Chương 1 nghiên cứu sinh đã tiến hành tập hợp và khái quát một số các công trình nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước về DLST, các nhân tố ảnh hưởng đến DLST và quản lý DLST. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cho việc tién hành nghiên cứu dé tài của mình. Việc tổng quan nghiên cứu sẽ giúp nghiên cứu sinh xây dựng khung lý thuyết, mô hình, các khái niệm và thang đo nghiên cứu ở các chương tiép theo của luận án. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LÝ DU LICH SINH THÁI 2.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của du lịch sinh thái 2. Khái niệm du lịch sinh thái DLST (ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và khá rộng, từ những góc độ tiếp cận khác nhau mà DLST được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo những cách khác nhau. Theo Lê Bá Huy (2006) trong cuốn “Du lịch sinh thai” đã tổng kết thì DLST còn được biết đến bằng nhiều tên gọi khác nhau như: - Du lịch bền vững (Sustainable tourism), - Du lịch xanh (Green tourism), - Du lịch thiên nhiên (Natural tourism), - Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural-based tourism), - Du lịch môi trường (Environmental tourism), - Du lịch bản xứ (Indigenous tourism), - Du lịch thám hiểm (Adventure tourism), - Du lịch đặc thù (Particular tourism), - Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism), - Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism), - Du lịch nhà tranh (Cottage tourism). Tuy nhiên, dù là với tên gọi nào chăng nữa thi DLST phải hội đủ các yếu tố cần đó là sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường cũng như trách nhiệm với xã hội và cộng đồng ( Lê Bá Huy, 2006).
Hector Ceballos-Lascurain được nhiều người thừa nhận là người đã đặt ra thuật ngữ DLST. Năm 1981, Ceballos-Lascurain bắt đầu sử dụng thuật ngữ turisimo ecologico trong tiếng Tây Ban Nha dé chi các hình thức DLST. Thuật ngữ này sau đó được rút ngăn thành ecoturismo vào năm 1983, ông nhấn mạnh răng DLST có thể trở thành một công cụ rất quan trọng để bảo tồn. Và sau đó, trong một bài báo Tương lai của DLST , ông định nghia“DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, 14 trân trọng, thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá được khám phá trong những khu vực này”., 1990) Tiếp theo đó, các nhà nghiên cứu cũng lần lượt bổ sung và đưa ra những định nghĩ khác nhau về DLST.
Theo Wood (1991), DLST đồng nghĩa với việc du khách đến những vùng đất vẫn giữ được tính hoang sơ, với mục đích hiéu rõ về lịch sử, môi trường tự nhiên, và văn hóa mà không tác động tiêu cực đến tính nguyên vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời, DLST tạo ra những cơ hội kinh tế dé hỗ trợ công tác bảo tồn tự nhiên, đồng thời mang lại lợi ích tài chính cho người bản địa (Wood. Swanson (1992) cho biết, DLST là du lịch, thường đến các nước đang phát triển đến các khu vực tự nhiên tương đối yên tĩnh dé nghiên cứu, tận hưởng hoặc hỗ trợ tình nguyện liên quan đến hệ thực vật, động vật, địa chất và hệ sinh thái của một khu vực — cũng như những người (người chăm sóc) sống gần đó, nhu cầu, văn hóa của họ và mối quan hệ với đất đai (Pearmain D. Hay theo như quan điểm của Hens (1998), DLST được định nghĩa đơn giản như là việc du lịch tại những vùng đất vẫn giữ được tính chất hoang sơ, không bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp của con người.
Đồng thời, DLST cần góp phan vào công tác bảo tồn thiên nhiên và đem lại lợi ích cho cộng đồng người bản địa. Hens, 1998) Theo Hiệp hội DSLT Australia, DLST được định nghĩa là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và tập trung vào môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có lợi cho sinh thái. Hay theo như Hiệp hội DLST Hoa Kỳ (1998) DLST là du lịch với mục đích khám phá các khu vực tự nhiên, hiểu biết về lich sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường mà không gây biến đổi tình trạng của hệ sinh thái. Đồng thời, nó cung cấp cơ hội dé phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn TNTN và mang lại lợi ích tài chính cho người bản dia (Wood M.
Theo Honey (1999) có một cách hiểu khác về DLST, đây là một dạng du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sơ, thường được bảo vệ với mục đích giảm thiểu tác động và quy mô nhỏ nhất có thé. DLST không chỉ giáo dục du khách, mà còn tạo quỹ đê bảo vệ môi trường. Đặc biệt, nó mang lại nguôn lợi kinh tê trực 15 tiếp và tự quản lý cho người bản địa. Đồng thời, nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người (Honey M.
Theo Lê Huy Bá (2000), DLST là một dạng du lịch tập trung vào việc khám phá và trải nghiệm các hệ sinh thái đặc biệt và tự nhiên dé phục vụ những du khách yêu thiên nhiên, muốn khám phá, và thưởng thức cảnh đẹp tự nhiên, đồng thời có thé là nghiên cứu về các hệ sinh thái. DLST được xem là sự kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch, giới thiệu vẻ đẹp của quốc gia, cùng với nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền, và bảo vệ môi trường và TNTN một cách bền vững (Lê Bá Huy, Lâm Minh Triết, 2000). Ngoài những khái niệm ở trên cũng có một số khái niệm được nêu ra bởi các tổ chức du lịch trong và ngoải nước được nhiều được các nhà nghiên cứu khoa học dé cập và áp dụng trong công trình mô hình nghiên cứu của mình. Vi dụ như theo Hiệp hội DLST Quốc tế (2007) “DLST ("The International Ecotourism Society, ") là du lịch có trách nhiệm đối với các khu vực tu nhiên nhằm bảo tôn môi trường, duy trì cuộc sống của người bản địa đồng thời liên quan đến việc diễn giải, giáo dục thúc day nhận thức về giá trị tự nhiên, môi trường và văn hóa địa phương.” Trong hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triên DLST ở Việt Nam năm 1999 đã đưa ra khái niệm về DLST “DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho người bản địa và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tôn”.
Hay như trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngăn gọn “DLST là hình thức du lich dựa vào thiên nhiên, gắn với ban sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát trién bền vững”. Và theo quy chế quan lý các hoạt động DLST tại các vườn quốc gia, khu bảo tổn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành năm 2007, thì DLST được hiểu là “DLST: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gan với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”. Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra định nghĩa chung nhất của DLST là: DLST 16 là hình thức du lịch dựa vào tự nhiên, gắn với văn hóa bản sắc địa phương. Nó giúp giáo dục cho du khách hiểu biết về lịch sử văn hóa, môi trường, không làm biến đổi tinh trạng của hệ sinh thái.
Ngoài ra, việc trải nghiệm DLST còn với mục dich tạo ra các cơ hội về kinh tế trên nguyên tắc giữ gìn và bảo tồn thiên nhiên, đem lại nguồn lợi cho người bản địa ở đó. Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái Thứ nhất, tính đa thành phan: Các hoạt động DLST nhìn chung mang đặc trưng đa thành phần bởi có sự tham gia của nhiều thành phần như: khách du lịch, nhân viên phục vụ du lịch, tổ chức chính phủ, phi chính phủ, tô chức tư nhân. Mặc dù đa thành phần nhưng các thành phan này tham gia hỗ trợ và kết hợp lẫn nhau dé hoạt động DLST đem lại hiệu quả tốt nhất. Thứ hai, tính da ngành: DLST mang tính đa ngành bởi lẽ DLST đã va đang khai thác tiềm năng của rất nhiều đối tượng lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Ngày nay, DLST đã bao quát được rất nhiều lĩnh vực đa dạng: văn hóa, động thực vật, ầm thực, .Không chỉ thế, DLST còn được khai thác ở rất nhiều địa phương chứ không chỉ tập trung tại một địa điểm nhất định. Thứ ba, tính da mục tiêu: DLST khác với các loại du lịch khác bởi đặc trưng quan trọng này. Đặc trưng tính đa dạng này của DLST được thể hiện qua các lợi ích, mà DLST đem lại cho thiên nhiên, cộng đồng. DLST góp phần bảo tồn nguồn TNTN, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa.
Các hoạt động này về lâu dài góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng của khách du lịch. Không chỉ dừng lại ở đó, tính đa mục tiêu của DLST còn thể hiện ở việc góp phần mở rộng về giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, các quốc gia trên thé giới. Ngoài ra là nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người trong xã hội về bảo tồn thiên nhiên, văn hóa. Thứ tư, tính liên vùng: Đặc trưng tính liên vùng của DLST được thé hiện ở việc xuất hiện một quần thể các khu du lịch tại một vùng, một khu vực, một quốc gia.
Tại các quần thể du lịch này, sẽ có các tuyến du lịch khác nhau nhưng chúng ở gần nhau và được hợp nhất thành một quan thé. Trong quan thé có thé có nhiều hoạt động tham quan phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực. 17 Thứ năm, tính mùa vụ: Đặc trưng tính mùa vụ của DLST được hiểu là hoạt động du lịch diễn ra sôi nỗi nhất vào mùa nào của năm. Tùy từng kiểu thời tiết, mùa vụ ngày tháng trong năm sẽ có các hoạt động DLST khác nhau.
Nói theo cách khác, hoạt động DLST phong phú và thay đổi theo từng mùa “mùa nào thức ấy”. Cỏ thé vào mùa hè các hoạt động du lịch bién, du lịch thé thao sẽ phát triển mạnh nhưng mùa đông loại hình du lịch này sẽ kém phát triển thay vào đó là những hoạt động du lịch trong nhà, du lịch đền chùa, ngắm tuyết, " Thứ sáu, tính chỉ phí: Đặc trưng chỉ phí được thể hiện không phải là tiền và mục đích kiếm tiền mà mục đích du lịch ở đây chính là sử dụng, tiêu dùng và hưởng thụ các sản phẩm du lịch.