Luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh rủi ro cảm nhận và ý định sử dụng thẻ tín dụng tại việt na

Luận án tiến sĩ nghiên cứu rủi ro cảm nhận và ý định sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng.

Trường đại học

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

245
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Điểm mới của luận án

1.7. Ý nghĩa của luận án

1.7.1. Đóng góp về mặt lý thuyết

1.7.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

1.8. Kết cấu của nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Hành vi tiêu dùng và ý định sử dụng

2.2. Mô hình kích thích chủ thể phản hồi

2.3. Các lý thuyết về ý định sử dụng

2.4. Lý thuyết rủi ro cảm nhận

2.5. Chất lượng hệ thống thông tin

2.6. Tổng quan các nghiên cứu

2.6.1. Nghiên cứu về ý định sử dụng thẻ tín dụng

2.6.2. Nghiên cứu về rủi ro cảm nhận

2.6.3. Nghiên cứu về chất lượng cảm nhận

2.7. Khoảng trống lý thuyết cho nghiên cứu

2.8. Mô hình nghiên cứu

2.8.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.8.2. Các giả thuyết nghiên cứu

2.9. Tóm tắt chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Phương pháp phân tích dữ liệu

3.2.1. Kiểm định độ tin cậy thang đo CR’s alpha

3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA

3.2.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA

3.2.4. Phân tích mô hình phương trình cấu trúc SEM

3.2.5. Kỹ thuật Bootstrap

3.2.6. Phân tích phương sai

3.3. Thang đo tham khảo

3.3.1. Thang đo chất lượng hệ thống thông tin

3.3.2. Thang đo rủi ro cảm nhận

3.3.3. Thang đo hữu dụng cảm nhận

3.3.4. Thang đo dễ sử dụng cảm nhận

3.3.5. Thang đo ý định sử dụng

3.4. Nghiên cứu định tính

3.4.1. Thiết kế nghiên cứu

3.4.2. Kết quả nghiên cứu định tính

3.5. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.5.1. Thiết kế nghiên cứu

3.5.2. Kết quả đánh giá sơ bộ thang đo

3.6. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.6.1. Thiết kế nghiên cứu

3.6.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

3.7. Tóm tắt chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu

4.1.1. Mô tả mẫu nghiên cứu chính thức

4.1.2. Kiểm định độ tin cậy thang đo CR’s alpha

4.1.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

4.1.4. Phân tích nhân tố khẳng định CFA

4.1.5. Phân tích mô hình phương trình cấu trúc SEM

4.1.6. Ước lượng mô hình bằng Bootstrap

4.1.7. Phân tích phương sai một chiều ANOVA

4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.2.1. Chất lượng hệ thống thông tin

4.2.2. Rủi ro cảm nhận

4.2.3. Hữu dụng cảm nhận

4.2.4. Dễ sử dụng cảm nhận

4.3. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.1. Hàm ý quản trị

5.1.1. Nhóm kiến nghị liên quan đến hữu dụng cảm nhận

5.1.2. Nhóm kiến nghị liên quan đến dễ sử dụng cảm nhận

5.1.3. Nhóm kiến nghị liên quan đến rủi ro giao dịch điện tử

5.1.4. Nhóm kiến nghị liên quan đến rủi ro thanh toán

5.1.5. Nhóm kiến nghị liên quan đến rủi ro tín dụng

5.1.6. Nhóm kiến nghị liên quan đến chất lượng thông tin

5.1.7. Nhóm kiến nghị liên quan đến chất lượng hệ thống

5.1.8. Nhóm kiến nghị liên quan đến chất lượng dịch vụ

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.2.1. Hạn chế của luận án

5.2.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ với chủ đề 'Rủi ro cảm nhận và ý định sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam' là một nghiên cứu chuyên sâu nhằm khám phá cấu trúc đa chiều của rủi ro cảm nhận và vai trò trung tâm của nó trong mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tiný định sử dụng thẻ tín dụng. Nghiên cứu này tập trung vào thị trường Việt Nam, nơi mà thẻ tín dụng đang dần trở thành công cụ tài chính phổ biến. Luận án đã phát triển và kiểm định thang đo lường các khái niệm liên quan đến hành vi tiêu dùngquản lý rủi ro, đồng thời xây dựng một mô hình lý thuyết để phân tích sự tác động của các yếu tố này.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án tiến sĩ là khám phá cấu trúc đa chiều của rủi ro cảm nhận và vai trò của nó trong việc ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng. Nghiên cứu cũng nhằm xác định mối quan hệ giữa chất lượng hệ thống thông tinrủi ro cảm nhận, từ đó đề xuất các giải pháp để cải thiện ý định sử dụng của người tiêu dùng. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mẫu khảo sát gồm 538 khách hàng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

1.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Luận án tiến sĩ tập trung vào thị trường Việt Nam, nơi mà thẻ tín dụng đang dần trở nên phổ biến. Đối tượng nghiên cứu chính là người tiêu dùng sử dụng thẻ tín dụng tại các ngân hàng lớn. Nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố như tài chính cá nhân, hành vi tiêu dùng, và quản lý rủi ro để đưa ra các phân tích toàn diện.

II. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Luận án tiến sĩ dựa trên các lý thuyết về hành vi tiêu dùng, ý định sử dụng, và rủi ro cảm nhận. Nghiên cứu đã tổng quan các lý thuyết như mô hình kích thích chủ thể phản hồi (S-O-R), lý thuyết rủi ro cảm nhận, và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Từ đó, luận án đề xuất một mô hình nghiên cứu mới, trong đó rủi ro cảm nhận đóng vai trò trung gian giữa chất lượng hệ thống thông tiný định sử dụng thẻ tín dụng.

2.1. Lý thuyết rủi ro cảm nhận

Lý thuyết rủi ro cảm nhận là nền tảng chính của luận án tiến sĩ. Nghiên cứu phân tích rủi ro cảm nhận từ ba khía cạnh: rủi ro giao dịch, rủi ro thanh toán, và rủi ro tín dụng. Các yếu tố này được xem xét trong mối quan hệ với ý định sử dụng thẻ tín dụngchất lượng hệ thống thông tin. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro cảm nhận có tác động đáng kể đến ý định sử dụng.

2.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

Luận án tiến sĩ đề xuất một mô hình nghiên cứu mới, trong đó chất lượng hệ thống thông tin tác động đến rủi ro cảm nhận, và rủi ro cảm nhận lại ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng. Mô hình này được kiểm định thông qua phương pháp phân tích dữ liệumô hình phương trình cấu trúc (SEM). Kết quả cho thấy 19 trong số 21 giả thuyết được chấp nhận, khẳng định tính phù hợp của mô hình.

III. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Luận án tiến sĩ sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với quy trình nghiên cứu chặt chẽ. Nghiên cứu bắt đầu với việc xây dựng thang đo các khái niệm, sau đó tiến hành nghiên cứu định tínhnghiên cứu định lượng sơ bộ để đánh giá thang đo. Cuối cùng, nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện với mẫu khảo sát gồm 538 khách hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng hệ thống thông tin có tác động tích cực đến ý định sử dụng thẻ tín dụng, trong khi rủi ro cảm nhận đóng vai trò trung gian quan trọng.

3.1. Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng được thực hiện với mẫu khảo sát gồm 538 khách hàng sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam. Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng để kiểm định mô hình nghiên cứu. Kết quả cho thấy chất lượng hệ thống thông tin có tác động tích cực đến ý định sử dụng, trong khi rủi ro cảm nhận đóng vai trò trung gian quan trọng.

3.2. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng hệ thống thông tin có tác động tích cực đến ý định sử dụng thẻ tín dụng, trong khi rủi ro cảm nhận đóng vai trò trung gian quan trọng. Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp để cải thiện ý định sử dụng, bao gồm nâng cao chất lượng hệ thống thông tin và giảm thiểu rủi ro cảm nhận của người tiêu dùng.

IV. Kết luận và hàm ý quản trị

Luận án tiến sĩ kết luận rằng rủi ro cảm nhận đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng đề xuất tám nhóm kiến nghị cho các ngân hàng nhằm cải thiện ý định sử dụng, bao gồm nâng cao chất lượng hệ thống thông tin và giảm thiểu rủi ro cảm nhận. Các kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo tốt cho các nghiên cứu thực nghiệm về hành vi sử dụng thẻ tín dụng và các sản phẩm tài chính ngân hàng khác.

4.1. Hàm ý quản trị

Luận án tiến sĩ đề xuất tám nhóm kiến nghị cho các ngân hàng nhằm cải thiện ý định sử dụng thẻ tín dụng. Các kiến nghị tập trung vào việc nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, giảm thiểu rủi ro cảm nhận, và cải thiện dịch vụ ngân hàng. Những đề xuất này có thể giúp các ngân hàng tăng cường sự hài lòng và ý định sử dụng của khách hàng.

4.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Luận án tiến sĩ cũng chỉ ra một số hạn chế, bao gồm phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào Việt Nam và mẫu nghiên cứu chưa đại diện cho toàn bộ thị trường. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các quốc gia khác và xem xét thêm các yếu tố như tâm lý khách hàngchiến lược marketing.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu.1 Vấn đề nghiên cứu Trong những năm gần đây, thị trường thẻ tín dụng Việt Nam trở nên sôi động với sự xuất hiện của các thương hiệu thẻ quốc tế như VISA, Master, JCB, CUP. Các ngân hàng Việt Nam (NHVN) dành một phần ngân sách để đầu tư, phát triển sản phẩm, dịch vụ thẻ, bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. Trong đó, thẻ tín dụng (TTD) được xem là công cụ tài chính với hai chức năng chính là thanh toán điện tử (TTĐT) và vay tiêu dùng (Kaynak và Harcar, 2001). Mỗi khi thanh toán hóa đơn bằng TTD, khách hàng được vay số tiền đúng bằng giá trị hóa đơn và có trách nhiệm hoàn trả trong thời gian quy định.

Cùng với thẻ ghi nợ, TTD được kỳ vọng là phương tiện TTĐT phổ biến nhất tại Việt Nam. Sự kỳ vọng của các NHVN khi triển khai hoạt động kinh doanh TTD xuất phát từ thị trường tiềm năng rộng lớn với gần 57,36 triệu người trong độ tuổi lao động. Báo cáo của Tổng cục Thống kê (2020) cho biết trình độ học vấn của người lao động Việt Nam được cải thiện, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong năm 2019 là 22,8% so với 14,8% trong năm 2009. Thu nhập bình quân năm 2019 của người Việt Nam là 2.715 USD/người, tăng hơn hai lần so với mức 1.317 USD/người trong năm 2010; tầng lớp trung lưu dự kiến đạt 26% vào năm 2026 tăng gấp đôi hiện nay.

Báo cáo chỉ số tài chính toàn cầu (Ngân hàng Thế giới, 2020b) cho thấy khoảng 40% người lao động Việt Nam có tiền tiết kiệm và sẵn sàng mua sắm nhằm cải thiện chất lượng sống bằng cách tham gia các chương trình tín dụng tiêu dùng để có thể trả góp cho khoản ứng trước cấp thiết (Đoàn, 2019). 1 Thẻ tín dụng đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào năm 1996. Từ đó trở đi, các NHVN không ngừng đầu tư nhằm phát triển hệ thống TTD và mạng lưới đơn vị chấp nhận thanh toán (ĐVCNTT). Ngân hàng kết hợp với nhà bán lẻ đưa ra các chương trình khuyến khích người tiêu dùng (NTD) phát hành và sử dụng TTD như là miễn phí phát hành, miễn phí thường niên cho năm đầu tiên và/hoặc các năm sau đó, tích lũy điểm thưởng đổi quà tặng hoặc hoàn tiền,.

Các dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT), ứng dụng thanh toán di động theo mã phản hồi nhanh (Quick Response Code - QR Code), giải pháp thanh toán giao tiếp cự ly gần (Near Field Communication - NFC). cũng được các NHVN tích hợp nhằm giúp khách hàng thanh toán bằng TTD dễ dàng. Kết quả là thị trường TTD Việt Nam đạt được một số kết quả về số lượng thẻ lưu hành và doanh số sử dụng thẻ. Cụ thể, tại thời điểm 31/12/2019, các NHVN đang lưu hành khoảng 4,9 triệu TTD trong tổng số 103 triệu thẻ ngân hàng các loại, tăng gần 900 nghìn thẻ (tương đương 22,5%) so với cuối năm 2018 (Hội thẻ Ngân hàng, 2020).

Với xấp xỉ 57,36 triệu người lao động, bình quân trong 12 người có 1 người sở hữu TTD (tỷ lệ 0,08 thẻ/người). Tỷ lệ sở hữu TTD trong dân cư năm 2019 tăng gần 20% so với năm 2018 và tăng hơn 200% so với năm 2015 (Phụ lục 1). Doanh số sử dụng TTD trong năm 2019 tiếp tục duy trì ở mức cao với tổng doanh số vượt trên 237 nghìn tỷ đồng (hơn 10,4 tỷ USD), bình quân mỗi TTD phát sinh doanh số 48,5 triệu đồng (hơn 2. Tuy nhiên, thị trường TTD Việt Nam vẫn còn thua kém khi so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tính đến ngày 31/12/2019, thị trường thế giới đang lưu hành khoảng 2,8 tỷ TTD; với lực lượng lao động 3,46 tỷ người (Ngân hàng Thế giới, 2020c), bình quân mỗi người lao động sở hữu 0,81 TTD. Tại Đông Nam Á, 326,8 triệu người lao động đang sử dụng 70,68 triệu TTD các loại, tỷ lệ sở hữu TTD tại đây là 0,22 thẻ/người, cao hơn mức 0,08 thẻ/người tại Việt Nam. Tương tự, doanh số sử dụng TTD bình quân tại Việt Nam cũng thấp (2.200 USD thẻ/năm) so với thế giới (6.530 USD/thẻ/năm) và các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore (Phụ lục 2). Báo cáo chỉ số tài chính toàn cầu (Ngân hàng Thế giới, 2020) chỉ ra rằng trong 1.000 lao động Việt Nam chỉ có 47 người sở hữu TTD.

Như vậy, chỉ 2,65 triệu người trong tổng số 57,36 triệu người lao động Việt Nam sở hữu TTD và bình quân mỗi người trong số họ 2 có 2 TTD. Con số này khá khiêm tốn so với hơn 9 triệu hộ gia đình sống ở thành thị với thu nhập và mức sống cao hoặc gần 46 triệu người có tài khoản ngân hàng, điều kiện tiên quyết để được phát hành TTD (Ngân hàng Nhà nước, 2020; Tổng cục Thống kê, 2020). Điều đó cũng có nghĩa là chỉ 2,65 triệu người này có cơ hội vay tiêu dùng từ ngân hàng thông qua TTD trong khi có tới 15,8 triệu người đang có nhu cầu vay với tổng tín dụng tiêu dùng hằng năm tăng trưởng ở mức 20%/năm (Đoàn, 2019). Trong bối cảnh TTD trở nên quen thuộc trong thanh toán tiêu dùng hằng ngày, đã có nhiều nghiên cứu ý định sử dụng (YDSD) được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín.

Các nghiên cứu này áp dụng hai hướng tiếp cận khác nhau trong tìm hiểu các tiền đề của YDSD. Một số tác giả phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên thành tựu của các nghiên cứu trước (Amendola và ctg., 2016; Lydia và ctg. Các nghiên cứu khác kế thừa khung lý thuyết hành vi tiêu dùng với các giả thuyết đã được kiểm chứng (Amin, 2013; Nguyen và Cassidy, 2018; Vương và Trịnh, 2017; Wang và Hsu, 2016). Một điểm đặc biệt là các nghiên cứu đều chú trọng chức năng TTĐT của TTD, kết quả là các khái niệm nghiên cứu được đo lường tương tự như trong các nghiên cứu về các dịch vụ điện tử.

Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên không xem xét chức năng vay tiêu dùng của TTD, cho dù đây là sự khác biệt lớn nhất của TTD so với thẻ ghi nợ hay ví điện tử. Sự khiếm khuyết này có thể làm giảm khả năng phản ánh hoặc không thể hiện được quan điểm của khách hàng về TTD. Kết quả tổng quan tài liệu về TTD chỉ ra sự tương đồng liên quan tới vai trò của hữu dụng cảm nhận (HDCN), dễ sử dụng cảm nhận (DSDCN) và chuẩn chủ quan đối với YDSD. Theo đó, NTD nhìn chung là hợp lý trong các quyết định của mình; họ dự định thực hiện hành vi khi họ đánh giá cao hiệu quả đạt được khi thực hiện hành vi đó (Nguyen và Cassidy, 2018; Tseng, 2016; Vương và Trịnh, 2017), đồng thời khi họ nhận thấy hành vi đó dễ dàng thực hiện và không cần nỗ lực nhiều cũng có thể hoàn thành (Jamshidi và Hussin, 2016; Sari và Rofaida, 2011; Wang và Hsu, 2016).

Yếu tố xã hội cũng được đề cao khi nhiều học giả cho rằng NTD là một tế bào của xã hội và họ sẵn sàng thực hiện hành vi khi các nhóm người quan trọng đối với họ đánh giá cao hành vi đó (Ali và ctg., 2017; Vương và Trịnh, 2017; Wang và Hsu, 2016). Tuy nhiên, các bài báo nói trên không thống 3 nhất về ảnh hưởng của rủi ro cảm nhận (RRCN) đối với YDSD. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng RRCN là rào cản quan trọng đối với YDSD (Amin, 2013; Trinh và ctg., 2020), một số khác phủ nhận sự ảnh hưởng nói trên (Tan và ctg. Nhận thức về rủi ro trong các nghiên cứu về TTD được đo lường theo quan điểm hậu quả tiềm tàng liên quan đến thanh toán hóa đơn mua hàng bằng TTD (Tan và ctg., 2014; Tseng, 2016; Trinh và ctg.

Quan điểm này giúp thể hiện mức độ e ngại NTD đến từng loại thiệt hại khác nhau có thể phát sinh khi thực hiện hành vi, nhưng làm thế nào để họ vượt qua sự e ngại đó để thực hiện hành vi lại đòi hỏi có sự am hiểu về nguồn gốc của các thiệt hại. Tuy nhiên, việc đo lường RRCN theo quan điểm nguồn gốc chỉ xuất hiện trong một vài nghiên cứu về thương mại điện tử (TMĐT) (Herrero và Martin, 2012; Lim, 2003; Park và ctg. Dựa trên đặc điểm cũng như cách sử dụng, rủi ro tiềm tàng về TTD có thể phát sinh từ hình thức thực hiện giao dịch cũng như hai chức năng thanh toán hóa đơn và vay tiêu dùng (Foscht và ctg., 2010; Turban và ctg. RRCN theo quan điểm nguồn gốc với các chiều rủi ro giao dịch điện tử (RRGD), rủi ro thanh toán (RRTT) và rủi ro tín dụng (RRTD) là vấn đề mới trong nghiên cứu về RRCN đối với ngành TTD.

Các trạng thái nhận thức về bản thân như HDCN, DSDCN và RRCN là nhân tố thúc đẩy/ức chế đối với hành vi tiếp cận/né tránh của mỗi cá nhân (Mehrabian và Russell, 1974). Nhận thức của mỗi người thay đổi theo ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường (Kim và Lennon, 2013; Mehrabian và Russell, 1974; Spangenberg và ctg. Bắt nguồn từ sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà cung cấp (NCC) dịch vụ điện tử, cá nhân có động lực thay đổi hành vi tiêu dùng từ truyền thống (trực tiếp) sang hiện đại (trực tuyến) (Turban và ctg. Đứng trước nhiều sự lựa chọn, cảm nhận về chất lượng do một hệ thống cụ thể mang lại có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi của NTD thông qua các trạng thái nhận thức của họ đối với hệ thống đó (Jin và Yong, 2005).

Vai trò tác nhân kích thích từ môi trường của chất lượng hệ thống thông tin (HTTT) đã được kiểm chứng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu (Chi và Sullivan, 2018; Choi và Choi, 2017b; Sharma và Sharma, 2019b). Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên chưa phản ánh đầy đủ ảnh hưởng của chất lượng HTTT đến RRCN và sau đó là YDSD, mối quan hệ này cũng chưa được xem xét trong ngành TTD. Nói cách khác, vai trò trung tâm của RRCN trong mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng HTTT và 4 YDSD là chủ đề mới trong khung lý thuyết hành vi đối với TTD tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Tóm lại, nghiên cứu về chất lượng HTTT, RRCN và YDSD là chủ đề nghiên cứu mới tại Việt Nam.

Hiện nay có rất ít nghiên cứu phản ánh một cách đầy đủ vai trò quyết định của chất lượng HTTT đối với RRCN cũng như tác động của RRCN đến YDSD trong ngành TTD. Bên cạnh đó, RRCN theo quan điểm nguồn gốc với các chiều RRGD, RRTT và RRTD là vấn đề mới trong nghiên cứu về RRCN đối với ngành TTD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ: Rủi Ro Cảm Nhận Và Ý Định Sử Dụng Thẻ Tín Dụng Tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố rủi ro mà người tiêu dùng cảm nhận khi sử dụng thẻ tín dụng, đồng thời phân tích tác động của những rủi ro này đến ý định sử dụng thẻ tại thị trường Việt Nam. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về hành vi người tiêu dùng mà còn đưa ra các gợi ý quan trọng cho các ngân hàng và tổ chức tài chính trong việc cải thiện chiến lược tiếp thị và quản lý rủi ro. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.

Để mở rộng kiến thức về hành vi người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm sữa chua có đường của Vinamilk. Ngoài ra, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành khách hàng trong lĩnh vực thông tin di động tại TP Hồ Chí Minh cũng mang lại góc nhìn thú vị về sự gắn kết của khách hàng với thương hiệu. Cuối cùng, nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị thương hiệu và dự định mua của thương hiệu Dell tại miền Trung sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của giá trị thương hiệu trong quyết định mua hàng.