Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Thủy tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Nguyệt và PGS. Đào Văn Hiệp, hoàn thành năm 2018. Công trình thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 9.10).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường đã trở thành yêu cầu khách quan đối với các quốc gia trong quá trình hội nhập. Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Ở cấp độ địa phương, Hải Phòng là thành phố cảng, trung tâm công nghiệp, dịch vụ và đầu mối giao thông quan trọng. Theo định hướng của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XV (nhiệm kỳ 2015 - 2020), thành phố xác định phát triển khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp (KCN) là công cụ đòn bẩy trong tái cơ cấu kinh tế.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Hải Phòng có 17 KCN được quy hoạch. Dù đạt được nhiều kết quả thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực tiễn hoạt động và quản lý KCN tại Hải Phòng bộc lộ nhiều điểm hạn chế:
- Hạ tầng kỹ thuật - xã hội ngoài hàng rào chưa đồng bộ;
- Năng lực của các công ty kinh doanh hạ tầng không đồng đều; một số KCN chậm tiến độ;
- Doanh nghiệp FDI chịu tác động lớn từ công ty mẹ ở nước ngoài;
- Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao, thu nhập bình quân thấp và có sự chênh lệch lớn;
- Chú trọng thu hút đầu tư nhưng chưa quan tâm đúng mức đến bảo vệ môi trường, thiếu trạm xử lý nước thải tập trung hoặc có hạ tầng nhưng thiếu kinh phí vận hành do bất đồng về phí dịch vụ với doanh nghiệp;
- Khu vực nhà ở và dịch vụ sinh hoạt cho công nhân còn hạn chế.
Về phương diện quản lý nhà nước, chính sách bồi thường, hỗ trợ đất đai và tái định cư chưa theo kịp thực tiễn; phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý các KKT Hải Phòng chưa đồng bộ; công tác phối hợp liên ngành giữa Ban Quản lý với các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân quận, huyện còn chậm trễ; hoạt động xúc tiến đầu tư thời kỳ đầu còn chú trọng số lượng hơn chất lượng, dẫn tới việc thu hút một số dự án quy mô nhỏ và công nghệ thấp. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống theo khung lý thuyết khoa học quản lý (hoạch định, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra giám sát, điều chỉnh) về quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững các KCN gắn với địa bàn cụ thể là thành phố Hải Phòng.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với vấn đề phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Bốn mục tiêu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa và luận giải có chọn lọc cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng, tổng kết kinh nghiệm quốc tế và trong nước để rút ra bài học cho Hải Phòng;
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN tại Hải Phòng (thành tựu, tồn tại và nguyên nhân);
- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN trên địa bàn Hải Phòng.
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu chủ yếu:
- Thứ nhất: Vấn đề quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững các KCN tại Hải Phòng được tiếp cận từ quan điểm, khái niệm nào? Nội dung, tiêu chí đánh giá và những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN?
- Thứ hai: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các KCN tại Hải Phòng thời gian qua diễn ra như thế nào và những vấn đề gì đang đặt ra?
- Thứ ba: Cần thực hiện các giải pháp gì để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững các KCN tại thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, thực tiễn và giải pháp quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững các KCN trên địa bàn thành phố Hải Phòng dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chức năng quản lý nhà nước gồm: xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách; tổ chức thực thi chiến lược, quy hoạch, chính sách; thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động KCN.
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát dữ liệu thực tiễn tại các KCN Hải Phòng trong giai đoạn 2012 – 2016; các định hướng và giải pháp được xây dựng cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tổng quan tài liệu quốc tế được tác giả phân chia theo các nhóm chủ đề:
- Nghiên cứu về phát triển bền vững chung và phát triển bền vững công nghiệp:
- Báo cáo Our Common Future của Ủy ban Brundtland (WCED, 1987) xác lập định nghĩa nền tảng về phát triển bền vững.
- Estes (1993) phân tích giá trị, rào cản và đề xuất chương trình hành động phát triển bền vững toàn cầu.
- Atkinson và cộng sự (1999) xây dựng hệ thống chỉ tiêu bền vững dựa trên 3 nguồn vốn: vốn con người (Human capital), vốn cấu trúc (Structural capital) và vốn tự nhiên (Natural capital).
- O’Connor (2006) đề xuất mô hình tứ giác 4 trụ cột gồm kinh tế, xã hội, môi trường tự nhiên và hệ thống điều tiết chính trị thông qua quá trình đồng tiến hóa (coevolution).
- Simon Bell và Stephen Morse (2008) phát triển bộ chỉ số đo lường phát triển bền vững với góc tiếp cận định tính.
- Mayer thiết lập hệ trục tọa độ 4 chiều đánh giá quỹ đạo cân bằng của hệ thống (system trajectory) trước nguy cơ xảy ra thảm họa đứt gãy (catastrophic event).
- Nghiên cứu phát triển bền vững khu công nghiệp:
- Walcott (2003) khảo sát vai trò của các công viên khoa học công nghệ Trung Quốc trong việc liên kết ngành và chuyển giao công nghệ, đồng thời dẫn chứng chính sách phân vùng ưu đãi KCN của Thái Lan thành 3 vùng kinh tế.
- Park và Ahn (2003) nghiên cứu khu Wongok tại Ansan (Hàn Quốc) về tác động của lao động nhập cư, áp lực nhà ở và chuyển đổi KCN truyền thống thành KCN sinh thái.
- Roberts (2004) tại Australia xác lập các nguyên tắc sinh thái công nghiệp và hướng dẫn quy hoạch KCN sinh thái nhằm chia sẻ hạ tầng, tiết kiệm nguyên vật liệu.
- Jan Harmsen và Joseph B. Powell nghiên cứu việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thông qua mô hình khép kín chuỗi sản xuất công nghiệp.
- Nghiên cứu quản lý nhà nước đối với KCN:
- Michael Porter (cuốn Clusters and the New Economics of Competition) định nghĩa cụm công nghiệp là sự tập trung địa lý của các doanh nghiệp có liên kết dọc và ngang, chỉ ra vai trò điều tiết và chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với năng lực cạnh tranh.
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào các mảng:
- Quá trình phát triển và mô hình tổ chức KCN: Báo cáo của Viện Kinh tế học (1994); các nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2000, 2002, 2006, 2011, 2012); Trần Ngọc Hưng (2004); Nguyễn Chơn Trung và Trương Giang Long (2004).
- Mô hình KCN sinh thái và chuyển dịch cơ cấu: Nguyễn Cao Lãnh (2004) nghiên cứu KCN sinh thái; Nguyễn Kế Tuấn (2005) nghiên cứu tái cơ cấu công nghiệp; Hoàng Văn Châu (2010) khảo sát chính sách công nghiệp hỗ trợ.
- Khía cạnh môi trường và xã hội: Chử Văn Chừng (2006); Báo cáo môi trường quốc gia năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010); Lê Hà Thanh, Bùi Trinh, Dương Mạnh Hùng (2011) ứng dụng mô hình cân đối liên ngành, liên vùng phân tích ô nhiễm; Nguyễn Bình Giang (2012) phân tích tác động xã hội vùng của KCN; Lam Giang (2013) nghiên cứu dịch vụ tiện ích KCN tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hoàng Sỹ Động (2011) đánh giá hiệu quả sử dụng đất ở Đồng bằng sông Hồng.
- Phát triển bền vững KCN tại các địa phương: Vũ Thành Hưởng (2006, 2010) nghiên cứu vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; Huỳnh Thanh Nhã (2008) tại Cần Thơ; Ngô Thúy Quỳnh (2009) tại Vĩnh Phúc; Hoàng Hà và Ngô Thắng Lợi (2009) tại Hưng Yên; Nguyễn Hải Bắc (2010) và Phan Mạnh Cường (2015) tại Thái Nguyên; Ngô Sỹ Bích (2014) tại Bắc Ninh.
- Quản lý nhà nước đối với KCN: Luận án tiến sĩ của Chế Đình Hoàng (1996) dưới góc độ quy hoạch đô thị Hà Nội; luận án của Lê Tuyển Cử (2003) về thể chế bộ máy quản lý KCN Hà Nội; Đặng Hùng (2005) về quản lý đất đai KCN.
- Các công trình về Hải Phòng: Trần Huy Năng (1994) về xuất nhập khẩu qua khu chế xuất; Nguyễn Huy Tưởng (1996) về quản lý nhà nước KCN, KCX; Đan Đức Hiệp (2012) với cuốn sách "25 năm thu hút vốn FDI tại Hải Phòng"; Đào Văn Hiệp nghiên cứu về FDI và chuyển dịch cơ cấu ngành.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây tại Hải Phòng chủ yếu tiếp cận riêng lẻ về thu hút FDI, thúc đẩy xuất khẩu hoặc quy hoạch kỹ thuật. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: thiết lập khung lý luận quản lý nhà nước về phát triển bền vững KCN theo các chức năng quản lý, phân tích toàn diện 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường dựa trên dữ liệu điều tra thực nghiệm tại các KCN Hải Phòng, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp quản lý nhà nước cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm khu công nghiệp: Luận án tổng hợp hai quan điểm quốc tế và quy định tại Nghị định 36/NĐ-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ: KCN là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
- Khái niệm phát triển bền vững KCN: Tác giả kế thừa định nghĩa của WCED (1987), ADB và đề xuất định nghĩa riêng: Phát triển bền vững khu công nghiệp là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế cao, liên tục, ổn định và dài hạn của bản thân KCN; các doanh nghiệp trong KCN sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường bên trong cũng như bên ngoài KCN.
- Nội dung quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN: Khung phân tích được cấu thành từ 4 nội dung:
- Xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách phát triển bền vững KCN;
- Ban hành khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động KCN;
- Tổ chức thực thi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách quản lý;
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong KCN.
| Nhóm trụ cột |
Tiêu chí đánh giá nội tại KCN |
Tiêu chí tác động lan tỏa |
| Kinh tế |
- Vị trí đặt KCN - Tỷ lệ lấp đầy KCN - Quy mô, tốc độ tăng trưởng sản lượng, giá trị gia tăng - Trình độ công nghệ (vốn/lao động, vốn/dự án, chi phí R&D) - Mức độ thỏa mãn nhu cầu nhà đầu tư (hạ tầng, giá dịch vụ) - Liên kết sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp |
- Tỷ trọng đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp địa phương - Kim ngạch xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư - Tác động đến hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào |
| Xã hội |
- Giải quyết hài hòa lợi ích giữa người lao động và chủ sử dụng - Thu nhập bình quân, chính sách bảo hiểm xã hội - Cung ứng dịch vụ xã hội (nhà ở công nhân, thiết chế văn hóa) - Đào tạo và sử dụng lao động địa phương |
- Giải quyết việc làm cho người dân mất đất nông nghiệp - Tác động nhân khẩu học và an ninh trật tự địa bàn |
| Môi trường |
- Ban hành và tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật môi trường - Xây dựng, vận hành trạm xử lý nước thải tập trung - Tỷ lệ áp dụng sản xuất sạch hơn, công nghệ giảm phát thải - Hoạt động thanh tra, quan trắc và chế tài xử lý vi phạm |
- Mức độ ảnh hưởng nguồn nước, không khí dân cư xung quanh - Xử lý chất thải rắn và bùn thải công nghiệp |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét các KCN trong mối quan hệ vận động giữa kinh tế, xã hội và sinh thái của địa phương.
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Thu thập, tổng hợp báo cáo quản lý, số liệu thống kê của các Sở, Ban, Ngành Hải Phòng, văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học giai đoạn 2012 – 2016.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Thiết kế bảng hỏi khảo sát thực nghiệm tiến hành từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2016.
- Cỡ mẫu doanh nghiệp: 63 doanh nghiệp thuộc 4 KCN tiêu biểu trên địa bàn Hải Phòng (Đình Vũ, Nomura, Đồ Sơn, Tràng Duệ).
- Cỡ mẫu lao động: 945 người lao động làm việc tại 4 KCN nêu trên.
- Nội dung phiếu điều tra: Đánh giá môi trường kinh doanh, tổn thất điện nước, công tác xử lý nước thải, thu nhập, bảo hiểm xã hội, điều kiện nhà trọ và đời sống công nhân.
- Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn sâu): Thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu với các nhà quản lý, cán bộ chuyên trách tại các cơ quan: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Công Thương và Ban Quản lý các KKT Hải Phòng. Quá trình phỏng vấn đạt điểm bão hòa thông tin ở cuộc thứ 28; tác giả thực hiện thêm 2 cuộc để kiểm chứng độ đồng thuận trước khi dừng lại ở quy mô 30 chuyên gia.
- Phương pháp so sánh, đối chứng và dự báo: So sánh các chỉ tiêu tăng trưởng, thu hút đầu tư của Hải Phòng với các trung tâm công nghiệp khác, đối chiếu thực trạng với các tiêu chí bền vững đã xác lập; áp dụng phương pháp dự báo để xác định bối cảnh đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích các lý thuyết phát triển bền vững từ Báo cáo Brundtland (1987) đến mô hình tứ giác của O'Connor (2006) và hệ chỉ tiêu của Atkinson (1999). Đối với KCN, chương này điểm lại kinh nghiệm mô hình KCN sinh thái tại Australia (Roberts, 2004), kinh nghiệm phân vùng ưu đãi phát triển tại Thái Lan (Walcott, 2003) và giải quyết nhà ở cho lao động nhập cư tại KCN Wongok, Hàn Quốc (Park & Ahn, 2003).
Điểm lại các công trình trong nước, chương 1 khẳng định phần lớn nghiên cứu trước đây chỉ giải quyết từng mặt cắt riêng rẽ như cơ chế một cửa tại ban quản lý, công tác quy hoạch kỹ thuật, xử lý môi trường hoặc giải quyết việc làm. Tác giả chỉ rõ khoảng trống: thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống hóa hoạt động quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN áp dụng cho Hải Phòng, từ đó xác lập mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp tiếp cận của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, bản chất của phát triển bền vững KCN trên 3 trụ cột và xác lập khung nội dung quản lý nhà nước. Tác giả xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững KCN gồm nhóm tiêu chí nội tại (tỷ lệ lấp đầy, trình độ công nghệ, hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ môi trường, chế độ cho công nhân) và nhóm tiêu chí tác động lan tỏa (đóng góp ngân sách, thúc đẩy liên kết vùng, cải thiện hạ tầng đô thị).
Chương này cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước gồm: thể chế chính sách quốc gia, năng lực bộ máy của Ban Quản lý các KKT, sự phối hợp giữa các sở ngành địa phương, ý thức tuân thủ của doanh nghiệp và đặc điểm vị trí địa kinh tế. Ngoài ra, tác giả phân tích kinh nghiệm quản lý KCN của các quốc gia và một số địa phương trong nước, rút ra 5 bài học kinh nghiệm cho Hải Phòng về quy hoạch hạ tầng đồng bộ, chọn lọc dự án FDI công nghệ sạch, xây dựng hạ tầng xã hội cho người lao động, nâng cao hiệu lực phân cấp quản lý và hoàn thiện thanh tra, giám sát môi trường.
Chương 3: Thực trạng quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng
Chương 3 tập trung phân tích số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 – 2016 và dữ liệu điều tra thực nghiệm cuối năm 2016 tại Hải Phòng.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN Việt Nam, Hải Phòng có 17 KCN được quy hoạch với tổng diện tích đất tự nhiên được phê duyệt:
- 5 KCN (quy mô 4.544 ha) nằm trong KKT Đình Vũ - Cát Hải: Đình Vũ, Nam Đình Vũ, Nam Tràng Cát, KCN - Đô thị VSIP, Tràng Duệ.
- 12 KCN (tổng diện tích 5.166 ha) nằm ngoài KKT Đình Vũ - Cát Hải.
- Hiện trạng thực hiện hạ tầng: 06 KCN đã vận hành và thu hút nhà đầu tư thứ cấp, gồm KCN Đình Vũ (46 DN), KCN Tràng Duệ (23 DN), KCN - Đô thị VSIP (16 DN), KCN Nomura (55 DN), KCN Đồ Sơn (24 DN), KCN Nam Cầu Kiền (14 DN); 02 KCN đang xây dựng hạ tầng (Nam Đình Vũ, An Dương).
| Tên khu công nghiệp |
Hiện trạng triển khai |
Số doanh nghiệp thứ cấp đầu tư |
Vị trí theo quy hoạch |
| KCN Đình Vũ |
Đang hoạt động |
46 doanh nghiệp |
Trong KKT Đình Vũ - Cát Hải |
| KCN Tràng Duệ |
Đang hoạt động |
23 doanh nghiệp |
Trong KKT Đình Vũ - Cát Hải |
| KCN - Đô thị VSIP |
Đang hoạt động |
16 doanh nghiệp |
Trong KKT Đình Vũ - Cát Hải |
| KCN Nomura |
Đang hoạt động |
55 doanh nghiệp |
Ngoài KKT |
| KCN Đồ Sơn |
Đang hoạt động |
24 doanh nghiệp |
Ngoài KKT |
| KCN Nam Cầu Kiền |
Đang hoạt động |
14 doanh nghiệp |
Ngoài KKT |
| KCN Nam Đình Vũ |
Đang xây dựng hạ tầng |
Đang triển khai |
Trong KKT Đình Vũ - Cát Hải |
| KCN An Dương |
Đang xây dựng hạ tầng |
Đang triển khai |
Ngoài KKT |
Dữ liệu khảo sát thực địa của luận án (tại Bảng 3.1 đến Bảng 3.6 và các biểu đồ) chỉ ra các kết quả định lượng:
- Về kinh tế: Thu hút vốn FDI và DDI tăng nhanh tại KCN Đình Vũ, Tràng Duệ và Nomura. Tuy nhiên, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp phụ trợ nội địa còn hạn chế; một số doanh nghiệp phản ánh tổn thất do sự cố cấp điện và chất lượng nguồn nước cấp.
- Về môi trường: Một số KCN đã lấp đầy nhưng chưa xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung hoặc có trạm nhưng không vận hành do vướng mắc cơ chế giá thu phí dịch vụ xử lý nước thải giữa công ty hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp. Kết quả điều tra doanh nghiệp về theo dõi và xử lý ô nhiễm cho thấy việc giám sát phát thải chưa được thực hiện đồng bộ.
- Về xã hội: Khảo sát 945 người lao động cho thấy tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề còn chiếm tỷ lệ cao; thu nhập bình quân giữa các vị trí có sự chênh lệch lớn; tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội tính đến tháng 6/2017 chưa đạt độ bao phủ toàn diện; phần lớn công nhân phải thuê nhà trọ dân sinh ngoài hàng rào KCN với điều kiện sinh hoạt chật hẹp, thiếu các thiết chế văn hóa, y tế và nhà trẻ.
Đánh giá tổng quát, công tác quản lý nhà nước tại Hải Phòng đạt được thành tựu trong cải cách thủ tục hành chính tại Ban Quản lý theo cơ chế "một cửa tại chỗ", thu hút được một số tập đoàn lớn. Tuy nhiên, tồn tại các hạn chế: quy hoạch phát triển cụm công nghiệp (CCN) chưa hoàn thiện làm cơ sở phân bổ lộ trình đầu tư; quy định giải phóng mặt bằng, đất đai và khu tái định cư chậm điều chỉnh; sự phối hợp giữa Ban Quản lý KKT với UBND quận/huyện và các sở chuyên ngành chưa chặt chẽ; hoạt động thanh tra liên ngành còn chồng chéo hoặc bị buông lỏng ở khâu giám sát môi trường sau cấp phép.
Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp tại thành phố Hải Phòng
Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế (tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng) và bối cảnh trong nước (chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu của Việt Nam và định hướng xây dựng Hải Phòng thành thành phố cảng xanh, văn minh, hiện đại). Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý nhà nước trọng tâm:
- Hoàn thiện quy hoạch các KCN tại Hải Phòng: Rà soát quy hoạch 17 KCN; chuyển đổi một số KCN tập trung sang mô hình KCN sinh thái và KCN chuyên ngành; quy hoạch đồng bộ mạng lưới CCN để làm vệ tinh sản xuất; tích hợp quy hoạch dải hạ tầng ngoài hàng rào (giao thông kết nối cảng biển, mạng cấp điện, thoát nước, khu nhà ở công nhân và hạ tầng xã hội).
- Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Ban Quản lý các KKT Hải Phòng: Tiếp tục thực hiện phân cấp, ủy quyền triệt để từ các Bộ ngành Trung ương và UBND thành phố cho Ban Quản lý theo hướng cơ chế "một cửa, tại chỗ" toàn diện trên các lĩnh vực đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động và thương mại; kiện toàn bộ máy và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ công chức.
- Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành: Xây dựng và ban hành quy chế phối hợp rõ ràng giữa Ban Quản lý với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Công Thương và UBND các quận, huyện nơi có KCN; phân định rõ thẩm quyền giải quyết bồi thường giải phóng mặt bằng, quản lý trật tự xây dựng và giữ gìn an ninh trật tự xã hội.
- Hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động KCN: Thống nhất đầu mối thanh tra để tránh gây phiền hà cho doanh nghiệp; tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất về việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, kiểm soát việc xả nước thải và khí thải; giám sát việc chấp hành pháp luật lao động, an toàn vệ sinh lao động và nghĩa vụ bảo hiểm xã hội; kiên quyết áp dụng chế tài xử lý hoặc thu hồi giấy phép đối với các dự án chậm tiến độ, sử dụng đất kém hiệu quả hoặc cố tình gây ô nhiễm môi trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Bổ sung cơ sở lý luận và luận cứ khoa học về quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN, cụ thể hóa các khái niệm, đặc điểm, phân loại KCN gắn với yêu cầu bền vững ba trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường).
- Thiết lập khung nội dung quản lý nhà nước đối với KCN theo tiếp cận chức năng khoa học quản lý: hoạch định chiến lược - chính sách, ban hành khung pháp lý, tổ chức thực thi quy hoạch và thanh tra giám sát.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí định tính và định lượng đánh giá mức độ phát triển bền vững KCN cả ở phương diện nội tại KCN và tác động lan tỏa đến kinh tế - xã hội địa phương.
- Tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước về quản lý KCN, làm rõ khả năng áp dụng vào điều kiện cụ thể của các thành phố cảng công nghiệp tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng phát triển và công tác quản lý nhà nước đối với 17 KCN theo quy hoạch tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2012 – 2016, lượng hóa tình hình qua số liệu điều tra tại 4 KCN (Đình Vũ, Nomura, Đồ Sơn, Tràng Duệ).
- Phát hiện những nút thắt thể chế và thực thi tại Hải Phòng: vướng mắc giải phóng mặt bằng, bất cập trong thỏa thuận chi phí vận hành trạm xử lý nước thải tập trung, sự thiếu đồng bộ giữa phát triển KCN và nhà ở công nhân, tình trạng chậm trễ trong phối hợp liên ngành và phân cấp ủy quyền.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với KCN Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn 2030, phân kỳ thực hiện rõ ràng theo 4 nhóm giải pháp chuyên biệt.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất
Luận án đề xuất hệ thống kiến nghị cụ thể:
- Đối với Quốc hội và Chính phủ: Sớm hoàn thiện khung pháp lý về KCN, KKT; ban hành nghị định sửa đổi, bổ sung quy định rõ địa vị pháp lý, cơ chế phân cấp và ủy quyền đồng bộ cho Ban Quản lý KKT cấp tỉnh; ban hành cơ chế chính sách ưu đãi riêng cho mô hình KCN sinh thái, KCN đô thị - dịch vụ.
- Đối với các Bộ, ngành Trung ương: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn đồng bộ quy trình thanh tra chuyên ngành, bàn giao đầu mối thẩm định môi trường và lao động cho Ban Quản lý KKT.
- Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng: Ban hành quy chế phối hợp bắt buộc giữa các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện với Ban Quản lý các KKT; phê duyệt quy hoạch tổng thể mạng lưới CCN thành phố; dành quỹ đất và nguồn vốn ngân sách giải phóng mặt bằng xây dựng nhà ở xã hội, bệnh viện, trường học phục vụ công nhân KCN; kiên quyết dừng cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, khảo sát thực nghiệm định lượng của luận án chỉ tập trung thực hiện tại 4 KCN đang hoạt động tiêu biểu (Đình Vũ, Nomura, Đồ Sơn, Tràng Duệ) trên tổng số các KCN tại Hải Phòng; cỡ mẫu điều tra dừng lại ở 63 doanh nghiệp và 945 người lao động. Khung dữ liệu thứ cấp khảo sát thực trạng tập trung chính vào giai đoạn 2012 – 2016.
- Hướng nghiên cứu tiếp sau: Tác giả kiến nghị mở rộng phạm vi điều tra sang toàn bộ các KCN và CCN mới thành lập trên địa bàn Hải Phòng; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế định giá và chia sẻ chi phí dịch vụ hạ tầng bảo vệ môi trường giữa công ty phát triển hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp; xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động của liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp FDI trong KCN với các doanh nghiệp nhỏ và vừa địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ các nhóm đối tượng:
- Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Quản lý công và Kinh tế tài nguyên môi trường; cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp khảo sát doanh nghiệp, người lao động và phỏng vấn sâu chuyên gia.
- Nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Ban Quản lý các KKT Hải Phòng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng trong việc rà soát quy hoạch, thẩm định dự án đầu tư và hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành.
- Chính quyền các địa phương có KCN: Cung cấp bài học kinh nghiệm về giải quyết mâu thuẫn giữa thu hút đầu tư với bảo vệ môi trường, quản lý nhà ở công nhân và giải phóng mặt bằng cho các tỉnh, thành phố đang đẩy mạnh công nghiệp hóa.
- Phần đáng tham khảo nhất: Khung nội dung 4 chức năng quản lý nhà nước tại Chương 2, hệ thống dữ liệu điều tra thực nghiệm tại Chương 3 và 4 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
Luận án tiến hành khảo sát thực địa tại những khu công nghiệp nào của Hải Phòng và quy mô mẫu là bao nhiêu?
Tác giả tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát thực địa từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2016 tại 4 KCN đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hải Phòng gồm: KCN Đình Vũ, KCN Nomura, KCN Đồ Sơn và KCN Tràng Duệ. Quy mô mẫu khảo sát bao gồm 63 doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh và 945 người lao động làm việc trực tiếp tại các doanh nghiệp trong 4 KCN này. Ngoài ra, tác giả đã thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ, chuyên gia thuộc các Sở, Ban, Ngành của thành phố Hải Phòng.
Tình hình quy hoạch và hiện trạng phát triển các KCN tại Hải Phòng tính đến thời điểm nghiên cứu của luận án như thế nào?
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển các KCN Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thành phố Hải Phòng có 17 KCN được quy hoạch. Trong đó:
- 5 KCN có quy mô 4.544 ha nằm trong Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải (gồm Đình Vũ, Nam Đình Vũ, Nam Tràng Cát, KCN - Đô thị VSIP, Tràng Duệ).
- 12 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên 5.166 ha nằm ngoài Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải.
- Về hiện trạng: có 06 KCN đã xây dựng hạ tầng, đang hoạt động và thu hút nhà đầu tư thứ cấp (Đình Vũ với 46 DN; Nomura với 55 DN; Đồ Sơn với 24 DN; Tràng Duệ với 23 DN; VSIP với 16 DN; Nam Cầu Kiền với 14 DN); 02 KCN đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng (Nam Đình Vũ và An Dương).
Tác giả chỉ ra những bất cập chủ yếu nào từ góc độ quản lý nhà nước đối với các KCN Hải Phòng?
Về phương diện quản lý nhà nước, các tồn tại chính bao gồm:
- Cơ chế, chính sách quản lý đất đai, bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người dân bị thu hồi đất chưa phù hợp với thực tiễn;
- Thành phố chưa xây dựng được quy hoạch phát triển hệ thống các cụm công nghiệp (CCN) để làm căn cứ lập kế hoạch và lộ trình đầu tư;
- Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý các KKT Hải Phòng trong một số lĩnh vực chưa thực hiện đầy đủ, thiếu thống nhất;
- Công tác phối hợp giải quyết vướng mắc giữa các sở, ban, ngành, UBND quận, huyện với Ban Quản lý còn chậm trễ;
- Hoạt động xúc tiến đầu tư chậm đổi mới nội dung, giai đoạn đầu thu hút chưa chọn lọc nên còn nhiều dự án quy mô nhỏ, hàm lượng công nghệ thấp.
Luận án đưa ra định nghĩa như thế nào về phát triển bền vững khu công nghiệp?
Luận án định nghĩa: Phát triển bền vững khu công nghiệp là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế cao, liên tục, ổn định và dài hạn của bản thân KCN; các doanh nghiệp KCN sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực, góp phần thực hiện trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường trong và ngoài KCN.
Bốn nhóm giải pháp trọng tâm được luận án đề xuất tại Chương 4 là gì?
Bốn nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững KCN tại Hải Phòng gồm:
- Hoàn thiện quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố gắn với quy hoạch cụm công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật - xã hội ngoài hàng rào;
- Nâng cao vai trò, vị thế quản lý nhà nước của Ban Quản lý các KKT Hải Phòng thông qua cơ chế phân cấp, ủy quyền triệt để;
- Tăng cường quy chế phối hợp công tác giữa Ban Quản lý với các Sở, Ban, Ngành và UBND các quận, huyện;
- Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát liên ngành và tăng cường chế tài xử lý các vi phạm về môi trường, đất đai và lao động.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với phát triển bền vững khu công nghiệp theo khung tiếp cận chuyên ngành Quản lý kinh tế. Trên cơ sở phân tích dữ liệu thực trạng 17 KCN theo quy hoạch và khảo sát thực nghiệm 63 doanh nghiệp, 945 người lao động cùng 30 chuyên gia tại Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2016, công trình đã làm rõ những thành tựu cùng các bất cập về thể chế, hạ tầng xử lý chất thải và an sinh xã hội. Luận án đã đề xuất bốn nhóm giải pháp quản lý nhà nước đồng bộ và hệ thống kiến nghị cụ thể đối với các cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng nhằm thúc đẩy các KCN phát triển bền vững đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.