Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Cơ sở địa lý cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các di sản thế giới ở Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An)" được tác giả Chu Thành Huy bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường (mã số 62 85 01 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Đức Thanh và PGS.TS. Phạm Quang Tuấn.
Về tính cấp thiết, tác giả lập luận rằng khi một khu vực được UNESCO công nhận là di sản thế giới (DSTG), khu vực đó trở thành tài sản chung của nhân loại và chịu sự điều chỉnh của các quy định bảo vệ nghiêm ngặt nhằm duy trì giá trị nổi bật toàn cầu. Các quy định này tác động trực tiếp đến môi trường sống và sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương sinh sống bên trong hoặc liền kề di sản. Trong bối cảnh du lịch đại chúng tăng trưởng ồ ạt, chạy theo lợi ích kinh tế ngắn hạn và đe dọa làm suy giảm tài nguyên di sản, du lịch dựa vào cộng đồng (DLDVCĐ) nổi lên như một giải pháp quản lý tài nguyên bền vững, dung hòa mâu thuẫn giữa bảo tồn và sinh kế kinh tế của cư dân bản địa.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các công trình về DLDVCĐ trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế, quản lý hoặc xã hội học ở tầm vĩ mô, thiếu các giải pháp cụ thể ở cấp cơ sở về phương thức và mức độ tham gia của cộng đồng; đồng thời, các nghiên cứu địa lý du lịch truyền thống thường phân chia không gian dựa trên các yếu tố tự nhiên mà ít gắn với các yếu tố nhân văn và không gian văn hóa cộng đồng. Luận án lựa chọn hướng tiếp cận địa lý nhằm giải quyết bài toán phân hóa không gian chức năng phát triển DLDVCĐ tại các khu di sản.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định các luận cứ khoa học theo hướng tiếp cận địa lý trong việc phát triển DLDVCĐ như một giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên bền vững tại các DSTG ở Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác lập 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Xây dựng cơ sở lý luận về phát triển DLDVCĐ tại vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An;
- Phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch nói chung và DLDVCĐ nói riêng tại hai khu di sản;
- Phân khu chức năng DLDVCĐ tại hai khu di sản (theo cấp khu và tiểu khu);
- Đánh giá tiềm năng phát triển DLDVCĐ theo các tiểu khu của hai khu di sản;
- Đề xuất các giải pháp phát triển DLDVCĐ cho hai khu DSTG ở Việt Nam.
Luận án bảo vệ hai luận điểm chính:
- Luận điểm 1: Vị trí địa lý, tính đặc thù về tự nhiên, kinh tế - xã hội tạo nên sự khác biệt về hệ thống tiềm năng DLDVCĐ giữa hai khu di sản vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An.
- Luận điểm 2: Đặc điểm tiềm năng du lịch, hiện trạng và xu thế phát triển DLDVCĐ là cơ sở cho định hướng không gian về chức năng, loại hình du lịch, sản phẩm du lịch và đề xuất các giải pháp phát triển DLDVCĐ theo các phân khu tại DSTG vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An.
Về giới hạn nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể, không nghiên cứu độc lập các di sản văn hóa phi vật thể.
- Giới hạn không gian: Tại vịnh Hạ Long, không gian nghiên cứu bao gồm toàn bộ lãnh thổ hành chính thành phố Hạ Long và vùng biển đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây (thuộc huyện Vân Đồn) thuộc vùng đệm di sản, với tổng diện tích khoảng 887 km². Tại đô thị cổ Hội An, không gian nghiên cứu là toàn bộ lãnh thổ hành chính phần đất liền của thành phố Hội An (không bao gồm xã đảo Tân Hiệp - Cù Lao Chàm).
- Giới hạn thời gian: Số liệu về hiện trạng du lịch và nguồn lao động được thu thập trong giai đoạn 2008–2013; số liệu tổng hợp về phát triển kinh tế - xã hội được cập nhật đến năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án chỉ ra rằng thuật ngữ DLDVCĐ xuất hiện từ những năm 1970 và thực sự trở thành trung tâm của các giải pháp phát triển du lịch bền vững sau công trình "Tourism: A Community Approach" của Peter Murphy (1985). Quá trình phát triển lý thuyết này ghi nhận hai luồng quan điểm:
- Nhóm quan điểm hoài nghi: Taylor (1995) cảnh báo DLDVCĐ có thể khoét sâu sự khác biệt và phân hóa lợi ích nội bộ cộng đồng; Baum (1994) nhận định các tiếp cận hời hợt không nhận diện đúng đặc trưng cộng đồng sẽ dẫn đến thất bại; Holland (2000) cho rằng các rào cản nội tại vẫn tồn tại dù có kỹ thuật tham gia tốt.
- Nhóm quan điểm tin tưởng: Ritchie (1993) khẳng định DLDVCĐ sẽ làm thay đổi ngành du lịch tương lai theo hướng nâng cao trách nhiệm cộng đồng; Peter Murphy (1988) và Brian Keogh (1990) chứng minh hiệu quả của việc cộng đồng tham gia lập quy hoạch và tiếp nhận thông tin đầy đủ.
Luận án phân loại các hướng tiếp cận DLDVCĐ trong y văn thành bốn nhóm chính:
- Tiếp cận sự tham gia của cộng đồng: McIntyre và cộng sự (1993), Muhanna (2007), Niezgoda và Czernek (2008), Matarrita-Cascante và cộng sự (2010), Hamzah và Khalifah (2009), Goodwin và Santilli (2009). Scheyvens (1999) đề xuất khung trao quyền cho cộng đồng trên 4 phương diện (kinh tế, tâm lý, xã hội, chính trị). Foucat (2002) nghiên cứu dự án quản lý du lịch sinh thái tại Ventanilla (Mexico). Các nghiên cứu tại Thái Lan của Wirudchawong (2008) và Suansri (2003) nhấn mạnh đào tạo kỹ năng và quyền đình chỉ hoạt động du lịch của người dân. Tosun (2000, 2006) chỉ ra cộng đồng địa phương ở cấp cơ sở thường ưu tiên vai trò lao động và doanh nhân kinh doanh dịch vụ.
- Tiếp cận trên cơ sở nguồn lực du lịch: John Mock và Damira Raeva (2005, đánh giá dự án tại Kyrgyzstan) gắn DLDVCĐ với khu vực nông thôn và tài nguyên tự nhiên; Trần Đức Thanh và cộng sự (2014) xác định các điều kiện cần thiết gồm tài nguyên, cơ sở vật chất, giao thông, dịch vụ hỗ trợ, sự sẵn sàng của người dân và chính sách hỗ trợ.
- Tiếp cận kinh tế và quản lý: Mader (1988), David Barkin (2005), Nicole Häusler, Boronyak và cộng sự (2010) lưu ý về nguy cơ áp đặt từ trên xuống, nhấn mạnh quản trị rủi ro, nghiên cứu thị trường và liên kết đa ngành.
- Tiếp cận các bên liên quan: Pimrawee Rocharungsat (2008) phân chia 4 nhóm bên liên quan; Eileen Gutierrez và cộng sự (2005) liệt kê 27 yếu tố tác động; Bùi Thanh Hương và Nguyễn Đức Hoa Cương (2011) xác định 4 thành phần cơ bản gồm tư nhân, cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương và các tổ chức phát triển/đào tạo.
Tại Việt Nam, các tác giả Trương Quang Hải, Phạm Trung Lương, Phạm Hoàng Hải, Đặng Duy Lợi, Phạm Quang Anh, Trần Đức Thanh, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Thị Sơn, Đỗ Thị Minh Đức, Võ Quế, Nguyễn Thị Hải, Bùi Thị Hải Yến đã phân tích khái niệm và điều kiện phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Về mặt địa lý du lịch, các công trình của Pirojnik (1985), Butler (1990), Mukhina (1973), Kotliarov (1978), Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (1999) đặt nền tảng cho việc đánh giá tài nguyên và tổ chức lãnh thổ du lịch.
Đối với hai điểm nghiên cứu, luận án điểm lại các công trình về địa mạo, khí hậu, sinh vật, lịch sử, khảo cổ và môi trường của vịnh Hạ Long (M. Colani, L.G. Andersson, E. Saurin, Hà Văn Tấn, Đỗ Công Thung, Vũ Văn Phái...) và Hội An (Trần Quốc Vượng, Nguyễn Phước Tương, Nguyễn Chí Trung, Đỗ Thị Minh Đức...). Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết là thiết lập cơ sở lý luận và phương pháp phân khu chức năng DLDVCĐ tại các khu DSTG ở Việt Nam dưới góc độ địa lý học, kết hợp hài hòa giữa điều kiện tự nhiên với không gian sắc thái văn hóa cộng đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khái niệm, tác giả vận dụng các nền tảng sau:
- Khái niệm Di sản thế giới: Căn cứ Công ước Di sản Thế giới năm 1972 của UNESCO, phân định rõ ranh giới vùng lõi bảo vệ và vùng đệm di sản.
- Khái niệm Không gian văn hóa cộng đồng: Dựa trên cách cắt nghĩa của F. Toennies và Pitamber Sharma (1998) về cộng đồng địa phương; đồng thời tích hợp khái niệm "loại hình kinh tế - văn hóa" của N. Trêbôcxarôpva (1971) để giải thích sự phân hóa không gian sắc thái văn hóa của cộng đồng tại các khu di sản dựa trên đặc trưng sinh kế, nghề nghiệp, công cụ lao động và sinh hoạt văn hóa.
- Khái niệm Du lịch dựa vào cộng đồng: Kế thừa định nghĩa của UNWTO (2001), Quỹ Châu Á - Viện VIRI (2012), Võ Quế (2006), Phạm Trung Lương (2002) và Trần Đức Thanh (2014), xác định DLDVCĐ là loại hình du lịch nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng trên cơ sở các điều kiện cụ thể của lãnh thổ điểm đến.
- Thang đo mức độ tham gia của cộng đồng: Tiếp cận thang 7 mức độ tham gia của France (1998) (kế thừa Arnstein, 1969 và Pretty, 1995), kết hợp mô hình tích hợp của Okazaki (2008) gồm 4 lý thuyết: bậc thang tham gia, tái phân phối quyền lực, quá trình hợp tác và vốn xã hội.
- Cấu trúc sản phẩm DLDVCĐ: Tổng hợp quan điểm của Nguyễn Minh Tuệ, Smith (1994) và UNWTO, gồm tài nguyên, kết cấu hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ do cộng đồng tham gia cung cấp, và bản sắc văn hóa địa phương.
- Tiếp cận địa lý học: Luận án khai thác hai thuộc tính địa lý cốt lõi:
- Tính tổng hợp: Đánh giá đồng thời điều kiện cung (tài nguyên du lịch, hạ tầng, cơ sở vật chất, đặc điểm dân cư - lao động, chính sách) và điều kiện cầu (quy mô, cơ cấu nguồn khách, hành vi và mức chi tiêu của du khách).
- Tính không gian: Phân tích vị trí địa lý, cấu trúc lãnh thổ tự nhiên và kinh tế - xã hội, sự phân hóa của các điều kiện phát triển theo từng vùng lãnh thổ cụ thể.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các công cụ:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Sử dụng báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể và số liệu niên giám thống kê của TP Hạ Long, TP Hội An giai đoạn 2008–2014.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành quan sát, ghi nhận thực tế các tuyến điểm du lịch, tình trạng tài nguyên và hoạt động sinh kế của người dân.
- Phương pháp bản đồ và GIS: Phân tích và biên tập các bản đồ địa hình (tỉ lệ 1/50.000 tại Hạ Long; 1/1.000 và 1/10.000 tại Hội An), bản đồ địa chất tỉ lệ 1/200.000, bản đồ địa mạo tỉ lệ 1/100.000 để xác định các ranh giới chức năng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thái độ của cộng đồng địa phương thông qua bảng hỏi tại các địa bàn nghiên cứu (thu thập hàng trăm phiếu điều tra tại các phường, xã, làng chài và xã đảo); khảo sát nhu cầu của khách du lịch.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia thuộc các cơ quan nghiên cứu, ban quản lý di sản, phòng thương mại - du lịch, hiệp hội du lịch và doanh nghiệp để chấm điểm mức độ hấp dẫn của các điểm tài nguyên du lịch (theo thang điểm từ 1 đến 4).
- Phương pháp đánh giá tổng hợp điều kiện phát triển DLDVCĐ: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cho các tiểu khu chức năng dựa trên 5 nhóm yếu tố: mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch, mức độ đặc sắc của không gian văn hóa, thái độ của cộng đồng, cơ sở vật chất - hạ tầng kỹ thuật, và khả năng tiếp cận.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án gồm 149 trang nội dung chính, 32 phụ lục (87 trang), 1 sơ đồ, 4 bản đồ, 15 bảng số liệu và 179 tài liệu tham khảo. Cấu trúc phần nội dung được triển khai qua 3 chương:
Chương 1. Tổng quan, cơ sở lý luận phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các di sản thế giới ở Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tiếp cận địa lý trong nghiên cứu phát triển DLDVCĐ tại các khu di sản. Tác giả phân tích nội dung tiếp cận địa lý thông qua hai thuộc tính: tính tổng hợp (nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa điều kiện cung và cầu du lịch) và tính không gian (nghiên cứu sự phân hóa lãnh thổ của các điều kiện tự nhiên, nhân văn và cộng đồng). Tác giả xác lập khung lý thuyết về phân khu chức năng DLDVCĐ, chỉ rõ việc phân chia lãnh thổ di sản thành các khu và tiểu khu không chỉ căn cứ trên tài nguyên tự nhiên mà phải lấy ranh giới không gian văn hóa cộng đồng và sinh kế dân cư làm trọng tâm. Chương này đưa ra quy trình nghiên cứu gồm các bước xác lập chỉ tiêu, điều tra thu thập dữ liệu, phân khu sơ bộ, đánh giá điều kiện phát triển theo tiểu khu chức năng bằng phương pháp chấm điểm trọng số (thể hiện ở Bảng 1.1 trong luận án), từ đó làm căn cứ định hướng không gian cho các chương tiếp theo.
Chương 2. Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại khu vực di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và hoạt động du lịch tại hai khu di sản:
- Khu vực vịnh Hạ Long: Tiềm năng tự nhiên nổi bật với địa hình karst ngập nước, hệ thống hang động và đảo đá vôi (Đầu Gỗ, Trinh Nữ, Bồ Nâu, Thiên Cung, Ba Hầm, Sửng Sốt, Đầu Bê...), đa dạng sinh học biển và rừng ngập mặn. Tiềm năng văn hóa gắn liền với cư dân bản địa như không gian văn hóa làng chài Cửa Vạn, văn hóa công nhân mỏ than Hòn Gai, nghề gốm truyền thống Giếng Đáy. Luận án phân tích vị trí làm việc và cơ cấu công việc của lao động địa phương (Hình 2.2 và 2.3), ghi nhận phần lớn người dân tham gia các hoạt động dịch vụ giản đơn như chèo đò, buôn bán nhỏ, nuôi trồng thủy sản.
- Khu vực đô thị cổ Hội An: Tiềm năng nhân văn thể hiện qua quần thể kiến trúc phố cổ (nhà cổ Tấn Ký, Phùng Hưng, Quân Thắng; các hội quán Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông; Chùa Cầu), các di tích lịch sử, khảo cổ và các làng nghề truyền thống lâu đời (mộc Kim Bồng, gốm Nam Diêu/Thanh Hà, rau Trà Quế). Tiềm năng tự nhiên gồm bãi biển Cửa Đại, An Bàng, cảnh quan sông nước Cẩm Nam và rừng dừa nước Bảy Mẫu (Cẩm Thanh). Hiện trạng cho thấy cộng đồng Hội An tham gia sâu vào chuỗi cung ứng du lịch qua mạng lưới homestay, biệt thự du lịch, dịch vụ ẩm thực và hướng dẫn làng nghề.
- Phân tích so sánh: Luận án so sánh hai di sản trên 5 tiêu chí: tiềm năng du lịch; nguồn lực cơ sở vật chất - kỹ thuật; đặc điểm cộng đồng và bản sắc văn hóa; vai trò của cộng đồng đối với bảo tồn di sản; và cơ hội tham gia của cộng đồng. Kết quả chỉ ra Hạ Long có tiềm năng tự nhiên vượt trội nhưng mức độ tham gia của cộng đồng còn mang tính cục bộ, phân tán; trong khi Hội An có tính chất "di sản sống", cộng đồng gắn bó mật thiết với không gian phố cổ và có mức độ hưởng lợi cũng như chủ động cao hơn trong hoạt động du lịch.
Chương 3. Định hướng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An
Chương 3 đề xuất định hướng phát triển không gian và sản phẩm DLDVCĐ trên cơ sở kết quả đánh giá thực nghiệm:
- Định hướng tại vịnh Hạ Long: Xác định kết quả phân khu chức năng DLDVCĐ gồm các khu và tiểu khu (Bảng 3.2 và Bản đồ Hình 3.1). Luận án tổng hợp kết quả đánh giá 5 nhóm chỉ tiêu: mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch (Bảng 3.3), mức độ đặc sắc của các không gian văn hóa (Bảng 3.4), thái độ của cộng đồng (Bảng 3.5), cơ sở vật chất - kỹ thuật (Bảng 3.6), khả năng tiếp cận (Bảng 3.7) và kết quả tổng hợp điều kiện phát triển DLDVCĐ (Bảng 3.8). Từ đó, tác giả xây dựng bản đồ định hướng không gian chức năng phát triển DLDVCĐ (Hình 3.2), đề xuất các sản phẩm DLDVCĐ gắn với trải nghiệm sinh hoạt làng chài, du lịch sinh thái nông nghiệp tại Đại Yên, và tìm hiểu di sản công nghiệp than tại Hòn Gai.
- Định hướng tại Hội An: Thiết lập hệ thống phân khu chức năng DLDVCĐ (Bảng 3.9 và Bản đồ Hình 3.3). Đánh giá chi tiết 5 nhóm yếu tố tương ứng tại Hội An (Bảng 3.10 đến Bảng 3.15). Tác giả xây dựng bản đồ định hướng không gian chức năng DLDVCĐ tại đô thị cổ Hội An (Hình 3.4), định hướng phát triển các sản phẩm du lịch nông nghiệp tại Trà Quế, du lịch làng nghề gốm Nam Diêu, mộc Kim Bồng, du lịch sinh thái sông nước Cẩm Thanh và các sản phẩm văn hóa đô thị gắn với tuyến phố đi bộ.
Dữ liệu khảo sát thực tế về thái độ của cộng đồng địa phương tại hai khu di sản được tác giả tổng hợp tại Phụ lục 22:
| Địa bàn khảo sát |
Số phiếu điều tra |
Điểm trung bình thái độ cộng đồng đối với du lịch |
| Khu vực vịnh Hạ Long |
|
|
| Đại Yên (IA) |
85 |
3,92 |
| Giếng Đáy, Hà Khánh (IB) |
85 |
2,63 |
| Hồng Gai (ID) |
90 |
2,40 |
| Làng chài Cửa Vạn (IIA) |
15 |
3,27 |
| Đảo Ngọc Vừng (IIB) |
40 |
3,28 |
| Khu vực đô thị cổ Hội An |
|
|
| Phố cổ (A) |
120 |
3,36 |
| Thanh Hà, Cẩm Hà (B) |
120 |
3,19 |
| Cửa Đại (C) |
96 |
3,04 |
| Cẩm Nam (D) |
62 |
3,15 |
Kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia về độ hấp dẫn của các điểm tài nguyên du lịch tiêu biểu tại hai khu di sản (trích từ Phụ lục 23) được thể hiện trong bảng sau:
| Điểm tài nguyên du lịch |
Điểm đánh giá trung bình của chuyên gia (thang điểm 4) |
| Khu vực vịnh Hạ Long |
|
| Hang Đầu Gỗ |
4,0 |
| Hang Trinh Nữ |
4,0 |
| Động Thiên Cung |
3,8 |
| Hồ Ba Hầm |
4,0 |
| Hang Sửng Sốt |
4,0 |
| Đảo Đầu Bê |
4,0 |
| Chùa Long Tiên |
4,0 |
| Đền thờ Trần Quốc Nghiễn |
4,0 |
| Bãi biển Trường Chinh (Ngọc Vừng) |
4,0 |
| Vịnh Cửa Lục |
2,2 |
| Hồ Cô Tiên |
2,0 |
| Chợ Hạ Long |
2,0 |
| Khu vực đô thị cổ Hội An |
|
| Không gian phố cổ |
4,0 |
| Nhà cổ Tấn Ký |
4,0 |
| Nhà cổ Phùng Hưng |
4,0 |
| Chùa Chúc Thánh |
4,0 |
| Làng mộc Kim Bồng |
3,8 |
| Làng rau Trà Quế |
3,8 |
| Làng gốm Nam Diêu |
3,8 |
| Bãi tắm Phước Trạch |
4,0 |
| Bãi tắm An Bàng |
4,0 |
| Rừng dừa Bảy Mẫu |
3,5 |
| Di chỉ Đồng Nà |
2,0 |
| Lăng Trà Quan |
2,0 |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận: Luận án đã xây dựng được cơ sở lý luận về phân khu chức năng du lịch dựa vào cộng đồng tại các khu di sản thế giới theo hướng tiếp cận địa lý học. Điểm cốt lõi là việc đưa yếu tố không gian văn hóa cộng đồng và tiếp cận loại hình kinh tế - văn hóa vào quá trình phân vùng lãnh thổ du lịch, khắc phục hạn chế của các phương pháp phân vùng truyền thống vốn nặng về tiêu chí tự nhiên thuần túy.
Về mặt thực tiễn: Luận án đã xác định được hệ thống các không gian chức năng DLDVCĐ cụ thể (gồm các khu và tiểu khu) tại di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và di sản văn hóa thế giới đô thị cổ Hội An. Tác giả đã thành lập 4 bản đồ chuyên đề gồm bản đồ phân khu chức năng và bản đồ định hướng không gian phát triển DLDVCĐ cho từng khu di sản. Kết quả này cung cấp luận cứ khoa học để định hướng, thiết kế các sản phẩm du lịch cộng đồng đặc thù, đồng thời cung cấp các giải pháp quản lý lãnh thổ, chính sách chia sẻ lợi ích và tăng cường năng lực cho cư dân địa phương.
Hệ thống giải pháp và khuyến nghị được đề xuất gồm:
- Các giải pháp chung: Xây dựng cơ chế liên kết và chia sẻ lợi ích kinh tế minh bạch giữa doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất phục vụ du khách tại các điểm du lịch cộng đồng; tổ chức đào tạo nâng cao nhận thức bảo tồn di sản và kỹ năng nghề du lịch cho người dân bản địa; tăng cường vai trò quản lý nhà nước của chính quyền địa phương và ban quản lý di sản.
- Các giải pháp không gian cụ thể: Thiết lập các hành lang kết nối du lịch giữa vùng lõi di sản và các tiểu khu vùng đệm; quy hoạch không gian hoạt động cho các mô hình làng chài nổi và nuôi trồng thủy sản tại vịnh Hạ Long; tổ chức không gian phát triển du lịch làng nghề truyền thống và du lịch nông nghiệp sinh thái tại vùng ven đô thị cổ Hội An nhằm giảm tải áp lực cho khu phố cổ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án tự xác định các giới hạn sau trong văn bản:
- Về phạm vi không gian: Tại vịnh Hạ Long, nghiên cứu chưa mở rộng bao quát toàn bộ vùng biển vịnh Bái Tử Long phụ cận; tại Hội An, phạm vi nghiên cứu mới giới hạn ở phần đất liền, chưa bao gồm xã đảo Tân Hiệp (khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm).
- Về đối tượng: Nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các di sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể, chưa đào sâu nghiên cứu các loại hình di sản văn hóa phi vật thể một cách độc lập mà chỉ xem xét chúng dưới dạng thành tố cấu thành không gian văn hóa cộng đồng.
- Về phân tích điều kiện cầu: Số liệu khảo sát khách du lịch chủ yếu phản ánh quy mô, cơ cấu và hành vi tiêu dùng hiện trạng thông qua mẫu điều tra xã hội học, chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng để dự báo định lượng nhu cầu thị trường trong dài hạn.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu để áp dụng khung lý thuyết và phương pháp phân khu chức năng DLDVCĐ sang các khu di sản thế giới khác tại Việt Nam, đặc biệt là các di sản hỗn hợp như Quần thể danh thắng Tràng An, hoặc các di sản thiên nhiên như Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm theo dõi và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường của các mô hình DLDVCĐ sau khi được phân khu và triển khai trên thực địa.
Giá trị tham khảo
Nội dung của luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, Địa lý du lịch, Du lịch học và Quản lý di sản: Luận án cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận địa lý trong tổ chức lãnh thổ du lịch và hệ thống tiêu chí định lượng đánh giá tiểu khu chức năng.
- Các nhà quản lý và cơ quan hoạch định chính sách: Ban quản lý Vịnh Hạ Long, Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam có thể khai thác hệ thống bản đồ phân khu và các chỉ số khảo sát thái độ cộng đồng để xây dựng kế hoạch quản lý du lịch bền vững.
- Các tổ chức phát triển cộng đồng và doanh nghiệp lữ hành: Tham khảo các phân tích về nhu cầu du khách và đặc điểm sinh kế địa phương để thiết kế các sản phẩm DLDVCĐ phù hợp với từng phân khu chức năng.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Khung chỉ tiêu đánh giá tổng hợp điều kiện phát triển DLDVCĐ (Bảng 1.1); các bảng đánh giá thực nghiệm 5 nhóm yếu tố tại Chương 3; hệ thống bản đồ phân khu chức năng DLDVCĐ (Hình 3.1 và 3.3); và cơ sở dữ liệu điều tra xã hội học tại 32 phụ lục.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án bảo vệ những luận điểm khoa học nào?
Luận án bảo vệ hai luận điểm: Thứ nhất, vị trí địa lý cùng tính đặc thù về tự nhiên và kinh tế - xã hội tạo nên sự khác biệt về hệ thống tiềm năng DLDVCĐ giữa hai khu di sản vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An. Thứ hai, đặc điểm tiềm năng du lịch, hiện trạng và xu thế phát triển DLDVCĐ là cơ sở cho định hướng không gian về chức năng, loại hình, sản phẩm du lịch và đề xuất các giải pháp phát triển DLDVCĐ theo các phân khu tại hai di sản này.
2. Phạm vi không gian nghiên cứu của hai di sản được giới hạn như thế nào?
Tại vịnh Hạ Long, không gian nghiên cứu bao gồm toàn bộ địa giới hành chính thành phố Hạ Long và vùng biển đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây thuộc huyện Vân Đồn (thuộc vùng đệm di sản), diện tích khoảng 887 km². Tại Hội An, không gian nghiên cứu gồm toàn bộ địa giới hành chính phần đất liền của thành phố Hội An, không bao gồm xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm).
3. Vì sao tác giả lựa chọn vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An làm địa bàn nghiên cứu thay vì các di sản khác ở Việt Nam?
Theo tác giả, Tràng An mới được công nhận năm 2014 nên không nằm trong kế hoạch triển khai của đề tài (bắt đầu từ cuối năm 2010). Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở vùng sâu, ít chịu áp lực đô thị hóa và công nghiệp hóa hơn so với vịnh Hạ Long - nơi chịu tác động mạnh từ khai thác than, cảng biển nước sâu và du lịch đại chúng. Trong số 5 di sản văn hóa, chỉ có đô thị cổ Hội An là "di sản sống", nơi cuộc sống sinh hoạt và kinh tế của người dân diễn ra ngay trong lòng di sản, khiến nguy cơ suy giảm tính bền vững cao hơn các di sản di tích cách biệt khác.
4. Dữ liệu khảo sát thái độ cộng đồng đối với phát triển du lịch cho thấy kết quả gì?
Theo kết quả khảo sát tại Phụ lục 22, tại vịnh Hạ Long, điểm trung bình thái độ cộng đồng cao nhất ở Đại Yên (3,92 điểm), tiếp đến là đảo Ngọc Vừng (3,28 điểm) và làng chài Cửa Vạn (3,27 điểm), trong khi khu vực Giếng Đáy - Hà Khánh (2,63 điểm) và Hồng Gai (2,40 điểm) có mức độ thấp hơn. Tại Hội An, mức độ ủng hộ đồng đều hơn, cao nhất là khu Phố cổ (3,36 điểm), tiếp đến là Thanh Hà - Cẩm Hà (3,19 điểm), Cẩm Nam (3,15 điểm) và Cửa Đại (3,04 điểm).
5. Những nhóm tiêu chí nào được sử dụng để đánh giá điều kiện phát triển DLDVCĐ theo tiểu khu?
Luận án sử dụng 5 nhóm tiêu chí chính: (1) Mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch; (2) Mức độ đặc sắc của các không gian văn hóa; (3) Thái độ của cộng đồng đối với phát triển du lịch; (4) Cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật du lịch; (5) Khả năng tiếp cận của tiểu khu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Chu Thành Huy đã giải quyết vấn đề phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại hai di sản thế giới tiêu biểu ở Việt Nam dưới góc độ địa lý học. Tác giả đã kết hợp phân tích điều kiện tự nhiên với không gian văn hóa và sinh kế của cộng đồng địa phương để xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phân khu chức năng du lịch. Kết quả phân khu, hệ thống bản đồ định hướng không gian và các giải pháp đề xuất cung cấp tài liệu tham khảo khoa học phục vụ công tác quản lý tài nguyên và định hướng du lịch bền vững tại vịnh Hạ Long và đô thị cổ Hội An.