Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu về DTNH và tác động của DTNH đến ổn định kinh tế vĩ mô Chương 2. Thực trạng kinh tế vĩ mô và DTNH ở Việt Nam, 2000-2016. Phân tích định lượng tác động của DTNH đến ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Một số khuyến nghị nhằm tăng cường DTNH góp phần ổn định kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI ĐẾN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 1. Khái quát về DTNH 1. Khái niệm về DTNH Theo tài liệu “Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế” của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) xuất bản lần thứ 6 (năm 2009), tổng kết kinh nghiệm về quản lý DTNH của các nước, Dự trữ ngoại hối (DTNH) được hiểu như sau: “DTNH của một quốc gia là những tài sản có tính quốc tế, được NHTW và cơ quản quản lý tiền tệ quản lý và sử dụng, nhằm tài trợ trực tiếp cho thâm hụt cán cân thanh toán hoặc can thiệp kiểm soát tỷ giá và tài trợ cho một số nhu cầu khác như đảm bảo niềm tin về giá trị đồng nội tệ cũng như tính ổn định của nền kinh tế, và là nền tảng chính cho các khoản vay nợ nước ngoài”.
DTNH bao gồm các loại tài sản ngoại hối sau: Ngoại tệ, Vàng tiền tệ, Quyền rút vốn đặc biệt (SDR), Hạn mức dự trữ tại IMF và các tài sản ngoại hối khác. Trong đó: - Ngoại tệ: tồn tại dưới dạng tiền mặt, tiền ghi sổ, các loại giấy tờ có giá và thể hiện giá trị bằng tiền tệ nước ngoài - Vàng tiền tệ: thuộc sở hữu quốc gia, do cơ quan chức trách nắm giữ và được sử dụng như một tài sản tài chính. - Quyền rút vốn đặc biệt: là đơn vị tiền tệ quy ước của IMF, là đồng tiền ghi sổ và không tồn tại dưới dạng vật lý. Quyền rút vốn đặc biệt là DTNH tại IMF được tạo ra nhằm bổ sung cho DTNH của các nước thành viên IMF.
Quyền rút vốn đặc biệt được phân bổ trên hạn mức (quota) của các nước thành viên. - Hạn mức dự trữ tại IMF: gồm (1) tổng số các khoản tiền (bằng SDR và ngoại tệ) mà một nước thành viên có thể giải ngân từ IMF bằng một thông báo ngắn và không kèm điều kiện và (2) các khoản nợ của IMF sẵn sàng dành cho các nước thành viên trong Thỏa thuận chung về vay nợ và các thỏa thuận cho vay mới. Nguồn hình thành và mục tiêu 1. Nguồn của DTNH Nguồn gốc của sự DTNH phần lớn là từ thặng dư trong cán cân thanh toán.
Cán cân thanh toán theo định nghĩa của IMF trong ấn bản lần thứ 6 năm 2009, Sổ tay về cán cân thanh toán quốc tế là một bản thống kê tóm tắt một cách hệ thống, trong một khoảng thời gian nhất định, các giao dịch kinh tế của một nền kinh tế với phần còn lại 8 của thế giới. Các giao dịch, đa số là giữa đối tượng thường trú và phi thường trú, gồm có các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ và thu nhập; và các giao dịch về trái quyền tài chính và nợ đối với phần còn lại của thế giới. Nhìn một cách rất đơn giản về thương mại thế giới, một quốc gia sẽ xuất khẩu và kiếm được ngoại hối mà nó có thể mua hàng từ nước ngoài. Khi nhu cầu nhập khẩu của một quốc gia cao hơn xuất khẩu thì khả năng nhập khẩu của nước này sẽ bị giới hạn bởi nguồn ngoại tệ mà nó thu được từ xuất khẩu hoặc từ "tài khoản vãng lai".
Trong trường hợp mức thâm hụt không được tài trợ bằng tài khoản vốn, sẽ có sự suy giảm về số dư tiền mặt ngoại tệ, tức là giảm DTNH. Tương tự, DTNH sẽ tăng lên nếu xuất khẩu nhiều hơn hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, DTNH không thể tăng (hoặc giảm) mãi mãi. Trong một khoảng thời gian, sự duy trì quá mức nhập khẩu đối với xuất khẩu (hoặc ngược lại) sẽ làm tăng tỷ giá theo cách để hai nước cân bằng bằng cách ảnh hưởng đến cung và cầu.
Các giao dịch bên trong cán cân thanh toán có thể được phân thành hai loại chính: các giao dịch trên tài khoản vốn, và các tài khoản trong tài khoản vãng lai. Bảng cân đối thanh toán (BOP) gồm các nhân tố sau: CA+KFA+∆RES=0; hoặc là: CA+KFA= -∆RES Trong đó: CA là cán cân tài khoản vãng lai, KFA là cán cân tài khoản vốn và tài chính; ∆RES là thay đổi dự trữ. Cán cân tài khoản vãng lai có thể được tính theo công thức là: CA= GSA+IA+TA Trong đó GSA là cán cân hàng hoá và dịch vụ, IA là thu nhập ròng từ nước ngoài, và TA cán cân chuyển giao quốc tế ròng. Cán cân tài khoản vốn và tài chính được tính bằng: KFA=KA+FA Trong đó, KA là cán cân tài khoản vốn, bao gồm cả nợ phải trả; FA là cán cân tài khoản tài chính, bằng tổng vốn FDI cộng với đầu tư danh mục đầu tư và các tài sản khác đầu tư.
Như vậy, thâm hụt/ thặng dư tài khoản vãng lai + Thâm hụt/ thặng dư tài khoản vốn = Thay đổi ròng DTNH. Cán cân tổng thể = cán cân vãng lai + cán cân vốn + lỗi và sai số Cán cân thanh toán tổng thể được đo bằng thay đổi DTNH trong kỳ báo cáo và cần được quan sát liên tục trong khoảng 4-5 năm. Nếu DTNH quốc gia không quá cao, cán cân thanh toán cần ít nhất là cân bằng hoặc không thâm hụt để đảm bảo DTNH 9 không bị sụt giảm. Nhưng nếu dự trữ ở mức rất thấp, cán cân thanh toán rất cần có mức thặng dư khá để góp phần gia tăng DTNH.
Hiện nay chưa xác định được quy mô dự trữ bao nhiêu là đủ, tuy nhiên IMF thường gợi ý mức 13 tuần nhập khẩu hàng hóa để đánh giá quy mô DTNH. Nếu DTNH của một nước thấp hơn mức 13 tuần nhập khẩu hàng hóa, khi đó nước đó bị đánh giá là có mức DTNH thấp và ngược lại. Ngoài ra, khi đánh giá mức độ DTNH hay tình trạng cán cân thanh toán, các nhà phân tích còn quan tâm đến độ mở của nền kinh tế, khả năng tiếp cận các tài trợ tài chính ngắn hạn, tỷ trọng của các tài sản nợ có tính lỏng cao, tính mùa vụ của cán cân hàng hóa, tính đa dạng của các giao dịch ngoại hối. Ví dụ như một nước có độ mở kinh tế lớn sẽ cần duy trì lượng DTNH nhiều hơn nước có nền kinh tế đóng do có nguy cơ đối mặt với những thay đổi lớn của DTNH.
Một nước có khả năng dễ dàng tiếp cận tài sản nợ tài chính ngắn hạn sẽ không cần phải duy trì lượng DTNH lớn như các nước gặp khó khăn khi tiếp cận tài chính quốc tế. Một nước có tỷ lệ lớn là tài sản nợ có tính lỏng cao sẽ cần phải có DTNH lớn hơn do nhiều khả năng chịu rủi ro đảo chiều của các luồng vốn. Tương tự, một nước có tính mùa vụ cao thể hiện ở xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa sẽ cần nhiều DTNH hơn. Một nước có sự đa dạng về các giao dịch ngoại hối thì cần có DTNH cao hơn để đảm bảo khả năng ứng phó với những thay đổi khó lường của các giao dịch ngoại hối.
Xuất khẩu - Nhập khẩu • Mậu dịch hữu hình (hàng hóa sản xuất) • Mậu dịch vô hình (dịch vụ) Tài khoản Thu nhập nước ngoài ròng - lợi vãng lai nhuận ròng và đầu tư trên tài sản nước ngoài Cán cân Chuyển giao một chiều thanh toán (viện trợ quốc tế) Tài khoản Nguồn vốn trung/dài hạn vốn và Tài chính Tiền "nóng" - nguồn vốn ngắn hạn Dự trữ Thay đổi ròng dự trữ của ngân ngoại hối hàng trung ương Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các thành phần cán cân thanh toán. Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 10 Như vậy, DTNH của một quốc gia được hình thành từ các nguồn sau: Nguồn thu ngoại tệ từ các hoạt động xuất khẩu của quốc gia; từ luồng ngoại tệ di chuyển vào trong nước dưới dạng kiều hối, đầu tư của nước ngoài; từ nguồn ngoại tệ, vàng mua được trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế; từ nguồn vay nợ, viện trợ của nước ngoài dưới các hình thức tài sản ngoại hối; từ nguồn ngoại tệ giải ngân cho các dự án trong nước được nước ngoài tài trợ; từ việc nhận phân bổ SDR của IMF theo hạn mức đóng góp của quốc gia vào IMF; từ việc rút DTNH tại IMF theo hạn mức. Tuy nhiên, không phải toàn bộ các luồng ngoại hối chảy vào trong nước, đều được tập trung thành DTNH nhà nước. Một phần ngoại hối không nhỏ trong số đó, chủ yếu là từ các hoạt động xuất khẩu, từ kiều hối, đầu tư nước ngoài, được lưu hành trong các tầng lớp dân cư hoặc trôi nổi trên thị trường.
Mục tiêu của DTNH Thứ nhất, thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá thông qua việc can thiệp vào thị trường ngoại hối, ổn định tỷ giá. Khi có sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô trong nước, tổng cầu lớn hơn tổng cung, có thể sử dụng DTNH để nhập khẩu, do đó điều chỉnh tổng cung và và tổng cầu, thúc đẩy cân bằng kinh tế vĩ mô. Đồng thời khi tỷ giá hối đoái biến động, có thể sử dụng DTNH để can thiệp vào tỷ giá, để ổn định. Như vậy, DTNH là một phương tiện không thể thiếu để đạt được cân bằng kinh tế và ổn định, đặc biệt là trong bối cảnh của sự phát triển liên tục của toàn cầu hoá kinh tế và thực tế nền kinh tế của một quốc gia dễ bị tổn thương hơn kinh tế từ các quốc gia khác; Thứ hai, duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính; Thứ ba, điều chỉnh cán cân thanh toán, là tài sản dự trữ để duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia góp phần thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài; Thứ tư, dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia.
Đánh giá quy mô DTNH DTNH có vai trò quan trọng trong việc can thiệp thị trường ngoại hối nhằm thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá.