phát triển còn ở mức độ khiêm tốn, chưa thực sự đáp ứng đòi hỏi của các nhà quản lý, và các nghiên cứu học thuật trong lĩnh vực này cũng còn khá hạn chế. Theo tác giả, hiện trạng này bắt nguồn từ chênh lệch về trình độ phát triển của nền kinh tế và của quản trị kinh doanh tại các nước đang phát triển. Do vậy, rất cần có những nghiên cứu một cách có hệ thống, khoa học về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Trong những năm gần đây TCT Giấy Việt Nam và các DN liên kết của Tổng công ty đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt là giáo dục.
Trong 20 năm hoạt động, TCT Giấy Việt Nam đã sản xuất gần 4 triệu tấn giấy các loại, đạt tổng giá trị sản xuất công nghiệp gần 50.000 tỷ đồng; nộp ngân sách trên 2 nghìn tỷ đồng. Năng lực sản xuất của TCT Giấy Việt Nam (VINAPACO) đạt xấp xỉ 200 nghìn tấn bột giấy/năm và 300 nghìn tấn giấy/năm, bảo vệ môi trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Quy trình SXKD khép kín từ khâu quy hoạch, thiết kế phát triển vùng nguyên liệu gỗ đến khâu khai thác, chế biến, tiêu thụ sản phẩm giấy. 2 Trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương, trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC),.
đã đem lại rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho các DN Việt Nam nói chung và các DNSX giấy Việt Nam nói riêng trong đó có TCT Giấy Việt Nam và các DN liên kết. Để tồn tại và phát triển bền vững, các DN cần phải đưa ra những quyết định quản lý và điều hành đơn vị một cách đúng đắn, kịp thời. Kế toán quản trị (KTQT) là một trong những công cụ quan trọng cung cấp thông tin kịp thời, hữu ích cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Để KTQT thực sự trở thành công cụ quản lý hữu hiệu, cần phải tổ chức KTQT khoa học, hợp lý phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm tổ chức phân cấp quản lý, đặc điểm quy trình công nghệ và yêu cầu quản lý của từng đơn vị.
Sản xuất giấy là một ngành có rất nhiều đặc thù về quy trình công nghệ sản xuất, sản phẩm phải qua nhiều công đoạn mới hoàn thành, mỗi công đoạn khác nhau cho ra những sản phẩm khác nhau hoặc có thể chỉ có một công đoạn cuối cùng để tạo ra giấy thành phẩm. Các sản phẩm của ngành sản xuất giấy có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội như: dùng để bao gói, bao bì phục vụ cho dân sinh,. và phục vụ cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế quốc dân: giấy dùng để in, viết phục vụ cho ngành giáo dục; giấy vệ sinh, giấy ăn phục vụ cho ngành du lịch, nhà hàng, khách sạn; giấy tráng nhôm chuyên phục vụ cho các ngành công nghệ cao cấp,. Mức tiêu thụ giấy bình quân trên đầu người của các nước trên thế giới năm 2016 là 57 kg/người/năm.
Tại các quốc gia phát triển thuộc liên minh Châu Âu mức tiêu thụ giấy là khá cao từ 158 đến 213 kg/người/năm. Một số quốc gia ở Châu Á như Hàn Quốc, Singapo và Malaysia có mức tiêu thụ là 155 kg/người/năm. Trong khi đó các nước khác ở Châu Á trong đó có Việt Nam mức tiêu thụ giấy rất khiêm tốn 17 kg/người/năm chỉ cao hơn các nước ở Châu Phi là 8 kg/người/năm. Theo lộ trình của Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AEC) đến năm 2018, thuế suất nhập khẩu các mặt hàng giấy và sản phẩm từ giấy từ các nước trong khối về 0%.
Đây sẽ là nguy cơ thách thức lớn đối với ngành giấy trong nước vì có đến 50% lượng giấy của Việt Nam được nhập khẩu từ ASEAN. Các DN Việt Nam 3 sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của hàng nhập khẩu, đặc biệt là ở các phân khúc giấy cao cấp. Trước tình hình đó đòi hỏi các DN trong ngành sản xuất giấy nói chung, TCT Giấy Việt Nam và các DN liên kết nói riêng bên cạnh việc đầu tư, cải tiến dây truyền công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường thì cần phải đổi mới quản lý trong đó có khâu quan trọng là tổ chức KTQT. Trên thực tế tổ chức KTQT tại TCT Giấy Việt Nam và các DN liên kết đã có nhiều đổi mới, phần nào đáp ứng được yêu cầu của nhà quản trị.
Tuy nhiên, việc tổ chức triển khai ứng dụng KTQT mới ở giai đoạn sơ khai và thực sự chưa đầy đủ. Do vậy, tổ chức KTQT trong TCT Giấy Việt Nam và các DN liên kết cần phải được nghiên cứu nghiêm túc, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của quản trị doanh nghiệp để thích ứng với nền kinh tế thị trường và phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Với những lý do đã nêu, tác giả chọn đề tài “Tổ chức kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất giấy - Nghiên cứu tại Tổng công ty Giấy Việt Nam và các doanh nghiệp liên kết” là đề tài nghiên cứu của luận án. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.
Nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới kế toán cho phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế là một điều tất yếu. KTQT với tư cách là một phân hệ của hệ thống kế toán, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị trong việc ra quyết định trong hoạt động SXKD. Trong những năm vừa qua, ở Việt Nam KTQT nói chung và tổ chức KTQT nói riêng đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Các nghiên cứu là luận án về đề tài tổ chức kế toán quản trị Các luận án nghiên cứu về tổ chức KTQT giai đoạn trước Thông tư 53/2006/TT-BTC Tổ chức KTQT bắt đầu được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các nghiên cứu ở thời điểm này đã làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của KTQT cũng như việc vận dụng KTQT trong DN 4 trong khi KTQT vẫn chưa có hành lang pháp lý công nhận chính thức ở Việt Nam. Điển hình có nghiên cứu của Phạm Văn Dược (1997) trong luận án tiến sĩ với đề tài “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam”. Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng các DN Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến KTQT do vậy việc vận dụng lý thuyết về kế toán quản trị vào các DN là điều cần thiết, cụ thể là việc vận dụng các phần hành KTQT, tác giả đã đề xuất các giải pháp mang tính định hướng để các DN tổ chức vận dụng các nội dung của KTQT. Nghiên cứu của Phạm Văn Dược có ý nghĩa to lớn là nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo trong bối cảnh KTQT mới bước đầu du nhập vào Việt Nam.
Tuy nhiên nghiên cứu vẫn bộc lộ một số hạn chế, với phạm vi nghiên cứu tương đối rộng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong khi việc xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng KTQT phục thuộc vào nhu cầu thông tin của nhà quản trị và đặc thù của mỗi doanh nghiệp. Bên cạnh đó với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu nên kết quả nghiên cứu chưa thực sự thuyết phục. Đến năm 2002 có nghiên cứu của tác giả Giang Thị Xuyến với đề tài luận án “Tổ chức kế toán quẩn trị và phân tích kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước”. So với nghiên cứu tiền nhiệm của Phạm Văn Dược thì nghiên cứu của tác giả Giang Thị Xuyến đã thu hẹp phạm vi nghiên cứu chỉ cho một loại hình DN (Doanh nghiệp Nhà nước), mặc dù chưa có giới hạn về ngành nghề hay lĩnh vực hoạt động.
Nghiên cứu đã tập trung làm rõ hai nội dung đó là xây dựng mô hình tổ chức KTQT phù hợp với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tổ chức công tác phân tích kinh doanh trên cơ sở các thông tin mà KTQT cung cấp để giúp cho các DNNN đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý nhất. Trong nghiên cứu này tác giả đã tiếp cận tổ chức KTQT dưới góc độ tổ chức hệ thống thông tin KTQT bao gồm các nội dung: tổ chức bộ máy KTQT; tổ chức thu nhận, xử lý hệ thống hóa và tổ chức cung cấp thông tin của KTQT. Luận án đã đề xuất giải pháp để hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán trong DNNN theo mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT trong cùng bộ máy kế toán, với mô hình này các nhân viên kế toán trong từng bộ phận hoặc từng phần hành vừa thực hiện công việc của KTTC và KTQT, đây là mô hình phù hợp với các DNNN khi các DN bước đầu tiếp cận với KTQT.