mở đầu hƣớng nghiên cứu về mạng danh với định nghĩa: “Mạng danh là nhân danh do mỗi thành viên (chủ tài khoản) của một mạng xã hội ảo tự đặt cho mình bằng tổ hợp tùy thích các chữ cái, chữ số, từ, ngữ để sử dụng trong giao tiếp phi trực diện (ảo) trên mạng” [15, tr. Ông cũng tiến hành phân loại mạng danh, xác định vị trí của mạng danh trong hệ thống nhân danh và luận chứng về cơ sở ngôn ngữ - văn hóa học của mạng danh tiếng Việt. Trên bình diện ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến các vấn đề: chức năng, chính tả, cấu tạo và ý nghĩa của tên ngƣời Việt. Các 13 tác giả tiêu biểu trên bình diện này gồm: Lê Anh Hiền (1972), Trần Ngọc Thêm (1976), Nguyễn Văn Thạc (1979), Nguyễn Huy Minh (1993), Dƣơng Kỳ Đức (1998), Lê Trung Hoa (2002), Phạm Tất Thắng (1996, 2003, 2004, 2011), Nguyễn Việt Khoa (2010), Nguyễn Văn Khang (2016) [59] [23] [47] [68] [14] [27][59][62][63][64][170][39].
Về chức năng của tên ngƣời, Trần Ngọc Thêm (1976) cho rằng tên ngƣời có 5 chức năng cơ bản nhƣ: chức năng phân biệt, chức năng biệt giới, chức năng thẩm mĩ, chức năng bảo vệ và cuối cùng là chức năng xã hội [68, tr. Về phƣơng diện chính tả, các nghiên cứu tập trung vào thảo luận về cách viết hoa tên ngƣời. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất viết hoa tất cả các âm tiết trong tên ngƣời và giữa các âm tiết không dùng dấu gạch nối, nhƣ trong Bản dự thảo về quy tắc viết hoa do Viện Ngôn ngữ học đề xuất năm 1972 [93]. Về phƣơng diện cấu tạo, theo Phạm Tất Thắng (1996), tên chính danh của ngƣời Việt (Kinh) là một đơn vị định danh có dạng một tổ hợp gọi là tổ hợp định danh tên ngƣời.
Một tổ hợp định danh tên ngƣời đầy đủ gồm 3 danh tố là họ, đệm và tên cá nhân. Mỗi danh tố là một đơn vị có cấu trúc – chức năng riêng. Chúng là những kí hiệu định danh có giá trị định danh riêng biệt. Mỗi danh tố có thể đƣợc tạo thành từ các thành tố.
Một tổ hợp định danh tên ngƣời trong tiếng Việt có bao nhiêu âm tiết (tiếng) thì có bấy nhiêu thành tố. Nếu dựa vào độ dài (số lƣợng âm tiết/tiếng) của tổ hợp định danh tên ngƣời thì trong tiếng Việt có 5 kiểu tên (2 thành tố, 3 thành tố, 4 thành tố, 5 thành tố và 6 thành tố). Nếu dựa vào đặc trƣng cấu tạo thì tên ngƣời trong tiếng Việt có 13 khuôn cấu trúc [59, tr. Qua tìm hiểu sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu tên riêng ngƣời Việt, chúng tôi rút ra một số vấn đề sau: i.
Khoa học về tên riêng (danh xưng học) ở Việt Nam - Thứ nhất, về định lượng: Theo các danh sách, tài liệu tham khảo mà chúng tôi thu thập đƣợc, số lƣợng các bài báo, bài viết, báo cáo khoa học, sách chuyên về tên riêng của 14 các tác giả Việt Nam còn hạn chế (không quá 300 công trình). Trong đó, phải kể đến tác giả Phạm Tất Thắng có hơn 50 công trình công bố về tên riêng, đặc biệt là tên ngƣời (nhân danh học). So với nội dung nghiên cứu về danh xƣng học rộng lớn và còn nhiều khoảng trống thì số lƣợng công trình nhƣ vậy còn quá ít. - Thứ hai, về định tính: Các ấn phẩm về tên riêng của các tác giả Việt Nam phần lớn chỉ mang tính chất miêu tả cụ thể và còn tản mạn, thể hiện qua tiêu đề của các bài viết nhƣ: “bàn thêm”, “nhận xét”, “vài nhận xét”, “một số ý kiến”, “thử tìm hiểu”, “vài nét”, “về”,…Những công trình mang tính học thuật, chuyên sâu còn hạn chế.
Sách chuyên khảo, giáo trình, đề tài nghiên cứu về tên riêng (danh xƣng học) hoặc tên ngƣời (nhân danh học) bằng tiếng Việt gần nhƣ chƣa có, ngoại trừ cuốn: Họ và tên người Việt Nam (1992) và Nhân danh học Việt Nam (2013) của Lê Trung Hoa hay đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện Từ Hán Việt với tên chính người Việt (2016) của Nguyễn Văn Khang [27][29][39]. Các phương diện/góc độ nghiên cứu tên riêng Tên riêng, do bản chất của mình là một sự vật đa diện. Nó có thể là đối tƣợng nghiên cứu đơn ngành của danh xƣng học hay của ngôn ngữ học hoặc của sử học. Nó cũng có thể là đối tƣợng nghiên cứu liên ngành, chẳng hạn, ngôn ngữ học với sử học, ngôn ngữ học với dân tộc học/nhân học, ngôn ngữ học với xã hội học hoặc với văn hóa học.
Mỗi công trình nghiên cứu danh xƣng học dù ít hay nhiều vẫn thƣờng phải sử dụng đến các cứ liệu của các ngành khác nhƣ địa lí học, khảo cổ học,…Hoặc nếu nghiên cứu tên riêng từ phƣơng diện ngôn ngữ học thì cũng phải xem xét chẳng những về góc độ từ vựng học, mà cả về ngữ âm học, ngữ pháp học, văn tự học,… iii. Các vấn đề của tên riêng Tên riêng có thể đƣợc nghiên cứu theo các vấn đề chủ yếu sau: bản chất (định nghĩa, nhận diện), phân loại, cấu tạo/cấu trúc, chính tả, ngữ pháp,…Ở Việt Nam, do danh xƣng học và nhân danh học chƣa tồn tại nhƣ những ngành khoa học độc lập nên những vấn đề này chủ yếu đƣợc giới ngôn ngữ học quan tâm. Tuy vậy, những vấn đề nhƣ bản chất, định nghĩa, nhận diện cũng chỉ 15 đƣợc một số rất ít nhà nghiên cứu quan tâm (Nguyễn Tài Cẩn [1975], Đỗ Hữu Châu [1993], Phạm Tất Thắng [2004],…) [2][5][63]. Vấn đề phân loại tên riêng cũng chỉ đƣợc một số ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ học bàn tới (Hoàng Tuệ [1996], Phạm Tất Thắng [2003], Dƣơng Kỳ Đức [2017],…).
Chẳng hạn, theo Hoàng Tuệ, có 5 loại tên riêng (1/tên ngƣời, 2/ tên nơi chốn, 3/ tên thời kì, thời điểm, sự kiện lịch sử, 4/ tên tổ chức, 5/ tên công trình); theo Phạm Tất Thắng có 11 loại (1/ tên ngƣời, 2/ tên động vật, 3/ tên thực vật, 4/ tên gọi các hiện tƣợng tự nhiên, 5/ tên gọi các công trình kiến trúc, 6/ tên gọi các phƣơng tiện giao thông, 7/ têm gọi các đơn vị hành chính, 8/ tên các cơ quan tổ chức, 9/ tên các sản phẩm, hàng hóa, 10/ tên gọi sách báo, 11/ tên gọi các văn bản hành chính); Còn Dƣơng Kỳ Đức lại tìm ra 30 kiểu loại tên riêng [82][62, tr. Còn các vấn đề khác về tên riêng nhƣ: cấu tạo/ cấu trúc, chính tả thì đƣợc bàn đến rộng rãi, chủ yếu trong giới ngôn ngữ học. Qua nghiên cứu những vấn đề trên, các nhà khoa học thƣờng rút ra đƣợc rất nhiều điều hữu ích về mặt tâm lí – xã hội và văn hóa của cộng đồng ngƣời Kinh và các dân tộc thiểu số anh em. Chẳng hạn, qua ý nghĩa của tên ngƣời, tên đất cụ thể nào đó, cũng nhƣ lí do đặt ra các tên riêng đó, ngƣời ta có thể nhận biết đƣợc nhiều điều về giá trị văn hóa, về lịch sử.
Việc nghiên cứu tên người (nhân danh) ở Việt Nam Trong điều kiện hiện nay, việc nghiên cứu tên ngƣời (nhân danh) ở Việt Nam có một số đặc điểm nhƣ sau: - Một là, chủ yếu nghiên cứu tên riêng (nhân danh) của ngƣời Việt/Kinh nói chung. Hiện nay có 01 công trình về tên riêng các dân tộc khác, chẳng hạn nhƣ Các dân tộc Việt Nam - Cách dùng họ và đặt tên của Nguyễn Khôi năm 2006 [41]. - Hai là, các công trình chƣa có sự đi sâu nghiên cứu theo giới (nam, nữ). Hiện có 2 công trình về tầng lớp, giai cấp, chẳng hạn Hoàng tộc Nguyễn của Thái Văn Kiểm (1963) hay Đặc trưng văn hóa xã hội – ngôn ngữ học của tên riêng chỉ người trong tiếng Việt của Vũ Thị Kim Thoa (2005) [43] [79].
16 - Ba là, các công trình chủ yếu nghiên cứu tên riêng trong phạm vi tiếng Việt, ít công trình so sánh – đối chiếu đa ngữ. Có một vài luận văn thạc sĩ nhƣ Đặc điểm tên người Hán hiện nay (Đối chiếu với tên người Việt) của Mông Lâm (2010) hay Đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của tên chính danh người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt) của Vƣơng Đình Hòa (2005),… [44][30]. Đáng kể nhất trong các công trình so sánh đối chiếu đa ngữ là luận án tiến sĩ của Nguyễn Việt Khoa (2010) tại Anh Một bước tiếp cận liên văn hóa tới vấn đề nhân danh: tên cá nhân trong hệ thống tên riêng người Việt và người Anh [170]. Tuy nhiên, công trình này chỉ giới hạn nghiên cứu một phần trong tổ hợp định danh tên ngƣời Anh và ngƣời Việt, đó là phần tên cá nhân mà không đối chiếu phần tên họ và tên đệm.
Tình hình nghiên cứu tên nữ giới ở Việt Nam Mặc dù, tình hình nghiên cứu về tên ngƣời ở Việt Nam ngày càng phát triển nhƣng những công trình chuyên nghiên cứu về tên nữ giới ngƣời Việt còn rất hạn chế. Có thể kể đến Dƣơng Xuân Đống, một trong số ít ngƣời đã có những công trình công bố về tên nữ giới. Trong bài Từ Thị trong họ tên người phụ nữ Việt Nam tác giả đã luận giải về ý nghĩa của từ “Thị” và đƣa ra các quan điểm về nguồn gốc của từ “Thị” trong tên nữ giới ngƣời Việt cũng nhƣ xu thế sử dụng từ “Thị” làm tên đệm trong việc đặt tên cho nữ giới [11, tr. Xét cho cùng, đây vẫn chỉ là bài nghiên cứu từ một góc độ rất nhỏ nhƣng mang tính đặc trƣng về tên nữ giới trong nhân danh Việt.
Nhƣ vậy có thể thấy, tình hình nghiên cứu tên ngƣời Anh (nhân danh học Anh) và tên ngƣời Việt (nhân danh học Việt) trong hơn nửa thế kỉ qua đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, những thành tựu đó phần lớn xuất phát chủ yếu từ bình diện dân tộc học hay xã hội học. Những công trình nghiên cứu về tên ngƣời trên bình diện ngôn ngữ học vẫn còn khá khiêm tốn. Một điểm chung trong tình hình nghiên cứu nhân danh ở cả Anh và Việt Nam là những công trình chuyên nghiên cứu về tên nữ giới còn hạn chế, đặc biệt gần nhƣ chƣa thấy những công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu tên nữ giới giữa các ngôn ngữ, giữa các cộng đồng văn hóa - xã hội với nhau.
17 Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu “Đối chiếu tên nữ giới người Anh và người Việt”. Cơ sở lí thuyết Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, tên riêng thuộc hệ thống từ vựng nhƣng bản thân nó có thể tự hình thành một kiểu loại riêng biệt bao gồm tên ngƣời và tên các sự vật hiện tƣợng khác.