mở đầu cho cuộc Đại khủng hoảng của thị trường chứng khoán Mỹ và cuộc Đại suy thoái kéo dài từ năm 1929 tới năm 1933. Chỉ số Dow Jones đạt điểm đáy ngày 08/07/1932 khi đóng cửa ở mức 41,2 - giảm gần 90% so với mức đỉnh nó từng đạt được ba năm trước. Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán đã đưa nước Mỹ vào suy thoái. Tiêu dùng và đầu tư bị ảnh hưởng trực tiếp.
Ngân hàng phá sản hàng loạt hoặc phải sáp nhập lại do một mặt không thu hồi được các khoản nợ đã cho vay 11 đầu tư chứng khoán, mặt khác lại phải đối diện với làn sóng rút tiền của những người dân đang hoảng loạn trước tình hình kinh tế khó khăn. Trong khi đó, để bảo vệ chế độ bản vị vàng, chính phủ Mỹ đã không thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ cần thiết, dẫn đến cung tiền giảm mạnh, gây ra tình trạng giảm phát, làm trầm trọng thêm cơn suy thoái. Đến năm 1930, cuộc khủng hoảng chứng khoán đã trở thành khủng hoảng ngân hàng với 9000 ngân hàng phá sản, số lượng ngân hàng tại Mỹ giảm 35% trong giai đoạn 1929 đến 1933. Cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính kéo theo suy thoái kinh tế trầm trọng trên phạm vi toàn cầu.
Riêng tại Mỹ, sản xuất công nghiệp giảm 45%, GDP giảm 30%, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 25% và 60% người Mỹ sống dưới ngưỡng nghèo khổ.Nguyên nhân: Nguyên nhân đầu tiên bắt nguồn từ những chính sách được Chính phủ Mỹ áp dụng trong thập kỷ 1920. Để thúc đẩy sản xuất, FED giữ lãi suất ở mức thấp và tăng cấp tín dụng, doanh nghiệp mở rộng sản xuất, dẫn đến việc sản xuất vượt quá khả năng tiêu dùng của thị trường. Cuối thập kỷ 1920, khi hàng rào thuế quan của Mỹ tăng cao theo Luật Thuế quan Smoot– Hawley làm cho việc xuất khẩu vào Mỹ gặp khó khăn, các nước trên thế giới không còn khả năng mua hàng Mỹ và hoạt động xuất khẩu của Mỹ cũng bị thiệt hại. Tình trạng khủng hoảng thừa trở nên trầm trọng.
Một nguyên nhân khác là sự dễ dãi trong việc cấp tín dụng đẩy các ngân hàng tích cực cho vay, dẫn tới bùng nổ quá mức cung tiền ngay trước khi khủng hoảng. Thứ nhất, việc mở rộng cấp tín dụng đã khiến hệ thống ngân hàng Mỹ chấp nhận những khoản thế chấp không an toàn như bất động sản và chứng khoán, khiến cho hệ thống ngân hàng rơi vào trạng thái rủi ro do 12 dự trữ quá ít và đầu tư quá nhiều vào các tài sản không bảo đảm. Thứ hai, việc tín dụng dư thừa đã khiến nền kinh tế phát triển nóng, đẩy bong bóng chứng khoán bùng nổ quá mức. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ, không thu hồi được nợ, việc các ngân hàng bán ra số lượng lớn tài sản thế chấp với giá rẻ, làm cho tài sản nhìn chung lại càng mất giá, khiến các khoản nợ còn tồn lại càng giảm chất lượng (do tài sản thế chấp bị giảm giá).
Vòng xoáy này ngày càng lớn, đẩy cả thị trường nợ và tài sản xuống, làm cho các thể chế tài chính và cá nhân trên thị trường vỡ nợ. Chính sách tiền tệ của chính phủ Mỹ cũng là một nguyên nhân gây trầm trọng thêm tình hình. Thay vì tăng cung tiền để cứu hệ thống ngân hàng khỏi nguy cơ sụp đổ và tăng thanh khoản cho nền kinh tế, FED lại thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, tài khóa đúng lúc cuộc khủng hoảng lan rộng. Sự xiết chặt quá mức của FED đã khiến cho hiện tượng giảm phát xảy ra, không còn nguồn vốn cho sản xuất, ngân hàng sụp đổ và tiêu dùng của dân chúng suy giảm, kéo theo sự suy thoái trên diện rộng.Khủng hoảng tài chính Mexico 1994: 1.Diễn biến khủng hoảng: Sau khủng hoảng nợ năm 1982, Mexico đã tiến hành một loạt cải cách giúp khôi phục được nền kinh tế.
Kinh tế tăng trưởng, đồng peso Mexico được neo vào đồng USD, lãi suất của Mexico được giữ cao hơn lãi suất của Mỹ đã thúc đẩy dòng vốn tư nhân nước ngoài đổ vào nền kinh tế Mexico. Riêng thời gian từ 1990 đến 1993, Mexico đã thu hút được 93 tỷ USD đầu tư nước ngoài, chiếm một nửa tổng đầu tư nước ngoài vào Mỹ Latinh. Điều này đã dẫn tới hiện tượng peso lên giá tới 40% so với USD trong vòng 5 năm, từ năm 1988 đến năm 1993. Hậu quả là xuất khẩu của Mexico chịu ảnh hưởng bất lợi trong khi nhập khẩu được thúc đẩy, dẫn tới 13 Mexico bị thâm hụt cán cân thương mại, từ 2,6% GDP vào giữa năm 1989 lên 5% vào năm 1993.
Sự thâm hụt này chủ yếu được bù đắp bằng vay nợ ngắn hạn nước ngoài. Năm 1994, một loạt sự kiện an ninh trong nước (bầu cử tổng thống, sự nổi dậy của lực lượng vũ trang Zapatistas, ứng cử viên tổng thống Colosio bị ám sát) đã khiến hoảng loạn tài chính xảy ra. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã giảm nhu cầu về chứng khoán của Mexico khiến cho dòng vốn vào Mexico suy giảm. Thêm vào đó là sức ép của các khoản nợ đáo hạn vào năm 1995.
Peso chịu sức ép mất giá và chính phủ đã tung khoảng 10 tỷ USD dự trữ ngoại hối nhà nước ra để bảo vệ tỷ giá danh nghĩa. Khi lãi suất trái phiếu chính phủ định danh bằng peso có xu hướng tăng, chính phủ đã một mặt dùng dự trữ ngoại hối để chống lại xu hướng tăng lãi suất, một mặt tiến hành đổi các trái phiếu chính phủ từ định danh bằng peso sang định danh bằng USD. Đối phó với việc giá peso quá cao so với USD, chính phủ Mexico chọn biện pháp vừa dùng dự trữ ngoại hối để giữ ổn định tỷ giá, vừa từng bước tiến hành phá giá peso theo từng biên độ nhỏ. Các nhà đầu tư trở nên lo ngại về sự bền vững của nền kinh tế Mexico.
Thị trường chứng khoán Mexico chao đảo. Thêm vào đó là hiện tượng lãi suất quốc tế tăng lên kích thích các nhà đầu tư điều chỉnh danh mục đầu tư của mình theo hướng giảm đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển. Các nhà đầu tư rút vốn khỏi Mexico, đồng peso bị mất giá mạnh, trong khi dự trữ ngoại hối của Mexico không còn nhiều. Kết quả là chính phủ đành tuyên bố thả nổi đồng peso, nền kinh tế Mexico rơi vào khủng hoảng thật sự.
Nợ nước ngoài của Mexico vượt quá 200 tỷ USD. Lạm phát ít nhất lên tới 60%, thất nghiệp từ 3,6% tăng lên xấp xỉ 10%. Tốc độ tăng trưởng năm 14 1995 là -6,2%. Khi đó chính quyền Mexico phải kêu gọi cộng đồng quốc tế giúp đỡ Mexico thoát khỏi cuộc khủng hoảng.Nguyên nhân: Có thể nói, như hầu hết các cuộc khủng hoảng tài chính khác, nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém và việc điều hành chính sách của chính phủ chính là nguyên nhân ban đầu của khủng hoảng tài chính Mexico.
Đầu tiên là việc Mexico thực hiện chế độ neo tỷ giá vào đồng USD. Việc duy trì tỷ giá hối đoái cố định quá lâu này chính là nguyên nhân chính của tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán, đồng thời khi kết hợp với mức lãi suất hấp dẫn của Mexico đã khiến cho giá trị thực của đồng peso bị lên giá khi các dòng vốn nước ngoài ồ ạt chảy vào. Sau đó là một cơ cấu nợ với chủ yếu là nợ ngắn hạn nước ngoài khiến cho Mexico gặp khó khăn về thanh khoản khi dòng vốn nước ngoài vào nền kinh tế đột ngột suy giảm. Kế đến là tình trạng mong manh của hệ thống ngân hàng khiến chính phủ phải sử dụng chính sách tăng tín dụng nội địa để chống lại việc giảm dự trữ ngoại hối, dẫn đến sự không nhất quán giữa chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ.
Với một nền tảng vĩ mô bộc lộ nhiều nguy co rủi ro của Mexico, biến động chính trị và tác động của việc rút vốn của các nhà đầu tư đã khiến cho cuộc khủng hoảng đồng peso bùng phát. Như vậy, chúng ta có thể thấy rõ nguyên nhân của khủng hoảng luôn xuất phát từ nền tảng kinh tế vĩ mô, tức là cái gốc căn bản của nền kinh tế. Một nền tảng vĩ mô tốt sẽ là một lá chắn hữu hiệu giúp cho nền kinh tế - tài chính vượt qua những giai đoạn kinh tế khó khăn. Ngược lại, một nền tảng 15 vĩ mô tiềm ẩn nhiều nguy cơ sẽ có cơ hội bùng phát thành rủi ro khủng hoảng khi bị châm ngòi bởi những biến động trong nền kinh tế.
Chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn điều này khi tiếp tục xem xét cuộc khủng hoảng tài chính Thái Lan năm 1997.Khủng hoảng tài chính Thái Lan 1997: 1.Diễn biến khủng hoảng: Thái Lan thực thi một chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu từ thập niên 80 bằng cách cố định giá trị đồng baht vào USD và cho phép tự do lưu chuyển vốn. Tăng trưởng GDP cộng với mức lãi suất trong nước cao hơn quốc tế để thu hút đầu tư đã khiến cho các dòng vốn đổ vào Thái Lan, tạo sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, Thái Lan thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát.
Chính sách vô hiệu hóa được áp dụng để chống lạm phát lại tạo điều kiện cho các dòng vốn đầu tư tài chính chảy vào nền kinh tế. Việc FED nâng lãi suất của Mỹ để ngăn chặn lạm phát đã khiến cho đồng USD tăng giá, và do đồng baht được neo vào USD, nên xuất khẩu của Thái Lan trở nên kém cạnh tranh, khiến cho cán cân thương mại của Thái Lan bị thâm hụt. Để bù đắp thâm hụt thương mại và có vốn đầu tư cho nền kinh tế, Thái Lan tăng cường vay nợ nước ngoài. Kết quả là trong tổng số vốn nước ngoài thuần đã đổ vào Thái Lan thời kỳ 1991 – 1996 là 85.293 tỷ USD thì đầu tư gián tiếp chiếm 19,23% và tín dụng, vay ngắn hạn chiếm đến 70,4%, đặc biệt, nợ ngắn hạn vào thời điểm tháng 6 năm 2007 gấp 1,5 lần dự trữ ngoại hối quốc gia.
Nhận thấy đồng baht đang bị định giá cao hơn 30% so với giá trị thực và cơ chế tự do hóa tài khoản vốn của Thái Lan, các tổ chức tài chính đã thực 16 hiện tấn công đồng baht bằng các hợp đồng bán khống. Dự trữ ngoại hối của Thái Lan cạn kiệt. Lo ngại về việc chính phủ không còn đủ khả năng để duy trì tỷ giá, các tổ chức tài chính và nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn khỏi Thái Lan. Khủng hoảng tài chính nổ ra và Thái Lan phải thả nổi đồng baht.