CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRONG LĨNH VỰC SỰ NGHIỆP KINNH TẾ SỰ VÀ NGHIỆP KHÁC 1. Khái niệm về quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác 1. Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò đơn vị sự nghiệp công lập Các đơn vị do Nhà nước thành lập để cung cấp các DVSNC được gọi là các đơn vị sự nghiệp công.
Khái niệm ĐVSNCL ở Việt Nam được sử dụng thông dụng trong đời sống, cũng như trong nhiều văn bản pháp Luật khác nhau. Luật Viên chức năm 2010 quy định: Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp DVC phục vụ quản lý Nhà nước [7]. Xét dưới góc độ pháp lý, khái niệm ĐVSNCL phản ánh những khía cạnh sau đây: - Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; - Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Có tư cách pháp nhân; cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước. Như vậy, ĐVSNCL là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập theo quy định của pháp Luật, có con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán độc lập theo quy định của pháp Luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ 8 cung cấp DVC hoặc phục vụ quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực như giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực SNKT và SNK được pháp Luật quy định.
Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực SNKT và SNK là một bộ phận trong số các ĐVSNCL; theo Nghị định số 141/2016/NĐ-CP, ngày 10/10/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp Luật để thực hiện nhiệm vụ cung DVC công theo lĩnh vực chuyên môn. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực SNKT và SNK - Có văn bản quyết định thành lập ĐVSN trong lĩnh vực SNKT và SNK của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK có thể do Thủ tướng chính Phủ hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực tiếp ra quyết định thành lập thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao. Do vậy các ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK phải tuân theo cơ chế và quy định của các cơ quan Nhà nước và cơ quan chủ quản; - Đơn vị sự nghiệp được thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ững những nhu cầu nhất định của xã hội.
Trong quá trình hoạt động, ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu dịch vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn được giao văn bản Nhà nước quy định; - Hoạt động ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển KTXH của Nhà nước. Các ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước, tổ chức, 9 duy trì và đảm bảo hoạt động phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các HĐSN để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường; hỗ trợ cho ngành, các lĩnh vực; thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, tinh thần của nhân dân; - Hoạt động ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo quy định của Nhà nước; Mở tài khoản KBNN để phản ánh các khoản kinh phí, các chương trình mục tiêu thuộc NSNN cấp; mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng thương mại để phản ánh các khoản thu, chi của hoạt động cung ứng dịch vụ; - Các khoản chi hành chính (công tác phí, hội nghị, tập huấn, đào tạo, điện thoại.) chi hoạt động nghiệp vụ thường xuyên, không thường xuyên, tùy theo từng nội dung công việc nếu xét thấy cần thiết có hiệu quả, thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn do mức chi Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn thu được sử dụng; - Hằng năm căn cứ vào báo cáo tài chính, đơn vị được trích lập: Quỹ phúc lợi, quỹ PTHĐSN, quỹ khen thưởng, quỹ dự phòng thu nhập ổn định. Mức trích các quỹ tùy thuộc vào mức phân loại tự chủ về tài chính của đơn vị. Vai trò của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực SNKT và SNK - Tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, cung cấp các DVC là những hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng với đời sống con người.
Chính vì vậy, khác với tài chính của các doanh nghiệp là gắn với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì tài chính của ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK lại gắn với hoạt động công ích không vì mục đích lợi nhuận. Nguồn thu từ các HĐSN từ việc cung cấp dịch vụ chủ yếu chỉ bù đắp một phần chi phí, giảm bớt gánh nặng cho NSNN; 10 - Thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng cho xã hội, kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng sống cho nhân dân; - Nguồn tài chính của ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: nguồn kinh phí do NSNN cấp, nguồn thu từ các HĐSN, nguồn thu từ viện trợ và các nguồn thu khác; trong khi nguồn tài chính của các doanh nghiệp ban đầu có thể và trước hết dựa vào thị trường tài chính, thu hút vốn qua góp vốn hoặc đi vay, sau đó luôn được bổ sung, tái tạo từ lợi nhuận hay các quỹ bù đắp; thì nguồn tài chính của các ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK thì Nhà nước sẽ cấp kinh phí cho các ĐVSNCL dựa trên kế hoạch phát triển KTXH và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN của năm đó. Đối với các nguồn thu từ HĐSN, ĐVSN được quyết định mức thu trong khung quy định. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực SNKT và SNK a) Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập có nhiều tiêu thức để phân loại, trong tiểu luận này việc phân loại dựa vào 03 tiêu thức sau đây: Thứ nhất, Phân loại theo hình thức sở hữu: Các ĐVSNCL của Nhà nước gồm các ĐVSNCL dựa trên hình thức sở hữu Nhà nước về vốn, do Nhà nước thành lập và quản lý.
Các ĐVSN của các tổ chức chính trị như ĐVSN trực thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam; Tổng liên đoàn lao động Việt Nam; Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có đơn vị của các Tổ chức chính trị - xã hội, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, … Thứ hai, phân loại theo ngành hay lĩnh vực, gồm có: ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; lĩnh vực y tế; văn hoá thông tin; ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK: Nông nghiệp, phát triển nông thôn; tài nguyên và môi trường; lao động thương binh, xã hội; tư pháp; sự nghiệp khác,. 11 Thứ ba, phân loại theo cơ chế tự chủ về tài chính: Dựa vào nguồn tài chính của đơn vị để xác định mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên, xác định phân loại đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. b) Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực SNKT và SNK ĐVSNCL trong lĩnh vực SNKT và SNK thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên phương diện tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, về tổ chức bộ máy, về nhân sự và tự chủ về tài chính; do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định).
Căn cứ vào nguồn tài chính, xác định mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên theo Thông tư 145/2017/TT-BTC, như sau [4]: Mức tự bảo đảm chi thường xuyên (%) = (Tổng nguồn tài chính chi thường xuyên/Tổng số chi thường xuyên) x 100%. Mức tự bảo đảm chi Tổng nguồn tài chính chi thường xuên = X 100% thường xuyên (%) Tổng số chi thường xuyên Trong đó: - Nhóm 1: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên theo công thức nêu trên lớn hơn 100% và tự bảo đảm chi đầu tư từ nguồn quỹ PTHĐSN, nguồn vốn vay và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật; - Nhóm 2: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên theo công thức nêu trên bằng hoặc lớn hơn 100%; - Nhóm 3: Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên theo công thức nêu trên từ trên 10% đến dưới 100%; - Nhóm 4: Đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chi thường xuyên theo công thức nêu trên từ 10% trở xuống hoặc đơn vị không có nguồn thu. Quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực SNKT và SNK 1. Khái niệm quản lý tài chính Tài chính trong các ĐVSNCL là biểu hiện các khoản thu chi bằng tiền từ nguồn NSNN) và các quỹ tiền tệ trong các ĐVSNCL.
Xét về hình thức nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình huy động và sử dụng NSNN và các quỹ tiền tệ tại ĐVSNCL.