Chương 1 đánh giá tổng quan tinh hình nghiên cứu về các van dé liên quan đến các lý thuyết về phát triển nông nghiệp, lý thuyết liên quan đến tái cấu trúc kinh tế và tái cấu trúc nông nghiệp, nghiên cứu về cải cách và tái cau trúc nông nghiệp của các quốc gia; các nghiên cứu trong và ngoai nước về thực trang và chính sách phát triển, tái cau trúc nông nghiệp hiện nay. Nhận định của tác giả là tuy nhiều nghiên cứu đã phân tích khá sâu quá trình phát triển nông nghiệp của một số nước, song hạn chế của những nghiên cứu này là thiếu tính cập nhật, đặc biệt cập nhật tác động của bối cảnh mới. Các nghiên cứu lý thuyết về tái cấu trúc ngành nông nghiệp ở Việt Nam hiện không có nhiều; cũng không có nhiều nghiên cứu đưa ra các luận điểm khoa học về định hướng tái cấu trúc ngành nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt theo hướng chuyên sang các mô hình nông nghiệp mới, hiện đại và bền vững. Nội dung tổng quan 1.
Các nghiên cứu lý thuyết về phát triển nông nghiệp Các lý thuyết hiện nay nêu ra ba luận điểm chính về phát triển nông nghiệp: Luận điểm dé cao vai trò của nông nghiệp, coi nông nghiệp là cơ sở hay tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá. Đại diện cho trường phái lý thuyết này gồm các tác giả như Mellor, Johnston và Simon Kuznets. Trong nghiên cứu “Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế”, Johnston và Mellor (1961) cho rằng, việc xây dựng một nên nông nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là nhân tố quan trọng thúc đây công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Theo đó, nông nghiệp có 5 vai trò quan trọng: 1) cung cấp lương thực, thực phâm cho nhu cau trong nước; 2) xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ; 3) tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp; 4) mở rộng thị trường nội địa cho sản phẩm công nghiệp và 5) tăng 12 nguồn tiết kiệm ở trong nước dé tạo vốn cho phát trién công nghiệp.
Gan với quan điểm của Johnston, Mellor và Kuznets (1965) tiếp tục khăng định sự đóng góp của nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế thông qua trao đổi buôn bán sản phẩm với các khu vực khác nhau ở trong và ngoài nước, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, lao động, vốn, thị trường cho quá trình công nghiệp hoá (CNH). Ở đây, nông nghiệp được đề cao, nhưng xét về thực chất đó là sự khai thác cạn kiệt các nguồn lực của nông nghiệp dé chuẩn bị tiền đề phục vụ cho sự phát triển công nghiệp hoá, đô thị hoá. Hiện tại va trong giai đoạn tới, vi trí và vai trò của nông nghiệp có lẽ phải được nhìn nhận lại. Quan điểm của trường phái trọng nông không phải lúc nào cũng đúng, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thế giới đã phát triển ở mức độ cao và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng.
Với xu thế toàn cầu hoá, nếu dựa quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp theo thuyết này sẽ khó đảm bảo cho việc phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả. Mặc dù vậy, ở một mức độ nhất định nào đó, quan điểm lý thuyết này vẫn còn có giá trị đối với những nước đang trên con đường tiễn tới CNH mà có xuất phát điểm là nông nghiệp. Luận điểm phát triển cân đối và hài hoà giữa nông nghiệp và công nghiệp với đại diện là các tác giả như E. Schumacher, Colander, Roy Cohn, Mark Morlock va Robert Stonebreaker.
Schumacher (1973) cho rằng, cần phải có một hệ thống tư duy hoàn toàn mới, dựa trên sự quan tâm trước hết đến nhân tố con người chứ không phải hàng hoá; trong kinh tế, tính bền vững là khái niệm trung tâm của sự khôn ngoan. Theo ông, dé thực hiện tư duy kinh tế đó, phải chú ý thoả đáng tới phát triển nông nghiệp, nhất là đối với những nước dang phát triển trong đó yếu tố con người là chủ thé cần quan tâm trước tiên. Schumacher đề xuất quan điểm rằng, nông nghiệp phải hoan thành các nhiệm vụ cơ bản là: đảm bảo cho con người tiếp xúc với thiên nhiên sinh động; nhân bản hoá và nâng cao chât lượng của nơi sinh sông rộng lớn 13 hơn dành cho con người; cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu cần thiết khác cho việc đảm bảo một cuộc sống đầy đủ và hợp lý. Ở đây, ngoài lĩnh vực nông nghiệp, khu vực nông thôn đã được quan tâm nhiều hơn với tư cách là địa bàn sinh sống của chủ yếu của những người làm nông nghiệp.
Schumacher (1973) không tán thành thực hiện công nghiệp hoa bằng cách “bóp nặn” mọi nguôồn lực của nông nghiệp. Theo ông, cần kết hợp hai hoà và phát triển cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp, phải dùng những thành quả của công nghiệp dé làm cho cuộc sống người dân ở nông thôn trở nên lành mạnh, tốt đẹp và bền vững hơn. Quan điểm phát triển cân đối và hài hoà giữa nông nghiệp và công nghiệp còn cho rằng, phát triển nông nghiệp cần phải đặt trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu; cần chú trọng nâng cao năng suất lao động; nâng cao tính tự chủ của nông dân trong quá trình ra quyết định sản xuất; đảm bảo chuyển dần nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại; kết hợp phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp và các ngành công nghiệp khác, nâng cao nguồn vốn con người. Tuy nhiên, trên thực tế, mục tiêu này không dễ dàng được thực hiện, bởi nó yêu cầu phải có thời gian để phát triển kinh tế nông thôn với tốc độ cao, đồng thời quan trọng là phải đảm bảo tính bền vững của nền kinh tế.
Luận điểm phát triển nông nghiệp bên vững: đây là luận điềm tương đối hiện đại, quan tâm và đề cập nhiều hơn đến môi trường cũng như sự phát triển bền vững nông nghiệp. Luận điểm này thé hiện trong các nghiên cứu gần đây của nhiều tổ chức quốc tế như FAO, UNEP, UNDP, OECD và các nghiên cứu thuộc lĩnh vực phát triển bền vững. Đi kèm với luận điểm này là các mô hình nông nghiệp mới như: nông nghiệp xanh, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hiện đại.thay thế cho các mô hình nông nghiệp truyền thống. Có thể nói rằng hầu hết các lý thuyết của các nhà kinh tế học trước đây đều không thuần túy tập trung nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, mà đều đặt nông nghiệp trong môi quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác, trước hét là với 14 công nghiệp.
Ngày nay, hon bao giờ hết, phát triển nông nghiệp cảng phải đặt trong mối quan hệ tổng thê với các lĩnh vực, các ngành khác như: xuất khẩu, du lịch, công nghiệp, môi trường. Nhiều hệ thống lý thuyết cũng nêu ra các phương thức phát triển nông nghiệp, trong đó nhấn mạnh một số yếu tố cụ thé. Dé cao sự tôn tại và phát triển của hộ nông dân, chủ yếu là hộ tiểu nông, từ nghiên cứu trường hợp của nước Nga, Chayanov (1966) lập luận rằng qui luật kinh té qui định xã hội nông dân hoàn toàn khác với qui luật kinh tế qui định xã hội tư bản. Trong kinh tế nông hộ, mục tiêu chủ yếu của người nông dân không phải là tối đa hoá lợi nhuận mà là tối đa hoá sự thoả mãn các nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Do nông dân sản xuất ra sản phẩm dé phục vụ đời sống chứ không phải tìm kiếm lợi nhuận nên nên kinh tế nông hộ nhỏ có thé tồn tại ngay trong những điều kiện mà kinh tế tư bản hay kinh tế hàng hoá lớn không thể. Theo Chayanov (1966), hộ tiểu nông nhỏ, tự cung tự cấp chủ yếu chỉ sử dụng lao động gia đình. Do sản xuất nông nghiệp có nhiều công đoạn yêu cầu trình độ và sức lực lao động khác nhau nên kinh té nông hộ có khả năng tan dụng lao động của phụ nữ, trẻ em cũng như người già trong gia đình - những người khó có cơ hội làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ cũng như chưa đến tuổi hoặc hết tuổi lao động. Theo đánh giá của Hayami (1997), ở nhiều nước Đông Nam Á như Indonesia, Philippin và Việt Nam, việc nông hộ sử dụng lao động làm thuê khá phổ biến, thậm chí khối lượng công việc do lao động làm thuê thực hiện đôi khi còn lớn hơn lao động gia đình, song những hoạt động này thường chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn với kết quả công việc dễ đánh giá trong các giai đoạn cần nhiều sức lực lao động như gặt lúa, thu hoạch hoa quả.
Trong khi đó, nông hộ nhỏ thường sử dụng lao động gia đình vào những công việc không tốn nhiều sức như tưới tiêu, làm cỏ, bón phân.Nhờ đó, việc sử dụng lao động làm thuê được khai thác một cách hiệu quả trong kinh tế nông hộ mà không đòi hỏi chi phí giám sat lớn. 15 Cùng với quan điểm đề cao vai trò của nông hộ sản xuất nhỏ, Bharadwaj (1974), Ellis và Beggs (2001) cho rằng, nông hộ nhỏ là loại hình sản xuất có hiệu quả cao nhất trong nông nghiệp. Trong các nền kinh tế nông nghiệp, thông thường nông hộ nhỏ là đơn vị sản xuất chính, chủ yếu sử dụng lao động gia đình và duy trì kinh tế tự cung tự cấp. Hệ thống sản xuất nông nghiệp trên qui mô hộ diễn ra trong phạm vi nhỏ, nằm trong khả năng điều khiến về tài nguyên và năng lực quản lý của hộ gia đình nên thường khá đa dạng và linh hoạt.
Day chính là thế mạnh của hộ tiểu nông nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp của hộ gia đình và khắc phục những rủi ro, biến động của thị trường mà các trang trại sản xuất hàng hoá lớn không thê có. Như vậy, ngược với quan điểm cho rằng kinh tế hộ tiểu nông sẽ dan biến mat trong bối cảnh toàn cầu hoá, lập luận chính của trường phái này là hộ tiểu nông vẫn phổ biến ở các nước đang phát triển vì ở những nước này người dân sản xuất rất nhiều loại cây trồng khác nhau, đồng thời họ cũng duy trì cùng một lúc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau. Từ quan điểm liên kết để phát triển nông nghiệp, theo Bray (1983), đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp vẫn là kinh tế hộ nông dân và không thừa nhận sự tồn tại vĩnh viễn cũng như quan điểm “tư bản hoá” kinh tế hộ tiêu nông. Tương tự, Moerman (1968) và Gudeman (1978) cho rằng, sản xuất hàng hoá qui mô lớn sẽ chỉ tồn tại được khi có kinh tế nông hộ nhỏ cung cấp nguyên liệu và lao động giá rẻ.