Chương 1. TONG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIEN DU LICH DỰA VÀO CONG DONG TẠI CÁC DI SAN THE GIỚI Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Các công trình nghiên cứu về du lịch dựa vào cộng đồng Theo các nhà nghiên cứu du lịch, thuật ngữ DLDVCD xuất hiện từ những năm 1970 [66], mặc dù trước đó (1950 đến 1960), yếu tố CDDP đã được đề cập đến trong các nghiên cứu, dự án quy hoạch du lịch ở các nước phát triển [119, tr.
Sự ra đời của DLDVCD có liên quan đến những hạn chế của ngành du lịch - "mang trong nó những hạt giống dé phá huỷ chính mình" [147, tr. Theo nghiên cứu của Griffin, từ những năm 1980, đã có nhiều hình thức và chiến lược du lịch được đề cập dé thay thé cho du lich dai chúng nhằm hạn chế các tác động tiêu cực có thể xảy đến đối với lãnh thé du lịch: Soft/Low Impacts/Green/Eco/Cultural/ -Responsible of tourism, trong đó có cách tiếp cận cộng đồng (community approachs) (dẫn theo [154, tr. Tuy nhiên phải đến năm 1985, sau cuốn sách “Du lịch: một cách tiếp cận cộng đồng” của Murphy (Tourism: A Community Approach), lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng mới thực sự trở thành trung tâm của các giải pháp phát triển du lịch bền vững, theo nhận định của Pimrawee Rocharungsat [154, tr. Cũng giống như nhiều lý thuyết khoa học khác, khi mới xuất hiện, DLDVCĐ đã tạo nên nhiều cuộc tranh luận khoa học sôi nổi về vai trò, ý nghĩa của nó đối với phát triển bền vững, với hai quan điểm chính: Sự hoài nghỉ: Taylor chỉ ra rằng, sự tham gia của người dân địa phương thường được quan tâm như là chìa khoá dé phát triển bền vững và bản thân họ đều mong muốn được trở thành một phần của SPDL, để chia sẻ lợi ích cũng như những chi phí.
Tuy nhiên việc phát triển DLCĐ có thể mở rộng sự khác biệt giữa những thành viên trong cộng đồng. Điều này có thé trở thành trở ngại cho sự thành công của các dự án phát triển du lịch [164]. Baum cũng chia sẻ: ý định tốt đẹp về nguyện vọng phát triển vẫn có thé dẫn đến những sai lầm khi mà cách tiếp cận hoi hot và không nhận ra được các đặc trưng của những cộng đồng liên quan [125]. Trong khi đó Holland tuyên bố rằng: thậm chí với một kỹ thuật tham gia thực tế tốt nhất và một cam kết trách nhiệm của địa phương, những mô hình gan vào những CDDP van tạo nên những rào cản dé đạt được mục dich phát triển du lịch bền vững [137].
Sự tin tưởng: mặc dù vẫn còn những người hoài nghi về hiệu quả của DLDVCD, nhưng hau hết các nhà khoa học đều thống nhất răng DLDVCD sẽ là một giải pháp tất yếu cho du lịch trong tương lai. Tiêu biểu cho quan điểm này là Ritchie, ngay từ năm 1993, ông đã dự báo: sự phát triển của DLCD sẽ làm thay đôi ngành du lịch trong tương lai, và theo ông du lịch trong tương lai sẽ tập trung nhiều hơn đến trách nhiệm của cộng đồng đối với du lịch - (dẫn theo [154, tr. Trước đó vào năm 1988, Peter Murphy đã đề cập đến vấn đề cộng đồng lập quy hoạch du lịch như là một giải pháp để nâng cao vai trò của du lịch trong bảo tồn và là băng chứng dé chứng minh cho khả năng liên kết giữa CDDP với ngành công nghiệp du lịch để trở thành quan hệ đối tác cùng có lợi tại Bristis Columbia, Canada [148]. Năm 1990, Brian Keogh đã chỉ ra vai trò của việc cung cấp thông tin đầy đủ cho CDDP trong các dự án quy hoạch du lich có ý nghĩa quan trọng dé mang đến sự thành công cho các dự án [139].
Ở khu vực Đông Nam A, thuật ngữ DLDVCD chính thức xuất hiện và được phô biến rộng rãi ở các nước ASEAN từ năm 1995 nhưng phải đến năm 2003 nó mới lần đầu xuất hiện tại Việt Nam [66]. Trước đó vào thập niên 1990, nước ta rất phổ biến khái niệm DLST, du lịch xanh. Xét về ban chất, những loại hình du lịch này có nhiều nét tương đồng (đều hướng đến việc bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi trường va mang lại lợi ích cho CDDP). Mặc dù xuất hiện chưa lâu, nhưng DLDVCD đã thu hút được đông dao các nhà khoa học tham gia nghiên cứu.
Một số nhà khoa học tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu phát triên DLDVCD tại Việt Nam phải kế đến: Trương Quang Hải [25], Phạm Trung Lương [54,55], Phạm Hoàng Hải [23.24], Dang Duy Loi [47,48], Pham Quang Anh [2], Trần Đức Thanh [75], Nguyễn Văn Lưu [56, 57], Nguyễn Thi Son [71], Đỗ Thi Minh Đức [17], Võ Qué [66], Nguyễn Thị Hải [19, 20], Bùi Thị Hải Yến [119]. Trong các công trình nghiên cứu của mình các nhà khoa học kể trên đã tập trung làm sáng tỏ khái niệm về DLDVCD, DLCĐ hay DLST; các điều kiện dé phát triển DLDVCĐ, DLCD, những bai học thực tiễn trong và ngoài nước. Về thực tiễn phát triển: với cơ sở lý thuyết phong phú như vậy, các dự án DLDVCD đã được triển khai trên khắp thế giới, nhưng chủ yếu ở các nước đang phát triển. Ví dụ, dự án phát triển DLDVCD tại DSTG Hoàng Sơn của Trung Quốc, đây là một vùng núi có phong cảnh dep, hùng vĩ và đã được công nhận là Di sản 7 thiên nhiên thé giới (theo các tiêu chí ii, vii va x) năm 1990.
DLDVCD tai Hoàng Sơn được đánh giá là một trong những thành công đáng chú ý nhất [158], thông qua việc khuyến khích CDDP tham gia xây dựng các cơ sở du lịch bé sung, hỗ trợ dân làng Fuxi (ngôi làng năm trong khu vực di sản) xây dựng "Monkey Valley" trở thành một điểm du lịch hấp dẫn đã trực tiếp làm tăng thu nhập cho người dân địa phương. Tại "Monkey Valley", từ năm 1994 đến 1997, điểm du lịch này đã đã đón tiếp 125 nghìn lượt khách, phí vào cửa là 1,2 triệu nhân dân tệ (200 nghìn USD) cho CDDP [136]. Ngoài lợi ích về kinh tế, DLDVCD tại đây đã góp phan thay đổi nhận thức của cộng địa phương trong việc bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Tại khu vực Đông Nam A, DLDVCĐ đã phát triển mạnh ở các nước Thái Lan, Ind6nésia, Philippin.
Ví dụ, dự án phát triển DLDVCĐ tại DSTG ruộng bậc thang Ifugao (Philippin), đây là một công trình nhân tạo cô có lich sử từ 2000 đến 6000 năm trên vùng núi thuộc tỉnh Ifugao (độ cao 1500m) đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 1995 (tiêu chi iii, iv,v). DLDVCD tại lfugao bắt đầu được phát triển từ năm 2003 và đến năm 2006, có 5 tour du lịch được tổ chức trên cơ sở lịch thời vụ nông nghiệp trong khu vực. Sự phát triển DLDVCD đã mang đến những lợi ích kinh tế trực tiếp cho CDDP. Theo số liệu thống kê của UNESCO [169], năm 2006 Ifugao đã đón 93.037 lượt khách (51.400 lượt khách qué tế).
Về doanh thu, 74.4% số người được khảo sát cho biết có thu nhập từ du lịch dưới 6 USD/ngày, 21,6% có thu nhập trên 7 USD/ngay và thu nhập sẽ cao hơn vào mùa du lịch (57,3% người được hỏi có thu nhập >7 USD/ngay). Ở Việt Nam, nhiều dự án DLDVCD đã được triển khai trên khắp moi vùng miền: các thôn bản ở Sa Pa (Thanh Phú, Bản Hồ, Tả Van, San Xa Hồ, Tả Phin.); Bắc Hà (Lào Cai); Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình); bên cạnh đó hầu hết các Vườn Quốc Gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di sản đều có các mô hình DLCĐ, đáng chú nhất là Vườn Quốc Gia Cúc Phuong (Ninh Bình), Hội An (Quảng Nam), vịnh Hạ Long. Các dự án ké trên có mức độ thành công, hiệu quả khác nhau tuy nhiên tat cả đều chỉ ra một điều, DLDVCD là một hướng đi đúng nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường trong phát triển du lịch và hướng đến một nền du lịch bền vững. Day chính là những cơ sở thực tiễn để các nhà khoa học tổng kết, khái quát nhằm làm phong phú thêm nền tang lý thuyết về DLDVCD.
Đối với các công trình nghiên cứu về DLDVCĐ, tùy theo góc độ, quan điểm và mục đích mà có những hướng nghiên cứu khác nhau. Nhưng tựu chung lại có một số tiếp cận nồi bật như sau: - Hướng tiếp cận cộng đồng tham gia phát triển DLDVCD: Với hướng tiếp cận này, cộng đồng điểm đến được xem như thành phần quan trọng nhất hay chính là chìa khóa dé phat trién du lich bén vững theo nhận định cua các tác gia Murphy [147], McIntyre. G và cộng sự [143], Muhanna [146], Niezgoda và Czernek [149], Matarrita-Cascante va cộng su [142]. Thậm chi, Figgis va Bushell còn khang định thêm rang "việc phát triển du lịch va bảo tồn ma phủ nhận các quyền và sự liên quan của CDDP là tự chuốc lấy thất bại nếu không đó cũng là hành động phi pháp" (dẫn theo [145]).
Do vậy van đề mau chốt là làm thé nao dé cộng đồng tham gia có hiệu quả nhất vào loại hình du lịch này. Theo Hamzah và Khalifah, dé phát triên DLDVCD cần một cách tiếp cận hệ thống từ nghiên cứu sự phù hợp của cộng đồng đến việc đảm bảo cơ hội cho cộng đồng tham gia vào HĐDL [135]. Một tiêu chí quan trọng khác, đó là sự phân phối lợi ích đến tất cả các hộ gia đình trong cộng đồng và quyền sở hữu, quản lý các hãng kinh doanh thuộc về cộng đồng theo luận điểm của Goodwin và Santilli [132]. Cùng với đó Matarrita- Cascante và cộng sự [142], McIntyre va cộng sự [143], Muhanna [146], Niezgoda và Czernek [149] đều cho rằng để thực hiện được mục tiêu phát triển du lịch bền vững, các CĐĐP cần tham gia vào quá trình ra quyết định.
Ở khía cạnh khác Scheyvens.R lại đề cập đến van đề CDDP phải có được những biện pháp kiểm soát đối với du lịch và được chia sẻ lợi ích một cách công bằng [157]. Tác giả này cũng dé xuất một khuôn khổ trao quyền cho CDDP ở bốn khía cạnh (kinh tế, tâm lý, xã hội và chính tri). Theo Foucat, khi đánh giá về tính bền vững của dự án quản lý DLST dựa vào cộng đồng tại Ventanilla (Mexico), bà đã nhận thấy răng thách thức lớn nhất dé các dự án có thé phát triển bền vững đó là: sự gắn kết cộng đồng, chia sẻ lợi ích công bằng, cam kết cho quản lý và bảo tồn, trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường cụ thê [130]. Quỹ châu Á và Viện phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam cũng dé cao van đề phải có sự tham gia của CDDP trong việc lập kế hoạch và quản lý DLCD như là điều kiện tiên quyết dé thực hiện thành công DLCD tại địa phương [67].