Chương 1 trình bày vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, các đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu.1 Vấn đề nghiên cứu Trong những năm gần đây, thị trường thẻ tín dụng Việt Nam trở nên sôi động với sự xuất hiện của các thương hiệu thẻ quốc tế như VISA, Master, JCB, CUP. Các ngân hàng Việt Nam (NHVN) dành một phần ngân sách để đầu tư, phát triển sản phẩm, dịch vụ thẻ, bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. Trong đó, thẻ tín dụng (TTD) được xem là công cụ tài chính với hai chức năng chính là thanh toán điện tử (TTĐT) và vay tiêu dùng (Kaynak và Harcar, 2001). Mỗi khi thanh toán hóa đơn bằng TTD, khách hàng được vay số tiền đúng bằng giá trị hóa đơn và có trách nhiệm hoàn trả trong thời gian quy định.
Cùng với thẻ ghi nợ, TTD được kỳ vọng là phương tiện TTĐT phổ biến nhất tại Việt Nam. Sự kỳ vọng của các NHVN khi triển khai hoạt động kinh doanh TTD xuất phát từ thị trường tiềm năng rộng lớn với gần 57,36 triệu người trong độ tuổi lao động. Báo cáo của Tổng cục Thống kê (2020) cho biết trình độ học vấn của người lao động Việt Nam được cải thiện, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong năm 2019 là 22,8% so với 14,8% trong năm 2009. Thu nhập bình quân năm 2019 của người Việt Nam là 2.715 USD/người, tăng hơn hai lần so với mức 1.317 USD/người trong năm 2010; tầng lớp trung lưu dự kiến đạt 26% vào năm 2026 tăng gấp đôi hiện nay.
Báo cáo chỉ số tài chính toàn cầu (Ngân hàng Thế giới, 2020b) cho thấy khoảng 40% người lao động Việt Nam có tiền tiết kiệm và sẵn sàng mua sắm nhằm cải thiện chất lượng sống bằng cách tham gia các chương trình tín dụng tiêu dùng để có thể trả góp cho khoản ứng trước cấp thiết (Đoàn, 2019). 1 Thẻ tín dụng đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào năm 1996. Từ đó trở đi, các NHVN không ngừng đầu tư nhằm phát triển hệ thống TTD và mạng lưới đơn vị chấp nhận thanh toán (ĐVCNTT). Ngân hàng kết hợp với nhà bán lẻ đưa ra các chương trình khuyến khích người tiêu dùng (NTD) phát hành và sử dụng TTD như là miễn phí phát hành, miễn phí thường niên cho năm đầu tiên và/hoặc các năm sau đó, tích lũy điểm thưởng đổi quà tặng hoặc hoàn tiền,.
Các dịch vụ ngân hàng điện tử (NHĐT), ứng dụng thanh toán di động theo mã phản hồi nhanh (Quick Response Code - QR Code), giải pháp thanh toán giao tiếp cự ly gần (Near Field Communication - NFC). cũng được các NHVN tích hợp nhằm giúp khách hàng thanh toán bằng TTD dễ dàng. Kết quả là thị trường TTD Việt Nam đạt được một số kết quả về số lượng thẻ lưu hành và doanh số sử dụng thẻ. Cụ thể, tại thời điểm 31/12/2019, các NHVN đang lưu hành khoảng 4,9 triệu TTD trong tổng số 103 triệu thẻ ngân hàng các loại, tăng gần 900 nghìn thẻ (tương đương 22,5%) so với cuối năm 2018 (Hội thẻ Ngân hàng, 2020).
Với xấp xỉ 57,36 triệu người lao động, bình quân trong 12 người có 1 người sở hữu TTD (tỷ lệ 0,08 thẻ/người). Tỷ lệ sở hữu TTD trong dân cư năm 2019 tăng gần 20% so với năm 2018 và tăng hơn 200% so với năm 2015 (Phụ lục 1). Doanh số sử dụng TTD trong năm 2019 tiếp tục duy trì ở mức cao với tổng doanh số vượt trên 237 nghìn tỷ đồng (hơn 10,4 tỷ USD), bình quân mỗi TTD phát sinh doanh số 48,5 triệu đồng (hơn 2. Tuy nhiên, thị trường TTD Việt Nam vẫn còn thua kém khi so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tính đến ngày 31/12/2019, thị trường thế giới đang lưu hành khoảng 2,8 tỷ TTD; với lực lượng lao động 3,46 tỷ người (Ngân hàng Thế giới, 2020c), bình quân mỗi người lao động sở hữu 0,81 TTD. Tại Đông Nam Á, 326,8 triệu người lao động đang sử dụng 70,68 triệu TTD các loại, tỷ lệ sở hữu TTD tại đây là 0,22 thẻ/người, cao hơn mức 0,08 thẻ/người tại Việt Nam. Tương tự, doanh số sử dụng TTD bình quân tại Việt Nam cũng thấp (2.200 USD thẻ/năm) so với thế giới (6.530 USD/thẻ/năm) và các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore (Phụ lục 2). Báo cáo chỉ số tài chính toàn cầu (Ngân hàng Thế giới, 2020) chỉ ra rằng trong 1.000 lao động Việt Nam chỉ có 47 người sở hữu TTD.
Như vậy, chỉ 2,65 triệu người trong tổng số 57,36 triệu người lao động Việt Nam sở hữu TTD và bình quân mỗi người trong số họ 2 có 2 TTD. Con số này khá khiêm tốn so với hơn 9 triệu hộ gia đình sống ở thành thị với thu nhập và mức sống cao hoặc gần 46 triệu người có tài khoản ngân hàng, điều kiện tiên quyết để được phát hành TTD (Ngân hàng Nhà nước, 2020; Tổng cục Thống kê, 2020). Điều đó cũng có nghĩa là chỉ 2,65 triệu người này có cơ hội vay tiêu dùng từ ngân hàng thông qua TTD trong khi có tới 15,8 triệu người đang có nhu cầu vay với tổng tín dụng tiêu dùng hằng năm tăng trưởng ở mức 20%/năm (Đoàn, 2019). Trong bối cảnh TTD trở nên quen thuộc trong thanh toán tiêu dùng hằng ngày, đã có nhiều nghiên cứu ý định sử dụng (YDSD) được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín.
Các nghiên cứu này áp dụng hai hướng tiếp cận khác nhau trong tìm hiểu các tiền đề của YDSD. Một số tác giả phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên thành tựu của các nghiên cứu trước (Amendola và ctg., 2016; Lydia và ctg. Các nghiên cứu khác kế thừa khung lý thuyết hành vi tiêu dùng với các giả thuyết đã được kiểm chứng (Amin, 2013; Nguyen và Cassidy, 2018; Vương và Trịnh, 2017; Wang và Hsu, 2016). Một điểm đặc biệt là các nghiên cứu đều chú trọng chức năng TTĐT của TTD, kết quả là các khái niệm nghiên cứu được đo lường tương tự như trong các nghiên cứu về các dịch vụ điện tử.
Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên không xem xét chức năng vay tiêu dùng của TTD, cho dù đây là sự khác biệt lớn nhất của TTD so với thẻ ghi nợ hay ví điện tử. Sự khiếm khuyết này có thể làm giảm khả năng phản ánh hoặc không thể hiện được quan điểm của khách hàng về TTD. Kết quả tổng quan tài liệu về TTD chỉ ra sự tương đồng liên quan tới vai trò của hữu dụng cảm nhận (HDCN), dễ sử dụng cảm nhận (DSDCN) và chuẩn chủ quan đối với YDSD. Theo đó, NTD nhìn chung là hợp lý trong các quyết định của mình; họ dự định thực hiện hành vi khi họ đánh giá cao hiệu quả đạt được khi thực hiện hành vi đó (Nguyen và Cassidy, 2018; Tseng, 2016; Vương và Trịnh, 2017), đồng thời khi họ nhận thấy hành vi đó dễ dàng thực hiện và không cần nỗ lực nhiều cũng có thể hoàn thành (Jamshidi và Hussin, 2016; Sari và Rofaida, 2011; Wang và Hsu, 2016).
Yếu tố xã hội cũng được đề cao khi nhiều học giả cho rằng NTD là một tế bào của xã hội và họ sẵn sàng thực hiện hành vi khi các nhóm người quan trọng đối với họ đánh giá cao hành vi đó (Ali và ctg., 2017; Vương và Trịnh, 2017; Wang và Hsu, 2016). Tuy nhiên, các bài báo nói trên không thống 3 nhất về ảnh hưởng của rủi ro cảm nhận (RRCN) đối với YDSD. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng RRCN là rào cản quan trọng đối với YDSD (Amin, 2013; Trinh và ctg., 2020), một số khác phủ nhận sự ảnh hưởng nói trên (Tan và ctg. Nhận thức về rủi ro trong các nghiên cứu về TTD được đo lường theo quan điểm hậu quả tiềm tàng liên quan đến thanh toán hóa đơn mua hàng bằng TTD (Tan và ctg., 2014; Tseng, 2016; Trinh và ctg.
Quan điểm này giúp thể hiện mức độ e ngại NTD đến từng loại thiệt hại khác nhau có thể phát sinh khi thực hiện hành vi, nhưng làm thế nào để họ vượt qua sự e ngại đó để thực hiện hành vi lại đòi hỏi có sự am hiểu về nguồn gốc của các thiệt hại. Tuy nhiên, việc đo lường RRCN theo quan điểm nguồn gốc chỉ xuất hiện trong một vài nghiên cứu về thương mại điện tử (TMĐT) (Herrero và Martin, 2012; Lim, 2003; Park và ctg. Dựa trên đặc điểm cũng như cách sử dụng, rủi ro tiềm tàng về TTD có thể phát sinh từ hình thức thực hiện giao dịch cũng như hai chức năng thanh toán hóa đơn và vay tiêu dùng (Foscht và ctg., 2010; Turban và ctg. RRCN theo quan điểm nguồn gốc với các chiều rủi ro giao dịch điện tử (RRGD), rủi ro thanh toán (RRTT) và rủi ro tín dụng (RRTD) là vấn đề mới trong nghiên cứu về RRCN đối với ngành TTD.
Các trạng thái nhận thức về bản thân như HDCN, DSDCN và RRCN là nhân tố thúc đẩy/ức chế đối với hành vi tiếp cận/né tránh của mỗi cá nhân (Mehrabian và Russell, 1974). Nhận thức của mỗi người thay đổi theo ảnh hưởng từ các yếu tố môi trường (Kim và Lennon, 2013; Mehrabian và Russell, 1974; Spangenberg và ctg. Bắt nguồn từ sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà cung cấp (NCC) dịch vụ điện tử, cá nhân có động lực thay đổi hành vi tiêu dùng từ truyền thống (trực tiếp) sang hiện đại (trực tuyến) (Turban và ctg. Đứng trước nhiều sự lựa chọn, cảm nhận về chất lượng do một hệ thống cụ thể mang lại có ảnh hưởng đáng kể tới hành vi của NTD thông qua các trạng thái nhận thức của họ đối với hệ thống đó (Jin và Yong, 2005).
Vai trò tác nhân kích thích từ môi trường của chất lượng hệ thống thông tin (HTTT) đã được kiểm chứng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu (Chi và Sullivan, 2018; Choi và Choi, 2017b; Sharma và Sharma, 2019b). Tuy nhiên, các nghiên cứu nói trên chưa phản ánh đầy đủ ảnh hưởng của chất lượng HTTT đến RRCN và sau đó là YDSD, mối quan hệ này cũng chưa được xem xét trong ngành TTD. Nói cách khác, vai trò trung tâm của RRCN trong mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng HTTT và 4 YDSD là chủ đề mới trong khung lý thuyết hành vi đối với TTD tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Tóm lại, nghiên cứu về chất lượng HTTT, RRCN và YDSD là chủ đề nghiên cứu mới tại Việt Nam.
Hiện nay có rất ít nghiên cứu phản ánh một cách đầy đủ vai trò quyết định của chất lượng HTTT đối với RRCN cũng như tác động của RRCN đến YDSD trong ngành TTD. Bên cạnh đó, RRCN theo quan điểm nguồn gốc với các chiều RRGD, RRTT và RRTD là vấn đề mới trong nghiên cứu về RRCN đối với ngành TTD.