Tổng quan luận án

Công trình khoa học được nghiên cứu và bảo vệ bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Quốc Toản và PGS.TS Đỗ Thị Phượng, tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2016. Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số đào tạo 62 38 01 04, mang tiêu đề: "Thi hành án phạt tù ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp".

Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ bối cảnh hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý tại Việt Nam. Hoạt động thi hành án hình sự nói chung và thi hành án phạt tù nói riêng được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010. Hệ thống pháp luật này đã thiết lập cơ sở pháp lý để buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan chức năng thực thi nhiệm vụ và phân định thẩm quyền quản lý nhà nước. Tuy nhiên, công tác thi hành án phạt tù trong thực tiễn bộc lộ nhiều hạn chế: việc quản lý đối tượng thi hành án có thời điểm còn lỏng lẻo; tình trạng chậm ra quyết định thi hành án hoặc bỏ sót đối tượng bị kết án vẫn diễn ra; một số người bị kết án phạt tù lợi dụng quy định về hoãn chấp hành án hoặc bỏ trốn khỏi nơi cư trú; công tác xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt có sai phạm; số liệu thống kê báo cáo chưa phản ánh đầy đủ thực trạng. Bên cạnh đó, hiệu quả tái hòa nhập cộng đồng còn thấp, tỷ lệ tái phạm sau mãn hạn tù còn cao; thủ tục xóa án tích còn thụ động. Đồng thời, công tác phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, Ủy ban nhân dân và cơ sở y tế còn thiếu chặt chẽ; hợp tác quốc tế trong thi hành án phạt tù phần lớn mới dừng lại ở phạm vi dẫn độ tội phạm.

Trước bối cảnh Đảng ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới sâu rộng công tác thi hành án. Bốn nội dung trọng tâm của cải cách tư pháp trong lĩnh vực này gồm:

  1. Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh thống nhất toàn diện các lĩnh vực thi hành án;
  2. Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước thống nhất về công tác thi hành án;
  3. Chuẩn bị các điều kiện về tổ chức, cán bộ và cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức, công tác thi hành án từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp;
  4. Từng bước thực hiện xã hội hóa các hoạt động thi hành án thích hợp.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án phạt tù; đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức thi hành án phạt tù ở Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù đáp ứng các yêu cầu của cải cách tư pháp.

Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm rõ nội dung, ý nghĩa và đặc thù của thi hành án phạt tù so với các hình phạt khác; xây dựng khái niệm thi hành án phạt tù dưới ba bình diện: lập pháp, lý luận và thực tiễn.
  2. Tổng thuật, phân tích tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài để khái quát các vấn đề cốt lõi cần tiếp tục giải quyết trong luận án.
  3. Làm rõ nội dung, điều kiện, trình tự và thủ tục thi hành án phạt tù trong pháp luật tố tụng hình sự và thi hành án hình sự Việt Nam; chỉ rõ ưu điểm và các điểm hạn chế của hệ thống quy phạm hiện hành.
  4. Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động thi hành án phạt tù, phân tích những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế và xác định nguyên nhân của các tồn tại đó.
  5. Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý và các giải pháp tổ chức, nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù trước yêu cầu cải cách tư pháp.

Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành án phạt tù dưới góc độ luật hình sự và luật tố tụng hình sự, đồng thời sử dụng các quy định của Luật Thi hành án hình sự dưới góc độ bổ trợ (bao gồm các căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, điều kiện thi hành án và các yêu cầu cải cách tư pháp liên quan). Phạm vi nghiên cứu về thời gian tập trung vào giai đoạn khoảng 10 năm (từ năm 2005 đến năm 2014); phạm vi không gian bao quát công tác thi hành án phạt tù trên phạm vi toàn quốc đối với cả hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân. Về chủ thể thực hiện, tác giả giới hạn nghiên cứu công tác thi hành án phạt tù trong lực lượng Công an nhân dân, không đi sâu vào các đối tượng chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo và không nghiên cứu hệ thống trại giam thuộc Bộ Quốc phòng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu cho thấy vấn đề thi hành án phạt tù đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau bởi các học giả trong nước và quốc tế.

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu được tác giả phân tích và tổng thuật theo từng nhóm nội dung:

  • Về trình tự, thủ tục và giai đoạn thi hành bản án hình sự: Công trình nghiên cứu cấp cơ sở của Nguyễn Đức Phố tại Tòa án nhân dân tối cao đã phân tích thủ tục đưa bản án hình sự ra thi hành và các vướng mắc phát sinh; chuyên đề của GS.TS Đỗ Ngọc Quang (2007) trong Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam phân tích giai đoạn thi hành bản án hình sự dưới góc độ khoa học tư pháp hình sự.
  • Về lý luận và quản lý nhà nước trong thi hành án hình sự: Sách chuyên khảo của GS.TS Võ Khánh Vinh và PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (2006) làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn và đưa ra mô hình Bộ luật thi hành án; sách chuyên khảo của TS Trần Quang Tiệp (2002) nghiên cứu về hệ thống cơ quan thi hành án hình sự; sách chuyên khảo của TS Vũ Trọng Hách (2006) tại Nhà xuất bản Tư pháp tổng kết quá trình quản lý nhà nước về thi hành án hình sự trong gần 60 năm; Kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân làm rõ vị trí của cơ quan thi hành án phạt tù trong bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Về công tác giáo dục, cải tạo và quyền con người của phạm nhân: Các sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện (2006, 2011) nghiên cứu sâu về khoa học giáo dục phạm nhân từ thực tiễn công tác giám thị trại giam; công trình của Trung tướng, TS Phạm Đức Chấn (nguyên Cục trưởng Cục V26) về quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong quản lý, giáo dục phạm nhân; đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của Chu Thị Tú (2013) về cải tạo phạm nhân nước ngoài; đề tài khoa học công nghệ của TS Nguyễn Khắc Hải (2014) về bảo vệ quyền con người của phạm nhân; luận án tiến sĩ của Nguyễn Đức Phúc (2012) tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về thực hiện pháp luật quyền con người của phạm nhân; các bài viết chuyên khảo của TS Đỗ Thị Phượng (2015), TS Phạm Văn Lợi (2006), ThS Nguyễn Văn Cừ (2011).
Tác giả / Cơ quan Năm Tên công trình / Tài liệu Nội dung trọng tâm
TS Trần Quang Tiệp 2002 Một số vấn đề về thi hành án hình sự Hệ thống cơ quan thi hành án hình sự và khái niệm thi hành án phạt tù
GS.TS Võ Khánh Vinh, PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng 2006 Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn Lý luận về công lý, điều kiện thi hành hình phạt tù theo nghĩa rộng và hẹp
TS Vũ Trọng Hách 2006 Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án hình sự ở Việt Nam Quản lý nhà nước trong 60 năm, tổ chức bộ máy và cải cách thi hành án
Học viện Cảnh sát nhân dân 2011 Kỷ yếu hội thảo: Công tác thi hành án phạt tù - Những vấn đề lý luận và thực tiễn Vị trí cơ quan thi hành án phạt tù, quan điểm cải cách tư pháp trong thi hành án
PGS.TS Nguyễn Hữu Duyện 2006, 2011 Sách chuyên khảo về thi hành án phạt tù và giáo dục phạm nhân Lý luận và kỹ năng giáo dục, cải tạo phạm nhân từ thực tiễn quản lý trại giam
Nguyễn Đức Phúc 2012 Luận án tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền con người của phạm nhân... Cơ chế bảo đảm quyền con người của phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù

Ở nước ngoài, tác giả khảo cứu nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống trại giam và chính sách hình sự:

  • Công trình của Joycelyn M. Pollock ("Prisons Today and Tomorrow") phân tích triết lý hình phạt, cơ sở giam giữ và quản trị nhà tù;
  • Tác phẩm của James Bruton (2004) ("Big House: Life Inside a Supermax Security Prison") mô tả phương pháp quản lý phạm nhân nguy hiểm tại nhà tù Oak Park Heights;
  • Công trình của Peter M Carlson (2006) ("Prison and jail administration: practice and theory") nghiên cứu lý thuyết quản trị và các chương trình phục hồi chức năng;
  • Chuyên khảo của James A. Inciardi (2007) ("Criminal Justice") phân tích phân loại giam giữ và phạm nhân đặc thù;
  • Bài viết của Steven N. Nagin (2011) trên Tạp chí Criminology & Public Policy phân tích tác dụng răn đe của thời hạn phạt tù đối với việc tái phạm;
  • Công trình của David Rothman và Norval Morris (1995) ("The Oxford History of the Prison") khảo sát lịch sử 200 năm của hệ thống nhà tù phương Tây;
  • Sách của Alyson Brown ("English Society and the Prison: 1850-1920") nghiên cứu xung đột và trật tự trong nhà tù tại Anh;
  • Giáo trình Luật Thi hành án hình sự Nga do GS.TSKH Zubkov A.I chủ biên (2008) về kiểm tra của Tòa án đối với thi hành án;
  • Báo cáo thường niên của Cục Thống kê Tư pháp Hoa Kỳ (Bureau of Justice Statistics - Prisoners) về dữ liệu dân số bị giam giữ qua hệ thống NPS, NCRP và FJSP.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình trong nước trước đây thường tiếp cận thi hành án phạt tù ở các góc độ chuyên biệt (thủ tục, giáo dục, quyền con người) hoặc nghiên cứu quản lý nhà nước một cách chung nhất, chưa đặt toàn diện hoạt động thi hành án phạt tù vào yêu cầu và tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW; chưa làm rõ khái niệm thi hành án phạt tù trên sự kết hợp cả ba bình diện lập pháp, lý luận và thực tiễn; chưa giải quyết triệt để vấn đề quá tải trại giam thông qua các thiết chế mới như tha tù trước thời hạn có điều kiện; lĩnh vực hợp tác quốc tế trong thi hành án phạt tù còn bị bỏ ngỏ. Do đó, luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình tổng thể đánh giá lý luận, thực trạng và giải pháp cho công tác thi hành án phạt tù theo định hướng cải cách tư pháp tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý, giáo dục và cải tạo con người. Phương pháp luận này đòi hỏi xem xét lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật thi hành án phạt tù trong mối liên hệ hữu cơ với các giai đoạn tố tụng trước đó (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử) và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa ba luồng quan điểm khoa học pháp lý về bản chất của thi hành án hình sự:

  1. Quan điểm coi thi hành án hình sự là một giai đoạn độc lập trong tố tụng hình sự, bảo đảm sự khép kín của quy trình giải quyết vụ án hình sự (căn cứ theo Điều 1 BLTTHS năm 2003);
  2. Quan điểm coi thi hành án là hoạt động tư pháp mang tính chất hành chính (hành chính tư pháp), do Tòa án nhân danh cơ quan tư pháp ra quyết định để cơ quan chấp hành thực thi cưỡng chế;
  3. Quan điểm coi thi hành án không phải là hoạt động tố tụng hình sự vì không chứa đựng quan hệ tố tụng ngang quyền, bình đẳng trong tranh tụng, mà mang bản chất mệnh lệnh quyền uy nhà nước thuộc nhánh hành pháp.

Luận án viện dẫn các khái niệm pháp lý thực định làm cơ sở phân tích: khái niệm hình phạt tại Điều 30, tù có thời hạn tại Điều 38, tù chung thân tại Điều 39 Bộ luật hình sự năm 2015; định nghĩa thi hành án phạt tù tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2010.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích luật học: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật thực định trong hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự để xác định bản chất, nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự thủ tục thi hành án phạt tù.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện phỏng vấn, khảo sát lấy ý kiến của các nhà khoa học pháp lý, cán bộ thực tiễn thuộc cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án hình sự, cùng các học viên cao học, sinh viên chuyên ngành tư pháp hình sự.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tế về công tác quản lý người bị kết án, tình hình phạm nhân chấp hành án tại các trại giam, số lượng các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án trong giai đoạn nghiên cứu từ các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Phương pháp so sánh luật học: Khảo cứu, đối chiếu quy định pháp luật và mô hình tổ chức thi hành án phạt tù của một số quốc gia (như Liên bang Nga, Hoa Kỳ, Anh) với pháp luật Việt Nam nhằm tìm kiếm các bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp tổng hợp: Kết hợp kết quả từ các phương pháp phân tích, thống kê và so sánh để khái quát hóa các luận điểm khoa học, xây dựng các luận cứ cho việc đề xuất giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước (Hiến pháp, BLHS, BLTTHS, Luật THAHS); các văn kiện, nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp (Nghị quyết 48-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW); báo cáo tổng kết thực tiễn của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an (trước đây là Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục và trường giáo dưỡng - Cục V26).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 thực hiện đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trong nước và quốc tế liên quan đến thi hành án phạt tù. Tác giả phân tích các đóng góp của các công trình trong nước về khái niệm, điều kiện thi hành án và vai trò quản lý nhà nước. Các công trình trước đây đã làm rõ được điều kiện thi hành án theo nghĩa hẹp (gồm bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành án của Chánh án Tòa án có thẩm quyền), chỉ ra quy trình kế tiếp nhau từ khi ra quyết định, đưa phạm nhân vào trại giam, thực hiện giáo dục cải tạo đến khi trả tự do. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận theo pháp luật thực định, chưa phân tích điều kiện thi hành án theo nghĩa rộng (tổng hòa các điều kiện pháp lý cần và đủ) và chưa gắn kết với yêu cầu cải cách tư pháp của Nghị quyết số 49-NQ/TW.

Đối với các nghiên cứu quốc tế, tác giả phân tích các tài liệu chuyên khảo về quản trị nhà tù, lịch sử giam giữ, mối quan hệ giữa mức độ nghiêm khắc của hình phạt và tỷ lệ răn đe tái phạm. Tác giả rút ra kết luận rằng hệ thống giam giữ ở các nước tư bản chủ nghĩa phản ánh đặc thù kinh tế, chính trị và xã hội riêng biệt. Do đó, việc tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài đòi hỏi phải có sự chọn lọc phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam. Trên cơ sở đó, chương 1 xác lập các khoảng trống khoa học cần luận án giải quyết: xây dựng khái niệm thi hành án phạt tù trên ba bình diện; đánh giá thực trạng có tính hệ thống; nghiên cứu thiết chế tha tù trước thời hạn có điều kiện và mở rộng hợp tác quốc tế.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về thi hành án phạt tù

Chương 2 tập trung luận giải các vấn đề lý luận nền tảng của thi hành án phạt tù. Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học: Thi hành án phạt tù là hoạt động của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm đưa những người bị kết án tù đi chấp hành hình phạt tại trại giam và tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục nhằm giúp họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.

Tác giả phân tích ba đặc điểm cơ bản của thi hành án phạt tù:

  1. Mang tính quyền lực nhà nước: Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhân danh Nhà nước buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt; nếu người chấp hành án trốn tránh sẽ bị áp giải hoặc bị xử lý hình sự theo Điều 304 BLHS năm 1999;
  2. Mang tính thủ tục pháp lý: Mọi hành vi thi hành án phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thẩm quyền do Bộ luật tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự quy định;
  3. Mang tính định hướng mục đích: Hướng tới việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, đồng thời tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng.

Về ý nghĩa xã hội và pháp lý, thi hành án phạt tù bảo đảm bản án của Tòa án phát huy hiệu lực trên thực tế; giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho phạm nhân và cộng đồng; bảo đảm sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Tiêu chí Thi hành án phạt tù Thi hành án treo Thi hành cải tạo không giam giữ Thi hành hình phạt trục xuất
Bản chất Tước quyền tự do thân thể, cách ly khỏi xã hội Miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Không tước tự do, khấu trừ thu nhập một phần Buộc người nước ngoài rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
Địa điểm chấp hành Trại giam, trại tạm giam Nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo Nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người chấp hành án Rời khỏi lãnh thổ Việt Nam trong 15 ngày
Cơ quan giám sát, thi hành Cơ quan thi hành án phạt tù (Công an, Quân đội) Chính quyền cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc Chính quyền cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, cơ quan Công an
Cơ sở pháp lý điều chỉnh BLHS (Điều 38, 39), Luật THAHS 2010 Điều 60 BLHS năm 1999, Luật THAHS 2010 Điều 31 BLHS năm 1999, Luật THAHS 2010 Điều 32 BLHS năm 1999, Luật THAHS 2010

Nội dung thi hành án phạt tù bao gồm các thủ tục đưa bản án ra thi hành; tiếp nhận người chấp hành án; chế độ quản lý giam giữ, lao động, dạy nghề, xóa mù chữ và tổ chức sinh hoạt văn hóa cho phạm nhân. Tác giả phân tích cụ thể các quy định về hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người đang tại ngoại (khoản 1 Điều 61 BLHS năm 1999) và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang trong trại giam (do bệnh nặng, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, lao động duy nhất trong gia đình, hoặc nhu cầu công vụ). Về nguyên tắc, tác giả phân chia hệ thống nguyên tắc thành nhóm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và nhóm bảo đảm quyền con người, nhân đạo, kết hợp trừng trị với giáo dục cải tạo. Chương này cũng phân tích các yêu cầu đặt ra từ Nghị quyết số 49-NQ/TW đối với hoạt động thi hành án phạt tù.

Chương 3: Quy định của pháp luật và thực trạng thi hành án phạt tù

Chương 3 đi sâu đánh giá hệ thống quy phạm pháp luật thực định và phân tích số liệu thực tiễn quản lý giam giữ tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014. Tác giả phân tích thẩm quyền ra quyết định thi hành án của Chánh án Tòa án sơ thẩm theo khoản 1 Điều 256 BLTTHS năm 2003 (thời hạn 7 ngày kể từ khi bản án có hiệu lực hoặc nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm) và thẩm quyền thi hành của cơ quan Công an theo khoản 1 Điều 257 BLTTHS năm 2003.

Về thực trạng, chương 3 làm rõ những kết quả đạt được: hệ thống trại giam được củng cố, cơ sở vật chất từng bước được cải thiện (bảo đảm diện tích nằm tối thiểu 2m²/phạm nhân, chế độ y tế, văn hóa, thể thao); tổ chức các lớp học nghề, xóa mù chữ và phổ cập tiểu học cho người chưa thành niên; tổ chức các phong trào thi đua tay nghề và văn hóa văn nghệ phạm nhân do Tổng cục VIII tổ chức.

Song song với các mặt đạt được, thực trạng thi hành án phạt tù qua số liệu phản ánh nhiều khó khăn, vướng mắc:

  • Số lượng phạm nhân chấp hành án có xu hướng gia tăng liên tục (phản ánh tại Biểu đồ 3.3 trang 93), dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng tại nhiều cơ sở giam giữ;
  • Thực tiễn áp dụng biện pháp hoãn chấp hành hình phạt tù (Biểu đồ 3.1 trang 91) và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Biểu đồ 3.2 trang 91) cho thấy hiện tượng lợi dụng quy định chữa bệnh hoặc sinh con để trốn tránh chấp hành án;
  • Tình trạng người bị kết án tại ngoại bỏ trốn hoặc không có mặt đúng thời hạn theo lệnh triệu tập, buộc cơ quan Công an phải áp dụng biện pháp áp giải hoặc phát lệnh truy nã;
  • Công tác phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Công an trong việc theo dõi, đôn đốc thi hành án còn thiếu cơ chế trao đổi thông tin tự động, dẫn đến chậm trễ hoặc bỏ sót việc thi hành;
  • Tỷ lệ tái phạm sau khi chấp hành xong án phạt tù còn ở mức cao do các chính sách hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và vay vốn tạo việc làm chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.

Chương 4: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù trước yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam

Chương 4 xây dựng hệ thống các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn, đáp ứng lộ trình cải cách tư pháp:

  • Định hướng cải cách tư pháp: Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết 48-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW, xác định mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý và quyền con người.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự; quy định chặt chẽ hơn về căn cứ, thủ tục xét hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng; xây dựng cơ chế giám sát tư pháp độc lập và hiệu quả đối với các trại giam.
  • Thiết chế tha tù trước thời hạn có điều kiện: Luận án xây dựng quy trình pháp lý cụ thể nhằm áp dụng thiết chế này vào thực tiễn Việt Nam nhằm giảm tải cho các trại giam. Quy trình xét tha tù có điều kiện được thiết kế chi tiết tại Sơ đồ 4.1 (trang 132), bao gồm các bước: lập danh sách tại trại giam, thẩm định hồ sơ qua Hội đồng xét tha tù, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát và Tòa án cấp tỉnh ra quyết định. Sơ đồ 4.2 (trang 133) quy định trình tự thủ tục hủy quyết định tha tù có điều kiện trong trường hợp người được tha tù vi phạm nghĩa vụ thử thách hoặc phạm tội mới.
  • Nhóm giải pháp tổ chức, cán bộ và cơ sở vật chất: Kiện toàn bộ máy quản lý và cơ quan thi hành án phạt tù; nâng cao phẩm chất, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cảnh sát trại giam; tăng cường đầu tư ngân sách hiện đại hóa cơ sở vật chất, buồng giam và trang thiết bị hỗ trợ giáo dục lao động; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong chuyển giao người chấp hành án phạt tù.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về thi hành án phạt tù tại Việt Nam đặt trong bối cảnh thực hiện cải cách tư pháp. Những đóng góp mới được thể hiện qua các điểm sau:

  1. Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thi hành án hình sự; luận giải bản chất của thi hành án phạt tù dưới ba bình diện lập pháp, lý luận và thực tiễn; phân định rõ nét sự khác biệt giữa thi hành án phạt tù với các hình phạt khác; phân tích hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thi hành án phạt tù.
  2. Tổng kết lịch sử lập pháp: Nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình phát triển của pháp luật thi hành án hình sự và thi hành án phạt tù từ năm 1945 đến giai đoạn nghiên cứu, rút ra các bài học kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế pháp lý.
  3. Đánh giá thực trạng thực định: Khảo sát và phân tích thực trạng quy định pháp luật và công tác tổ chức thi hành án giai đoạn 2005 - 2014; chỉ rõ các bất cập trong công tác ra quyết định thi hành án, áp dụng quy định hoãn, tạm đình chỉ, quản lý phạm nhân và cơ chế phối hợp liên ngành.
  4. Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế: Đánh giá quy định pháp luật của một số quốc gia về mô hình quản lý giam giữ và tái hòa nhập cộng đồng, xác định những nội dung phù hợp có thể tiếp thu vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam; nhấn mạnh yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế trong thi hành án phạt tù ngoài phạm vi dẫn độ truyền thống.
  5. Xây dựng giải pháp thể chế cụ thể: Đề xuất việc bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện trong hệ thống pháp luật hình sự và thi hành án hình sự Việt Nam; thiết kế mô hình quy trình thủ tục xét tha tù (Sơ đồ 4.1) và thủ tục hủy quyết định tha tù có điều kiện (Sơ đồ 4.2), cung cấp luận cứ cho việc giải quyết tình trạng quá tải trại giam và tạo điều kiện tái hòa nhập xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án xác định phạm vi nghiên cứu thực tiễn chỉ giới hạn trong hệ thống các cơ quan thi hành án phạt tù thuộc lực lượng Công an nhân dân, chưa tiến hành khảo sát và so sánh với công tác thi hành án phạt tù tại các trại giam do Bộ Quốc phòng quản lý. Bên cạnh đó, luận án không đi sâu nghiên cứu các nhóm đối tượng chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc các hình phạt không tước tự do khác. Do giai đoạn nghiên cứu hoàn thành vào năm 2016, các đề xuất cải cách chịu sự chi phối bởi lộ trình thể chế hóa các nội dung của Nghị quyết số 49-NQ/TW tại thời điểm đó, trước khi các đạo luật tư pháp lớn (như BLHS 2015, BLTTHS 2015) chính thức có hiệu lực thi hành đầy đủ trong thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng thiết chế tha tù trước thời hạn có điều kiện sau khi được cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự năm 2015 và Luật Thi hành án hình sự năm 2019; đánh giá mô hình phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan hành pháp trong việc giám sát người chấp hành án tại cộng đồng; nghiên cứu sâu về các hiệp định tương trợ tư pháp song phương và đa phương liên quan đến việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng và hoạt động nghiên cứu, đào tạo:

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự, Tố tụng hình sự và Tư pháp hình sự tại các cơ sở giáo dục đại học như Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân; phục vụ giảng dạy các học phần về Luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự và Tội phạm học.
  • Đối với cơ quan xây dựng pháp luật và tham mưu chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Bộ Tư pháp trong việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống thể chế thi hành án hình sự và phân định chức năng quản lý nhà nước.
  • Đối với cán bộ thực tiễn: Cung cấp hệ thống giải pháp tác nghiệp, quy trình thủ tục xử lý hồ sơ hoãn, tạm đình chỉ, xét giảm án cho Thẩm phán các cấp Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và lực lượng cán bộ, chiến sĩ công tác tại các trại giam, cơ sở giáo dục thuộc Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tổng hợp những luồng quan điểm khoa học nào về bản chất pháp lý của thi hành án hình sự? Văn bản luận án tổng hợp ba luồng quan điểm chính: quan điểm thứ nhất coi thi hành án hình sự là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự bảo đảm tính khép kín của thủ tục tố tụng; quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động tư pháp mang tính chất hành chính (hành chính tư pháp); quan điểm thứ ba coi thi hành án không thuộc hoạt động tố tụng hình sự mà thuộc quan hệ mệnh lệnh quyền uy của nhánh hành pháp.

2. Phạm vi nghiên cứu về thời gian và cơ quan thi hành của đề tài được giới hạn như thế nào? Tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu về thời gian trong khoảng 10 năm, từ năm 2005 đến năm 2014. Về tổ chức thi hành, luận án chỉ tập trung nghiên cứu công tác thi hành án phạt tù trong lực lượng Công an nhân dân trên phạm vi cả nước, không nghiên cứu hệ thống trại giam thuộc lực lượng Quân đội nhân dân và không nghiên cứu đối tượng thi hành án phạt tù cho hưởng án treo.

3. Bốn nội dung trọng tâm của cải cách tư pháp về công tác thi hành án theo Nghị quyết số 49-NQ/TW được tác giả xác định là gì? Bốn nội dung gồm: xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh thống nhất toàn bộ các lĩnh vực thi hành án; xác định Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án; chuẩn bị các điều kiện để chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp; từng bước thực hiện xã hội hóa các hoạt động thi hành án thích hợp.

4. Luận án đề xuất giải pháp thể chế nào để giải quyết tình trạng quá tải tại các trại giam? Tác giả đề xuất xây dựng và áp dụng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện, học tập kinh nghiệm từ nước ngoài để giảm quá tải cho các trại giam và trại tạm giam. Giải pháp này được cụ thể hóa bằng quy trình hai bước gồm Sơ đồ 4.1 về thủ tục xét tha tù có điều kiện và Sơ đồ 4.2 về thủ tục hủy quyết định tha tù có điều kiện khi phạm nhân vi phạm.

5. Các điều kiện hoãn chấp hành hình phạt tù được tác giả phân tích dựa trên cơ sở pháp lý nào trong văn bản? Tác giả phân tích căn cứ hoãn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), áp dụng đối với các trường hợp: bị bệnh nặng; phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; lao động duy nhất trong gia đình gặp khó khăn đặc biệt; hoặc do nhu cầu công vụ đối với tội ít nghiêm trọng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nam là công trình nghiên cứu hệ thống về thi hành án phạt tù tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2014, bám sát các mục tiêu và định hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc thi hành án phạt tù trên ba bình diện lập pháp, lý luận và thực tiễn, đồng thời chỉ ra những vướng mắc phát sinh trong thực tế quản lý giam giữ và áp dụng các biện pháp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án. Hệ thống các giải pháp được xây dựng trong luận án, trọng tâm là đề xuất chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện kèm theo quy trình thủ tục thực hiện, đóng góp nguồn luận cứ khoa học có giá trị cho quá trình hoàn thiện thể chế pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự tại Việt Nam.