phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được kết cấu gồm có 4 chương sau: C ơ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu C ơ 2. Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về lao động nước ngoài C ơ g 3. Thực trạng quản lý nhà nước về lao động nước ngoài ở các KCN thuộc vùng Bắc Trung Bộ C ơ 4.
Quan điểm, giải pháp bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về lao động nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lý luận về lao động di trú Nhóm các công trình nghiên cứu về khái niệm ộng di trú: Lao động di trú có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở cả nước tiếp nhận và nước xuất khẩu lao động và ngày càng trở thành xu hướng phổ biến trên thế giới.
Kể từ khi ILO ban hành một số điều ước về NLĐ di trú từ những năm 1930 đến nay đã có nhiều văn kiện quốc tế về vấn đề này, trong đó quan trọng nhất là Công ước ICRMW năm 1990 của Liên hợp quốc. Điều này thể hiện sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề lao động di trú và thực tiễn cấp bách của việc xây dựng khuôn khổ pháp luật về NLĐ di trú trên thế giới. Ở khu vực ASEAN, hiện nay mới chỉ có một số quốc gia tham gia Công ước ICRMW [70, tr.36], mặc dù vậy, vấn đề lao động di trú đang đặt ra nhiều thách thức và đòi hỏi sự hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực để cùng giải quyết. Ở Việt Nam, thuật ngữ “NLĐ di trú” chủ yếu chỉ được sử dụng trong giới học thuật, nghiên cứu mà ít được sử dụng trong pháp luật và các văn bản khác của nhà nước.
NLĐ di trú thường được nhắc đến với ý nghĩa NLĐ phổ thông của Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở các nước khác và ngược lại, và cũng có thể được sử dụng với những cách gọi khác nhau. Theo Nguyễn Bình Giang và tập thể tác giả - Viện Kinh tế và Chính trị thế giới Viện Khoa học xã hội Việt Nam tại cuốn sách chuyên khảo:“D ể ộng qu c tế”, NXB Khoa học xã hội, 2011, Hà Nội thì “di chuyể ộng qu c tế” chính là s di chuyển sứ ộng từ c khác nhằm tìm kiếm ơ ội việc làm và thu nh p t ơ ơ ở u”[71, tr 64]. Trong khi đó, nghiên 7 cứu của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân (CRIGHTS) cho rằng: “ ể ộng dù ở cấ ộ qu , ơ ,k c hay toàn c ó ển c a NLĐ từ thị ờ ộ ến thị ờ ộng khác nhằm c l i ích (tiề ơ , ) ơ ộng c a h trong khu v c, ngành, liên ngành, liên qu c gia, giữa các doanh nghiệ , ũ ệc chuyển dị ơ m ệc. Quá trình di chuyển này thể hiện s ơ ề cung và c u c a thị ờ ộng.
Di chuyể ộng là kết quả c a việ ơ mại hóa l ộng và là một biểu hiện tr c tiếp c a việc t ó giá trị c ộng. Nhìn chung, dòng chảy c ộng giữa các vùng, khu v c sẽ giúp thu hẹp khoảng cách tiề ơ ữa các vùng hay khu v c, tạo ra ộng l ẩy thị ờ ộng phát triển” [71, tr. Bài viết “K ô khổ pháp lý qu c tế về bảo vệ NLĐ ” của nhóm tác giả Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao hay cuốn sách “L ộng di trú: mộ x ng toàn c u, một nỗ l c toàn c u” của nhóm tác giả Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao đều có đề cập những nội dung quan trọng nhất của pháp luật quốc tế về lao động di trú đồng thời khái quát sự phát triển của pháp luật quốc tế về bảo vệ lao động di trú; Tóm lược nội dung các văn kiện của Liên hiệp quốc, ILO về lao động di trú; Những vấn đề lao động di trú tại quốc gia và khu vực. Theo Từ điển tiếng Việt, “ ” có nghĩa là: (1) dời đến ở nơi khác, (2) (hiện tượng một số loài chim, thú) hàng năm chuyển đến sống ở nơi ấm áp, để tránh rét; “di cư” có nghĩa là: (1) dời đến ở một miền hay một nước khác để sinh sống, (2) như di trú [70].
Như vậy, “di trú” và “di cư” đều có nghĩa là đến ở nơi khác và có thể hiểu như nhau. Ngoài ra, khái niệm “di trú” mang tính tạm thời ở nơi khác, còn khái niệm “di cư” mang tính dứt khoát, đi ở nơi khác. Trên thực tế hai khái niệm “di trú” và “di cư” không có sự phân biệt rõ ràng. Cũng là thuật ngữ “Migrant worker” nhưng khi dịch sang tiếng Việt có hai cách dịch khác nhau [70, tr.
Theo Tổ chức di cư quốc tế tại Việt Nam “Migrant 8 worker” được dịch là NLĐ di cư, bên cạnh đó theo nhiều sách nghiên cứu thì thuật ngữ này được dịch là NLĐ di trú. Theo Từ điển Oxford advanced learner’s dictionary, “Migrant” có nghĩa là một người chuyển từ nơi này đến nơi khác để tìm việc hoặc một loài chim, một loài động vật chuyển từ nơi này đến nơi khác theo mùa [70, tr. Như vậy, “Migrant worker” dịch là NLĐ di trú sẽ hợp lý hơn, thể hiện tính tạm thời di chuyển của NLĐ để tìm việc, phân biệt với người di cư di chuyển để tìm nơi ở mới. Nhìn chung, về mặt ngôn ngữ, NLĐ di trú được hiểu là NLĐ tạm thời di chuyển từ vùng này sang vùng khác để tìm việc.
Có thể là di chuyển từ vùng này đến vùng khác trong phạm vi biên giới của một quốc gia hoặc là di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác [70, tr. Ở cấp độ quốc tế, khái niệm NLĐ di trú theo Công ước ICRMW được nhiều nước công nhận. Điều 2 Công ước ICRMW định nghĩa: NLĐ di trú (Migrant worker) là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân [70, tr. Như vậy, khái niệm NLĐ di trú trong Công ước ICRMW không bao hàm NLĐ đến làm việc ở nơi khác vẫn thuộc nước mà người đó là công dân.
Điều này có thể do các nguyên nhân sau: Thứ nhất, do Công ước ICRMW là văn bản pháp lý quốc tế. Vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Công ước chỉ liên quan đến những vấn đề mang tính chất quốc tế. NLĐ di chuyển trong phạm vi một quốc gia là vấn đề mang tính nội bộ của quốc gia đó nên không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước. Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm của NLĐ di trú là những người dễ bị tổn thương khi họ phải xa tổ quốc để đến một nước khác làm việc.
Họ không phải là công dân của nước đến nên không được hưởng các quyền công dân ở nước sở tại. Đồng thời, họ phải đối mặt với những khó khăn nảy sinh tại quốc gia nơi họ đến như bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, tập quán,… Ngay cả NLĐ di trú “sẽ” làm việc ở một nước khác cũng gặp phải những vấn đề khó khăn như: họ phải lo các chi phí học tiếng, học nghề, phương tiện đi 9 sang nước khác làm việc, ký kết hợp đồng làm việc, đặt cọc tiền… Nhìn chung, khái niệm NLĐ di trú trong Công ước ICRMW khá rộng, nó không phụ thuộc vào NLĐ đó đã làm việc ở nước khác chưa, công việc họ làm là gì và việc làm đó có được pháp luật của các nước công nhận hay không. Điều này cho thấy sự quan tâm chủ yếu của Công ước là NLĐ di trú và các biện pháp bảo vệ họ hơn là các biện pháp để quản lý họ. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Cuốn sách chuyên khảo “L ộng di trú trong pháp lu t qu c tế và Việt Nam” đã chỉ ra: “D c tế vì việc làm là kết quả tất yếu và là một yêu c u c a quá trình toàn c u hóa về kinh tế.
Nó mang lại nhiều l i ích cho nền kinh tế thế gi i nói chung, nền kinh tế c a nhiều qu ó ê , ũ ề , ê , ó ũ ềm ẩn nhữ k ók ă , ức mà các Chính ph và NLĐ di trú khắp nơ ả i mặ , ó ạng NLĐ bị phân biệ i xử, bị bóc lột và th m chí bị xâm phạm các quyền và l í ơ ản cả ở c gửi c nh ộng”. Ngoài ra, Báo cáo nghiên cứu về tình hình di trú quốc tế ở Đông và Đông Nam Á cho rằng: Di cư quốc tế bao gồm lao động di trú là hiện tượng kinh tế - xã hội có tính quy luật, giữa các quốc gia có những điểm chung nhưng có những nét khác biệt giữa các nước và khu vực [143]. Lý thuyết hiện đại về di cư được thể hiện qua các số liệu nghiên cứu. Tác giả Mauro Testaverde, Harry Moroz, Claire H.
Hollweg, Achim Schmillen (2017), “D â ể tìm kiếm ơ ộ V t rào cản dịch chuyể ộng ở Đô N m Á” cũng có đề cập đến sự dịch chuyển hiện nay của lao động Đông Nam Á; những rào cản và thách thức đối với di cư lao động; vấn đề cải thiện chính sách của các quốc gia… [181]. Như vậy, ở các nghiên cứu về lao động di trú đi trước, các tác giả đều có đồng quan điểm về tính tất yếu của lao động di trú diễn ra trên phạm vi toàn thế giới trong bối cảnh hội nhập trong đó có Việt Nam, đồng thời cho rằng: Lao động di trú là khái niệm dùng chỉ một người di trú từ nước này sang 10 nước khác để làm việc vì lợi ích của chính mình và bao gồm bất kỳ người nào đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú. Nhóm các công trình nghiên cứu về ịnh c a pháp lu t về lao ộng di trú: Bảo vệ quyền của lao động di trú được xem là vấn đề quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Quyền của lao động di trú được bảo đảm và bảo vệ bởi pháp luật quốc tế và pháp luật của từng quốc gia.
Công ước ICRMW có 46 thành viên [171], là văn kiện pháp lý quốc tế có ảnh hưởng rộng nhất trong việc giải quyết vấn đề NLĐ di trú.