Luận án tiến sĩ ngữ văn: Phân tích thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

Luận án tiến sĩ khám phá tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại qua góc nhìn thể loại, phân tích đặc điểm và sự phát triển của dòng văn học này.

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

174
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

0.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Đóng góp của luận án

0.5. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

1.2. Các quan niệm về đặc trưng thể loại

1.3. Quan niệm về kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật

1.4. Quan niệm đề cao yếu tố “hư cấu” như là đặc trưng của tiểu thuyết lịch sử

1.5. Quan niệm coi trọng yếu tố “lịch sử” hơn “hư cấu”

1.6. Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

1.7. Quan niệm của luận án về tiểu thuyết lịch sử và cơ sở lý thuyết để nghiên cứu đề tài

1.8. Quan niệm về các xu hướng tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ BÁM SÁT SỬ LIỆU

2.1. Khái quát xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu

2.2. Một số đặc điểm nội dung của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu

2.3. Nguyên lí chính nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2.4. Xây dựng hình tượng con người mang khát vọng lịch sử theo nguyên mẫu

2.5. Chuyện thế sự đời tư với hình tượng con người trần thế

2.6. Một số đặc sắc nghệ thuật cơ bản của xu hướng tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu

2.7. Đổi mới cấu trúc tiểu thuyết lịch sử chương hồi

2.8. Kỹ thuật đa điểm nhìn

2.9. Kết cấu cốt truyện ghép mảnh

2.10. Ngôn ngữ đa phong cách

2.11. Cấu trúc các lớp không gian tạo khung cốt truyện

2.12. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ DỤ NGÔN HÓA SỬ LIỆU

3.1. Khái quát về xu hướng tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu

3.2. Nội dung giáo huấn thực tiễn mang ý nghĩa thời sự

3.3. Giáo huấn về lòng yêu nước

3.4. Giáo huấn về chính trị - tôn giáo

3.5. Giáo huấn về đại đoàn kết dân tộc

3.6. Giáo huấn về chủ nghĩa nhân đạo

3.7. Các hình thức nghệ thuật nổi bật của tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu

3.8. Đan xen người kể chuyện toàn tri và hạn tri

3.9. Ngôn ngữ chính luận

3.10. Thời gian tuyến tính biên niên sử

3.11. Hư cấu các lớp thời gian đa chiều

3.12. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐỐI THOẠI VỚI SỬ LIỆU

4.1. Khái lược về xu hướng tiểu thuyết lịch sử đối thoại với sử liệu

4.2. Nội dung luận giải cụ thể trên tinh thần đối thoại

4.3. Đối thoại về các vấn đề tâm linh

4.4. Đối thoại về lịch sử đổi mới và thống nhất đất nước

4.5. Đối thoại về bản thể con người

4.6. Đối thoại về lịch sử kết đọng trong chiều sâu số phận con người

4.7. Một số phương diện nghệ thuật đối thoại

4.8. Đối thoại giải thiêng thần tượng là nhân vật có thật qua những góc khuất lịch sử

4.9. Hư cấu, dự phóng về “lịch sử mới” qua nhân vật hư cấu hoàn toàn

4.10. Ngôn ngữ biện giải

4.11. Tiểu kết chương 4

NHỮNG CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại quan trọng trong văn học Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn đương đại. Luận án này tập trung phân tích ba xu hướng chính: tiểu thuyết lịch sử bám sát sử liệu, tiểu thuyết lịch sử dụ ngôn hóa sử liệu, và tiểu thuyết lịch sử đối thoại với sử liệu. Mỗi xu hướng có đặc điểm riêng về nội dung và nghệ thuật, phản ánh sự đa dạng và sáng tạo trong thể loại tiểu thuyết. Luận án cũng nhấn mạnh vai trò của lịch sử Việt Nam trong việc định hình các tác phẩm này, đồng thời khẳng định giá trị giáo dục và thẩm mỹ của chúng.

1.1. Xu hướng bám sát sử liệu

Xu hướng này tập trung vào việc tái hiện lịch sử Việt Nam một cách chân thực, dựa trên các sử liệu chính xác. Các tác phẩm tiêu biểu như 'Tây Sơn bi hùng truyện' của Lê Đình Danh và 'Sông Côn mùa lũ' của Nguyễn Mộng Giác đã khắc họa sâu sắc các nhân vật và sự kiện lịch sử. Đặc điểm nổi bật là sự kết hợp giữa hư cấu nghệ thuậtsự thật lịch sử, tạo nên một cấu trúc tác phẩm vừa chặt chẽ vừa hấp dẫn.

1.2. Xu hướng dụ ngôn hóa sử liệu

Xu hướng này sử dụng sử liệu như một công cụ để truyền tải các thông điệp giáo huấn và ý nghĩa thời sự. Các tác phẩm như 'Bão táp triều Trần' của Hoàng Quốc Hải và 'Không phải huyền thoại' của Hữu Mai đã khéo léo kết hợp yếu tố lịch sử với hư cấu nghệ thuật để phản ánh các vấn đề xã hội đương đại. Đặc điểm nghệ thuật nổi bật là việc sử dụng ngôn ngữ chính luậnthời gian tuyến tính, tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa quá khứ và hiện tại.

II. Phương pháp nghiên cứu và đóng góp của luận án

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống - loại hình, phương pháp so sánh - đối chiếu, và phương pháp thi pháp học để phân tích các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử. Những phương pháp này giúp làm rõ các đặc điểm thể loại, cấu trúc tác phẩm, và sự đổi mới trong sáng tác. Luận án cũng đóng góp vào việc tổng kết sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đồng thời cung cấp công cụ lý thuyết hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học đương đại.

2.1. Phương pháp hệ thống loại hình

Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa các đặc trưng thể loại và phân loại các xu hướng tiểu thuyết lịch sử. Qua đó, luận án đã khái quát được sự phát triển của thể loại từ năm 1986 đến nay, đồng thời đánh giá những đóng góp về mặt nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm tiêu biểu.

2.2. Phương pháp thi pháp học

Phương pháp thi pháp học giúp phân tích các đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử, bao gồm cấu trúc, ngôn ngữ, và cách thức tổ chức không-thời gian. Qua đó, luận án đã làm rõ sự cách tân trong việc xử lý yếu tố lịch sửhư cấu, đồng thời khẳng định giá trị nghệ thuật của các tác phẩm.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Luận án không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang ý nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu sẽ là công cụ hữu ích cho sinh viên và giảng viên trong việc tiếp cận và phân tích tiểu thuyết lịch sử. Đồng thời, luận án cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành lý luận văn học và khẳng định vị trí của tiểu thuyết lịch sử trong nền văn học nước nhà.

3.1. Giá trị giáo dục

Các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử không chỉ mang tính thẩm mỹ mà còn có giá trị giáo dục sâu sắc. Chúng giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam, đồng thời rút ra những bài học quý giá từ quá khứ. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách và đạo đức cho thế hệ trẻ.

3.2. Ứng dụng trong giảng dạy

Luận án cung cấp một cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết lịch sử, giúp giáo viên và sinh viên có thêm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu. Những phân tích chi tiết về các tác phẩm tiêu biểu sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho các bài giảng về văn học đương đại.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 “Tổng quan tình hình nghiên cứu”, tác giả đi vào tìm hiểu “tình hình nghiên cứu truyện lịch sử”, trình bày “Khái niệm mô hình truyện lịch sử” trên cơ sở lý thuyết diễn ngôn của V. Từ đó, tác giả đi vào nghiên cứu “truyện lịch sử có thể chia thành ba mô hình cấu trúc truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại” [123; 43]. Sang đến chương 2 “Mô hình truyền thuyết lịch sử”, tác giả đi vào nội dung 1: nêu khái niệm “truyền thuyết”, vào nội dung 2 “Chủ thể xác tín về chân lý lịch sử gắn với những câu chuyện hồi sinh” với 2 luận điểm: “Câu chuyện dựng nước và giữ nước” và “Câu chuyện thời thế biến thiên dâu bể” [123; 45]. Truyện lịch sử viết theo mô hình truyền thuyết xoay quanh hai câu chuyện chính: câu chuyện dựng nước và chống ngoại xâm để giữ nước, cứu nước và câu chuyện về những biến thiên, dâu bể của xã hội, thời thế” [123; 46].

Tiếp theo, nội dung 3 là “Bức tranh thế giới phân lập của các vai – chức năng” với 3 luận điểm: “ Ta – địch, chính nghĩa – phi nghĩa”; “Tốt – xấu, thiện – ác”; “Cái nhỏ - cái lớn, nhân dân – đất nước”. Tác giả cho rằng “việc phân vai thiện – ác, tốt – xấu không theo giai tầng mà theo chuẩn mực đạo đức, luân lý và quan niệm sống, thể hiện trong suy nghĩ, hành động” [123; 65] và “Sự tái hiện bức tranh thế giới theo hai mảng đối lập này đã trở thành một nguyên tắc nghệ thuật của mô hình truyền thuyết lịch sử kể câu chuyện chống giặc giữ nước” [123; 60]. Tiếp nữa, nội dung 4 “Ba hình thức ngôn ngữ thế giới quan” đều là “ngôn ngữ quan phương, ít nhiều còn tính chất ước lệ” [123; 45, 78]: 1. “Ngôn ngữ trận mạc” và “mô thức tu từ thể hiện các vấn đề, tiếng nói của quốc gia, dân tộc: hịch, cáo, thệ” [123; 75]; 2.

“Ngôn ngữ họ hàng, dòng tộc” và “qua lăng kính của ngôn ngữ dòng tộc, nền tảng để kiến tạo hình tượng không gian là chữ nhà” [123; 77]; 3. “Ngôn ngữ hội hè, đám đông”. Tiếp theo chương 3 “Mô hình dụ ngôn lịch sử”, với 3 vấn đề: 1. “Chủ thể, người sở đắc chân lý và những bài học” với 3 luận điểm: “Hình tượng tác giả - chủ thể bộc lộ trực tiếp”; “Người kể chuyện - chủ thể nhập vai” và “Hệ thống nhân vật - chủ thể phân vai” với việc đi vào khái niệm nhân vật, tác giả cho rằng mỗi 13 nhân vật mang chức năng như là “mặt nạ ngôn ngữ”, “vai phát ngôn” với 2 chức năng “vai lịch sử và văn học” [123; 94-98]); 2.

“Bức tranh thế giới của những chủ thể lựa chọn” với 3 luận điểm: “Chủ thể nhập thế”, “Chủ thể xuất thế” và “Chủ thể trung dung” [123; 107]; 3. “Kết cấu – hình thức ngôn ngữ đặc trưng chuyển tải bài học dụ ngôn” với các đặc trưng “Từ kết cấu kiểu tiểu thuyết cổ điển tạo khung cho tác phẩm”, “đến phá vỡ kết cấu mạch thời gian biên niên” bằng việc “đảo, xóa mờ những mốc thời gian lịch sử cụ thể” [123; 112]; “và thay đổi ý nghĩa mô hình hóa cặp phạm trù mở đầu – kết thúc” để quan điểm về “chính sự, lịch sử, văn hóa và con người” [123; 113, 114]. Cuối cùng là chương 4 “Mô hình giai thoại lịch sử”, với 3 vấn đề như: 1. “Chủ thể bất khả tín về chân lý và những truyện kể mới” với 3 luận điểm: “Chủ thể của những câu chuyện mơ hồ, hư thực”, “Chủ thể của những câu chuyện về thân phận cá nhân” và “Chủ thể của những câu chuyện ngẫu nhiên, bất định”; 2.

“Bức tranh thế giới lập thể của những mảnh vỡ lịch sử” với 3 luận điểm: “Những mảnh vỡ ngẫu nhiên, huyền hoặc”, “Những mảnh vỡ của lịch sử quan phương, theo tiến trình biên niên” và “Sự đan cài các mảnh vỡ, kiến tạo cấu trúc diễn ngôn”; 3. “Ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tổng hợp cao” với 3 luận điểm: “Lịch sử như một ngôn ngữ, một mã nghệ thuật”, “Phá bỏ phân vai ước lệ” và “Sự trở về ngôn ngữ thế tục” gắn với “ngôn ngữ thế tục, suồng sã, mang đậm chất khẩu ngữ” [123; 142]. Nhìn chung, Ngô Thanh Hải tiếp cận mô hình truyện lịch sử từ lý thuyết diễn ngôn, phần lớn tác phẩm khảo sát thuộc thể loại truyện ngắn, trong đó có nhắc đến tên một vài TTLS, nhưng tác giả cũng chưa đi sâu vào lý thuyết thể loại thể hiện qua các xu hướng phát triển của TTLS Việt Nam đương đại, chưa phân tích đặc điểm các lớp cấu trúc thể loại trong mỗi xu hướng để chỉ ra sự đổi mới của thể loại. Đây là chỗ còn thiếu hụt về mặt lý thuyết mà luận án của tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu.

Năm 2020, có luận án với đề tài “Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” của Đỗ Thị Nhàn với 4 chương. Chương 1với 3 vấn đề : “Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử” với việc nêu khái niệm, liệt kê các công trình nghiên cứu về TTLS trên thế giới, nêu “sự khác nhau giữa TTLS thời kì trung đại và thời kì hiện đại”, “tình hình nghiên cứu về Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử của ông”, “Những vấn đề cấp thiết đặt ra trong nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai”. Chương 2 “Từ quan niệm nghệ thuật đến quá trình sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” với 2 nội dung “Về quan niệm của Lan Khai” với quan niệm về nhà văn, văn học và quan niệm nghệ thuật về con người; “Quá trình sáng tác của Lan Khai” với 4 luận điểm “Sở trường sáng tác”, “Hoàn cảnh sáng tác”, “Diễn trình sáng tác” và “Tiểu thuyết lịch sử trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai và trong sự vận động của thể tài tiểu thuyết lịch sử Việt Nam”. Chương 3 “Từ hiện thực lịch sử đến bức tranh nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ” với 3 nội dung “Cảm hứng sáng tác” với việc “ca ngợi truyền thống yêu nước của dân tộc”, “ca ngợi cái đẹp, cái thiện”, “Phê phán xã hội phong kiến và chiến tranh phi nghĩa”; “Sự kiện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” với các luận điểm “Sự hoán đổi ngôi vị của các triều đại phong kiến”, “Những cuộc nội chiến”, “Những cuộc nổi dậy của nhân dân”, “Những cuộc đấu tranh 14 chống kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai”; “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai” gồm “Nhân vật vua chúa, quan lại và tướng lĩnh”, “Nhân vật người anh hùng”, “Người phụ nữ”, “Nhân vật binh sĩ và dân chúng”, “Nhân vật kẻ thù cướp nước và bán nước”.

Chương 4 có 5 nội dung “Sự kết hợp hài hòa giữa lịch sử và hư cấu nghệ thuật”; “Nghệ thuật kết cấu” với việc “Kế thừa và sáng tạo kết cấu của tiểu thuyết truyền thống” và “Kết cấu kiểu tiểu thuyết hiện đại”; “Các phương thức kiến tạo chân dung nhân vật”; “Thời gian và không gian nghệ thuật”; “Nghệ thuật trần thuật” với “Người trần thuật, điểm nhìn trần thuật”, “Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật”. Có thể nói, tác giả đã nghiên cứu về một nhà văn cụ thể là Lan Khai với 20 cuốn tiểu thuyết lịch sử trước giai đoạn 1945 có dung lượng nhỏ và mỏng được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo, không nghiên cứu về giai đoạn đương đại như đề tài của chúng tôi. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chỉ là những bài báo ngắn, nêu lên một yếu tố nào đó của thể loại mà chưa đi sâu vào vấn đề được nêu, có một số sách lý luận văn học cũng ít đề cập đến lý thuyết thể loại TTLS, cho thấy khoảng trống còn thiếu hụt về mặt lý thuyết. Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ chỉ đi vào một khía cạnh nào đó của một tác phẩm cụ thể, nên chưa có tính khái quát về mặt lý thuyết thể loại.

Cuối cùng, chúng tôi thấy có 4 luận án tiến sĩ công phu nói trên đi sâu vào cả giai đoạn dài và có sự tiếp nối về thời gian, còn luận án của Đỗ Thị Nhàn chỉ nghiên cứu về một tác giả cụ thể thuộc giai đoạn trước 1945 với một số tác phẩm có dung lượng nhỏ và mỏng. Nhưng, các công trình nghiên cứu đó vẫn còn thiếu hụt về mặt lý thuyết thể loại như đã nêu trên, phần lớn các tác giả mới dừng lại ở việc điểm qua một bình diện nào đó của tác phẩm cụ thể, chưa có công trình nào phân tích thấu triệt các lớp cấu trúc thể loại của các xu hướng TTLS Việt Nam đương đại để thấy được các đặc trưng thể loại và sự đổi mới của mỗi xu hướng TTLS. Vì thế, đề tài của chúng tôi đi sâu khái quát các đặc trưng thể loại, ý nghĩa, vai trò, sự cách tân của TTLS Việt Nam đương đại theo ba xu hướng: bám sát sử liệu, dụ ngôn hóa sử liệu và đối thoại với sử liệu là điều quan trọng và cần thiết, có những đóng góp nhất định cho ngành Lý luận văn học nước nhà. Các quan niệm về đặc trƣng thể loại Khi bàn về TTLS, hệ thống các quan điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước được nói đến trong các công trình nghiên cứu có thể chia thành ba luồng ý kiến chính, một là kết hợp hài hòa 2 yếu tố “lịch sử” và “hư cấu”, hai là thiên về tính tiểu thuyết và “hư cấu” nghệ thuật, ba là đề cao yếu tố “lịch sử” và trung thành với các sự thật lịch sử được ghi chép trong sử liệu.

Trong đó, chúng tôi thấy hầu hết các nhà lý luận văn học theo quan điểm thứ nhất, cho rằng cần tôn trọng sự thật lịch sử và nhà văn có quyền được hư cấu ở một giới hạn, mức độ nhất định, yếu tố “lịch sử” và “hư cấu” sẽ chi phối, quy định, ràng buộc lẫn nhau, cần kết hợp chúng một cách hài hòa, hợp lý theo nguyên tắc thể loại. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn bàn nhiều về mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm - bạn đọc, các vấn đề tiếp nhận văn học, ý nghĩa và tác dụng của tiểu thuyết lịch sử với cuộc sống 15 hôm nay,… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển và đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại. Tài liệu này không chỉ phân tích các tác phẩm tiêu biểu mà còn khám phá cách các nhà văn sử dụng yếu tố lịch sử để phản ánh các vấn đề xã hội và văn hóa đương thời. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự giao thoa giữa lịch sử và văn học, cũng như cách thể loại này góp phần định hình diện mạo văn học Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan, hãy khám phá Luận án tiến sĩ hồi ký tự truyện hiện đại việt nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại để hiểu thêm về cách diễn ngôn thể loại được áp dụng trong văn học hiện đại. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975 cung cấp góc nhìn sâu sắc về tính đối thoại trong văn học, một yếu tố quan trọng trong tiểu thuyết lịch sử. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học việt nam hiện đại đặc điểm hồi kí của các nhà thơ lưu trọng lư huy cận xuân diệu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách các nhà văn sử dụng hồi ký để phản ánh lịch sử và văn hóa. Mỗi liên kết là cơ hội để mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về chủ đề này.