CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án 1. Nhóm công trình nghiên cứu về bán hàng đa cấp Các nghiên cứu điển hình về vấn đề này bao gồm: Theo Richard Poe (2013), nổi tiếng với tác phẩm Làn sóng thứ 4 – Kinh doanh theo mạng thế kỉ 21, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về bán hàng đa cấp, sự phát triển của lĩnh vực này được chia làm 4 giai đoạn (Giai đoạn thứ nhất (1940-1979); Giai đoạn thứ 2 (1980 - 1989); Giai đoạn thứ 3 (1990 - 1999); Giai đoạn thứ 4 (2000 đến nay)). Tác giả khẳng định: Trong vòng 80 năm qua, trải qua 4 giai đoạn phát triển, bán hàng đa cấp đã thực sự phát triển và trở thành một kênh bán hàng, phân phối hợp pháp và hiệu quả.
Nếu như trước kia, bán hàng đa cấp được xem như là một dạng kinh doanh không chính thức, thậm chí là phi pháp, không được xuất hiện tại các tờ báo, tại các cuộc họp hay tại các doanh nghiệp thì hiện nay, nó đã thoát khỏi sự cô lập và kỳ thị. Ngày nay, vai trò quan trọng của bán hàng đa cấp trong nền kinh tế thế giới đã được thừa nhận rộng rãi. Công chúng xem bán hàng đa cấp như là một giải pháp cho vấn đề việc làm – một vấn đề nóng của xã hội hiện đại. Các doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã hòa nhập vào thế giới doanh nghiệp nói chung và phương thức bán hàng đa cấp được rất nhiều các doanh nghiệp sử dụng.
Cùng với thương mại điện tử, bán hàng đa cấp đã tạo thành một làn sóng mới trong hoạt động kinh doanh, thương mại hiện nay.Sreekumar (Viện Chartered – các nhà phân tích tài chính của Ấn Độ, Tại Hội nghị quốc tế về tiếp thị và xã hội, 8/10/2007) thì bán hàng đa cấp là việc bán hàng cá nhân, việc bán được hàng phụ thuộc vào sự giới thiệu. Bán hàng đa cấp được xem xét lại do khái niệm bán hàng đa cấp hoạt động dựa trên đòn bẩy về thời gian. Có nghĩa là, một tác phẩm được thực hiện bởi bạn trong 100 ngày, có thể được hoàn thành trong 1 ngày nếu bạn có 100 người theo bạn (trong một chuỗi) làm trong 1 ngày làm việc. Bạn kiếm được phần trăm ưu đãi cho các công việc được thực hiện bởi 100 người.
Theo Robert Fitzpatrick, một chuyên gia hàng đầu về mô hình kim tự tháp, trong một lần được phỏng vấn, đã có những nhìn nhận rất thẳng thắn, thực tế và bản chất về bán hàng đa cấp, hay mô hình kinh doanh theo kiểu kim tự tháp. Theo tác giả, chương trình kim tự tháp là một bí ẩn lớn ở Mỹ, rất ít người hiểu. Đó là toán học đơn giản nhưng lại khó nắm bắt. Bán hàng đa cấp lúc đó được coi là một mô hình kinh doanh mới.
Hầu hết mọi người biết đến mô hình này vào những năm 8 1990, mặc dù mô hình kinh doanh đã xuất hiện vào khoảng những năm 80, hoặc thậm chí trong cả những năm 70. Và thực sự doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình này đã tăng lên ở khắp mọi nơi. Mặc cho thị trường của các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống đã bão hòa, số lượng doanh nghiệp và người tham gia, người tiêu dùng ở phương thức này không ngừng tăng lên. Tuy nhiên đây là một mô hình mới, không tránh khỏi có những sai sót, và tác giả khẳng định mô hình có khuynh hướng tiềm ẩn những gian lận.
Theo John Kalench trong cuốn: Cơ hội thuận lợi nhất trong lịch sử loài người (2002), NXB Thế giới, Hà Nội thì bán hàng đa cấp bất chính là hiện tượng được xuất hiện những năm cuối của thập kỉ 60 thế kỉ 20 bởi thương nhân Mỹ - Glen Turner. Dưới góc độ pháp lý, các cơ quan có thẩm quyền ở Mỹ thường đưa ra định nghĩa về bán hàng đa cấp bất chính trong phán quyết của Ủy ban thương mại liên bang đối với vụ kiện Công ty Koscot Interplanetery, Inc: “Kinh doanh đa cấp bất chính là mô hình mà trong đó người tham gia phải trả một khoản tiền cho công ty để được quyền bán sản phẩm và được quyền nhận tiền thưởng từ việc tuyển những người khác tham gia vào chương trình mà những khoản thu nhập đó không liên quan đến việc bán sản phẩm cho người tiêu dùng thực sự” Theo Cục Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương, trong cuốn “Hỏi – đáp về bán hàng đa cấp” (2011) cũng đã đưa ra những quy định chung khi tìm hiểu về bán hàng đa cấp như khái niệm, một số nhận thức sai lầm về bán hàng đa cấp, hàng hóa được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp, doanh nghiệp bán hàng đa cấp, người tham gia đa cấp, hợp đồng tham gia đa cấp. Theo Sở Công thương Thành phố Hà Nội, trong cuốn “Tìm hiểu một số quy định về hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp” (2018) đã tổng kết một số quy định của Nhà nước trong kinh doanh đa cấp theo 13 phần: Phần 1: Quy định chung về kinh doanh theo phương thức đa cấp Phần 2: Quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp khi chưa được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Phần 3: Doanh nghiệp bán hàng đa cấp Phần 4: Người tham gia bán hàng đa cấp Phần 5: Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp Phần 6: Đào tạo cơ bản đối với người tham gia bán hàng đa cấp Phần 7: Thẻ thành viên bán hàng đa cấp Phần 8: Quy định về giao, nhận, trả lại, mua lại hàng hóa Phần 9: Quy định về hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác trả cho người tham gia bán hàng đa cấp 9 Phần 10: Quy định về quản lý bán hàng đa cấp ở địa phương Phần 11: Quy định về tổ chức hội nghị, hội thảo về bán hàng đa cấp ở địa phương Phần 12: Thu hồi, chấm dứt giấy chứng nhận đăng kí hoạt động bán hàng đa cấp Phần 13: Xử lý vi phạm trong hoạt động bán hàng đa cấp Chủ yếu những quy định này là tổng kết, hệ thống lại một số văn bản hiện hành quản lý bán hàng đa cấp ở Việt Nam. Tác giả Bùi Trung Thướng với bài báo, bài nghiên cứu của mình: Quản lý bán hàng đa cấp tại Việt Nam.
Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Thương mại, 2011, số 17, tr 14-17, đã tóm tắt sự hình thành bán hàng đa cấp tại Việt Nam, các văn bản pháp luật về bán hàng đa cấp. Đồng thời tác giả khảo sát, tổng kết thực trạng bán hàng đa cấp trên thế giới và tại Việt Nam tại thời điểm năm 2011. Tác giả Lê Hoàng Vũ trong bài nghiên cứu: Những tình huống bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam (2010), Đại học Ngoại thương đã tìm hiểu về bán hàng đa cấp: Khái niệm bán hàng đa cấp; Lịch sử về quá trình hình thành và đôi nét về bán hàng đa cấp; Đặc điểm của bán hàng đa cấp: nguyên lý phát triển của hệ thống bán hàng đa cấp, so sánh giữa bán hàng truyền thống và bán hàng đa cấp, ưu điểm của bán hàng đa cấp, những bất cập của kinh doanh đa cấp. Và tác giả đã phân tích sự khác biệt giữa bán hàng đa cấp chân chính và bán hàng đa cấp bất chính, đưa ra những đặc điểm nhận diện bán hàng đa cấp bất chính, đưa ra những tình huống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam xuất hiện ở thời điểm 2010, đó là: các công ty BHĐC yêu cầu người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, yêu cầu người tham gia trả phí cho các khóa đào tạo, hội thảo., cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp… Bài viết “Điều chỉnh pháp luật đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính” của Th.s Lê Anh Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 9/2006, trang 44-50.
Trong bài viết thì sau khi đưa ra 2 cách hiểu về hành vi bán hàng đa cấp bất chính, và đưa ra 4 đặc điểm nhận dạng của hành vi bán hàng đa cấp bất chính; tác giả có những liên hệ với các quy định của Hoa Kỳ, Canada, Đài Loan về điều chỉnh, xử lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính. Nhóm công trình nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại Theo 2 tác giả: Đào Minh Hồng và Lê Hồng Hiệp trong cuốn Sổ tay Thuật 10 ngữ Quan hệ Quốc tế (2013), Khoa Quan hệ quốc tế – Đại học KHXH&NV TPHCM thì các nhà kinh tế học cổ điển không phủ định sự tồn tại khách quan của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, họ chỉ chống lại sự can thiệp sâu, cứng nhắc, quá mức của Nhà nước (sản phẩm của tư tưởng Trọng thương). Suy cho cùng, chủ nghĩa trọng thương tin rằng nhà nước cần phải quản lý điều hành nền kinh tế nhằm đạt được lợi ích quốc gia, được thể hiện qua sự giàu có, quyền lực, và danh tiếng. Chủ nghĩa trọng thương không quan tâm đến việc cải thiện cuộc sống của con người hay thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia trong hệ thống thế giới.
Mục tiêu hàng đầu của cách tiếp cận này là tối đa hóa an ninh quốc gia và quyền lực, đồng thời xem hoạt động kinh tế như là một phương tiện để đạt được những mục đích này. Theo cuốn sách “Sự giàu có của các quốc gia” (1776), Adam Smith (1723- 1790), nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh, cho rằng Nhà nước chỉ cần thực hiện 3 chức năng cơ bản: bảo đảm môi trường hòa bình, không để xảy ra nội chiến, ngoại xâm; tạo ra môi trường thể chế cho phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật; và cung cấp hàng hóa công cộng. Ngoài 3 chức năng cơ bản đó, tất cả các vấn đề còn lại đều có thể được giải quyết ổn thỏa và nhịp nhàng bởi “bàn tay vô hình” Theo tác phẩm nổi tiếng: “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (1936), John Maynard Keynes (1884 - 1946), nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh với cuộc cách mạng về lý thuyết kinh tế trong đó nhấn mạnh vai trò của “bàn tay hữu hình” điều tiết nền kinh tế của Nhà nước. Chính phủ có thể can thiệp vào nền kinh tế thông qua công cụ chính sách tài khóa.
Keynes nhấn mạnh Chính phủ nên cung ứng những kích thích ban đầu bằng những chương trình kinh tế công cộng. Cách thức can thiệp của Chính phủ như vậy sẽ dẫn đến hiệu ứng số nhân cho nền kinh tế.