Chương I: Quan niệm về rủi ro quốc gia Trang: 15 không công bằng, trong khi Moody's phủ nhận và xác nhận rằng những lý do cho việc hạ thấp mức tín nhiệm là do "gánh nặng nợ tăng thêm" của Nhật. - Các nhân tố không xác định: thông thường việc xếp hạng đạt được bằng cách tổng hợp các biến số kinh tế, tài chính và chính trị. Một cách rõ hơn, mục tiêu chính của bất kỳ hệ thống xếp hạng rủi ro quốc gia là thể hiện tính tin cậy của các quốc gia, nghĩa là năng lực để thanh toán các khoản vay. Tuy nhiên, thật không rõ ràng để biết được nhân tố nào trong nhiều nhân tố khả thi ảnh hưởng thực sự đến năng lực hoàn trả của một quốc gia.
Haque (1998) tuyên bố rằng phạm vi phân tích chỉ giới hạn ở các nhân tố kinh tế và tài chính, trong khi những người khác (Brewer và Rivoli, 1990) cho rằng cả nhân tố kinh tế, tài chính và chính trị ảnh hưởng đến xếp hạng rủi ro quốc gia. - Những thất bại trong việc xếp hạng: một vài thất bại gần đây đã thách thức sự tin tưởng đối với việc xếp hạng rủi ro quốc gia. Những phê phán nhắm vào các định chế xếp hạng đã trở nên đặc biệt dữ dội sau cuộc khủng hoảng châu Á và Mexico. Thực vậy, cuộc khủng hoảng ở Mexico (1994-1995) đã không được đến trước bởi một sự sụt giảm hạng mức tín nhiệm, nghĩa là khủng hoảng đã không được dự báo.
Tương tự là cuộc khủng hoảng châu Á 1997-1999. Mặt khác, các cơ quan xếp hạng đã sáng suốt trong việc đoán trước các cuộc khủng hoảng ở Nga (1998), Brazil (1998), và Argentina (2001). - Khuynh hướng khu vực: các giải thích khác nhau đã được cung cấp cho thất bại của các cơ quan xếp hạng trong việc báo hiệu tình trạng khủng hoảng trong các quốc gia khác nhau. Có những xác nhận rằng một cơ quan xếp hạng ưu đãi, thiên vị một vài khu vực.
Chẳng hạn, Haque (1997) lưu ý rằng Euromoney thường xếp hạng cao hơn đối với các quốc gia châu Á và châu Au so với các quốc gia Mỹ Latin và Caribê, trong khi Institutional Investors thì thường rộng rãi hơn đối với các quốc gia châu Á và châu Au so với các quốc gia châu Phi. - Sự chậm trễ: một tồn tại của hệ thống xếp hạng là thời gian để phản ứng đối với các sự kiện mới. Theo tờ "The Economist" (1/8/1998), các cơ quan xếp hạng có vẻ chậm chạp trong việc hạ thấp hạng mức tín nhiệm của Nhật. Thị trường đã di chuyển trước các cơ quan này.
- Sự phản ứng thái quá: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF chỉ trích các cơ quan xếp hạng rằng họ đã phản ứng trong hoảng loạn suốt cuộc khủng hoảng châu Á. Sau khi thất bại trong việc dự báo cuộc khủng hoảng châu Á, các cơ quan xếp hạng Chương I: Quan niệm về rủi ro quốc gia Trang: 16 phản ứng lại bằng cách hạ mức tín nhiệm một cách cay nghiệt đối với các quốc gia như Thái Lan hay Hàn Quốc, do đó làm tăng thêm sự rút vốn. Trong tình huống này, các cơ quan xếp hạng đem lại một cảm giác của sự phản ứng thái quá thay vì là một sức mạnh để tạo sự ổn định. Hình như tính khách quan và tính tin cậy của xếp hạng rủi ro quốc gia là đáng ngờ, chủ yếu bởi vì sự can thiệp cảm tính và mâu thuẫn trong mục tiêu và quyền lợi.
- Tác động bất lợi của những thay đổi hạng mức tín nhiệm: có một sự lưỡng lự hay miễn cưỡng của các nhà xếp hạng khi hạ mức tín nhiệm của một quốc gia. Sự miễn cưỡng này xuất phát từ sự thật rằng một công bố hạ mức tín nhiệm có thể dồn một quốc gia vào khủng hoảng. Trong suốt cuộc khủng hoảng châu Á, các cơ quan xếp hạng đã tạo nên sự bất mãn của thủ tướng Malaysia, tiến sĩ Mahathir bin Mohamad, người lên án và buộc tội họ với việc đưa cuộc khủng hoảng thêm phần trầm trọng. "Các cơ quan xếp hạng, khi chúng ta cần vay tiền thì ngay lập tức họ hạ mức tín nhiệm, vì thế làm cho chi phí vay mượn đến 15%.
Họ hoàn toàn chấm dứt việc vay mượn của chúng ta", thủ tướng Malaysia đã phát biểu (1999). Reisen và Von Maltzan (1999) tuyên bố rằng một sự hạ thấp mức tín nhiệm thình lình sẽ cản trở các ngân hàng thương mại phát hành thư tín dụng và buộc các nhà đầu tư trút gánh nặng vào tài sản châu Á để duy trì danh mục đầu tư ở cấp độ đầu tư. Họ cho rằng các cơ quan xếp hạng luôn chậm chễ phía sau khi lường trước tình trạng của thị trường tài chính nên khi hạ thấp mức tín nhiệm họ làm tăng thêm dòng vốn ra và khủng hoảng. - Các xung đột về lợi ích: các cơ quan xếp hạng đã bắt đầu thu phí đối với các quốc gia được xếp hạng.
Vì vậy có thể hoài nghi về việc miễn cưỡng hạ thấp mức tín nhiệm của các quốc gia này (bởi vì khả năng gây giảm sút nguồn thu của các cơ quan xếp hạng). Chảng hạn, điều này được tuyên bố bởi Tom McGuire, trợ lý phó chủ tịch Moody's, rằng "áp lực từ phí chi trả của nhà phát hành (người được xếp hạng) cho mức xếp hạng cao luôn trong một sự cân bằng mỏng manh với nhu cầu của cơ quan xếp hạng giữ được sự tín nhiệm trong các nhà đầu tư". Sự cần thiết phải làm hài lòng những người chi trả cho việc xếp hạng, nhà đầu tư cũng như nhà phát hành, dẫn tới việc Robert Grossman, giám đốc tín dụng của cơ quan xếp hạng Fitch, gọi là "một khuynh hướng được thực hiện đối với nhà đầu tư - các uỷ ban xếp hạng, viễn cảnh,hội nghị, sau đó là thông cáo báo chí - tất cả để làm mềm lòng tai họa của việc thay đổi xếp hạng". Chương I: Quan niệm về rủi ro quốc gia Trang: 17 Nghiên cứu việc chuyển tiếp xếp hạng, Altman và Saunders (1998) cho rằng một sự hạ thấp mức tín nhiệm của một quốc gia thông thường được tiếp nối theo sau bởi những điều chỉnh đi xuống thêm nữa.
Giả thích được đưa ra là các cơ quan xếp hạng dần dần hạ mức xếp hạng của một quốc gia vì họ không muốn làm tổn thương quốc gia đó, vì quốc gia này cũng là khách hàng của họ. Kunczik (2001) chỉ ra rằng IMF (1999) lo sợ mối nguy hiểm "các nhà phát hành và các trung gian có thể bị khuyến khích thu hút vào quá trình tranh đua xếp hạng - một quá trình mà nhà phát hành tìm kiếm cho việc xếp hạng với chi phí thấp nhất và điều kiện đòi hỏi ít nhất. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Rủi ro quốc gia là các nhân tố trong một quốc gia tác động đến quá trình đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự chu chuyển vốn quốc tế diễn ra mạnh mẽ.
Vì thế rủi ro quốc gia trở thành một vấn đề cần phải được xem xét tại các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Các phân loại rủi ro quốc gia cũng giúp chúng ta hiểu ro bản chất và sự tác động của các nhân tố vĩ mô. Thêm vào đó, những hiểu biết về xếp hạng rủi ro quốc gia sẽ giúp kiểm soát được những tác động bất lợi do việc xếp hạng mang lại. Tuy nhiên, các xếp hạng rủi ro quốc gia chủ yếu mang tính chất trình bày thông tin tóm gọn về rủi ro quốc gia chứ chưa mang tính phân tích rủi ro quốc gia và đôi khi việc xếp hạng phụ thuộc quá nhiều vào cơ quan xếp hạng.
Do đó, một phương pháp có thể sử dụng để đánh giá rủi ro quốc gia là beta quốc gia mà nền tảng được dựa trên mô hình định giá tài sản vốn quen thuộc trong lĩnh vực đầu tư. Đề tài sẽ trình bày việc sử dụng mô hình này trong chương 3. Chương I: Quan niệm về rủi ro quốc gia Trang: 18 CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ RỦI RO QUỐC GIA Trong thập niên vừa qua, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nổi bật, trở thành một địa điểm đáng ý trên bản đồ kinh tế khu vực châu Á. Sau đây, chúng ta sẽ nhận xét về một số thành quả đáng chú ý về kinh tế - xã hội Việt Nam đạt được trong thời gian qua dưới góc độ nhận định rủi ro quốc gia.1 Nhận định về rủi ro kinh tế: 2.1 Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua rất ấn tượng.
GDP tăng trưởng bình quân trên 7%/năm, đứng thứ 2 về tốc độ tăng trưởng chỉ sau Trung Quốc. Chẳng hạn, nền kinh tế đã phát triển 8% trong năm 2006 (so với ước tính của chính phủ là 8,2%), cao hơn xu hướng tăng trưởng trong 5 năm trước đó.1: Tăng trưởng GDP từ 2002 đến 2008 Nguồn: Asian Development Outlook 2007 (số liệu 2008 là dự báo) Cầu lớn đối với xuất khẩu hàng hóa, dầu thô, và hàng sản xuất. Đầu tư tư nhân và tiêu dùng cá nhân được ghi nhận ở mức tăng cao. Tăng trưởng trong tiêu dùng cá nhân có được là nhờ sự gia tăng thu nhập và lượng kiều hối khoảng 4 tỷ USD.
Doanh thu bán lẻ hàng hóa dịch vụ cũng tăng 20% trong năm 2006 (tức khoảng 13% sau khi điều chỉnh cho lạm phát, đồ thị 2. Chương II: Tình hình kinh tế Việt Nam dưới góc độ rủi ro quốc gia Trang: 19 Đồ thị 2.2: Tăng trưởng doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ Nguồn: Asian Development Outlook 2007 Mức độ đầu tư vẫn duy trì ở mức cao vào khoảng 39,4% GDP trong năm 2006. Đầu tư tư nhân được khuyến khích bởi việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh và hướng tới đối xử công bằng giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Khu vực tư nhân trong nước ghi nhận khoảng 33,6% tổng mức đầu tư trong năm 2006 (đồ thị 2.
Tỷ lệ này tăng nhanh chóng từ mức 22,6% trong 5 năm trước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cam kết tăng đến 10,2 tỷ USD trong năm 2006, mức cao nhất kể từ khi mở cửa nền kinh tế. Với mức tăng trưởng cao hơn so với năm trước, nền kinh tế đã đạt được 7,9% tăng trưởng trong nữa đầu năm 2007 với gần như là từ công nghiệp (3,9%) và dịch vụ (3,4%) giá trị sản xuất. Giá trị sản xuất công nghiệp tư nhân gia tăng 20,5%, lớn hơn gấp đôi so với các doanh nghiệp quốc doanh.