Chương 1 là kết quả của việc nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố liên quan đến van đề nghiên cứu của luận án nhằm: - Phân tích thành tựu, các kết quả nghiên cứu trước đó dé tiếp tục kế thừa va phát triển các vấn đề nghiên cứu liên quan; - Nhận diện những điểm mà công trình chưa đề cập đến để xác định những khoảng trống trong nghiên cứu; - Đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu (về lý luận và thực tiễn). Tổng quan nghiên cứu về di động xã hội và thu hút nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao 1. Nghiên cứu về vấn dé thu hút nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao * Các nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN CLC Khái niệm NNL KH&CN CLC có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng đều hàm chỉ đội ngũ lao động có trình độ tay nghề trở lên có tham gia vào hoạt động KH&CN, thuật ngữ này đôi khi tương đồng với thuật ngữ nhân lực KH&CN. NNL KH&CN CLC là lực lượng lao động đặc biệt mang tư duy đôi mới và năng lực sáng tạo dé tạo ra những sản phim KH&CN đóng góp cho quá trình phát triển của tổ chức, của các quốc gia.
Thuật ngữ NNL KH&CN CLC được xem xét trên cả hai phương diện: trình độ chuyên môn và kỹ năng tay nghề (cao). Theo "Cam nang Canberra"!, Nhân lực KH&CN có thể được chia thành hai loại chính: Nhân lực KH&CN cấp độ ĐH và Nhân lực KH&CN cấp kỹ thuật viên. Hướng dẫn "Canberra Manual" được dựa trên cả khái niệm về trình độ hoc van và nghề nghiệp, liên quan đến giáo dục đại học hoặc một nghề nghiệp trong một lĩnh vực KH&CN. Theo đó, khái nệm NNL KH&CN tập trung chủ yếu đến trình độ của nhân lực, cho dù trình độ có được thông qua đào tạo chính quy, hay qua công việc (nghề thuộc chuyên ngành KH&CN).
Hướng nghiên cứu này chỉ ra các danh mục vi trí và bậc nghé, tuy nhiên hạn chế của tiếp cận này là không kịp thích ứng với nhưng loại hình nhân lực KH&CN mới hoặc các thang bậc có thể bị lạc hậu so với điều kiện thực tế. Nhân lực KH&CN được nhận diện chất lượng thông qua bằng cấp hay chứng chỉ học, nghề cụ thé mà họ đã có. Theo Hồ Ngọc Luật, NNL KH&CN của Việt Nam bao gồm những người có trình độ từ cao dang trở lên và những người tuy chưa được cấp bằng cao đăng chính quy nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương cao đăng trở lên. NNL KH&CN CLC Ia lực lượng lao động KH&CN có hoc ' Một khuôn khổ khái niệm quốc tế đã được đồng ý đã được cùng phát triển bởi OECD và Eurostat để đo lường được cái gọi là nguôn nhân lực dành cho khoa hoc và công nghệ (HRST).
Nó được gọi là "Cam nang Canberra". 21 vấn, có trình độ chuyên môn từ ĐH trở lên, nhất là có khả năng đáp ứng các yêu câu phức tạp và luôn thay đổi của công việc để tạo ra năng suất và hiệu quả cao, đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung. Một hướng nghiên cứu khác khá phổ biến hiện nay là thuật ngữ NNL KH&CN CLC gắn liền với tiếp cận đổi mới. Theo OECD, NNL KH&CN (HRST) là những chủ thé chính trong khoa học, công nghệ và đổi mới (science, technology and innovation).
NNL KH&CN bao gồm cả những người tiém tang/ tiềm nang chứ không chỉ là những người đang tham gia hoạt động KH&CN, dé khi cần thiết có thé huy động những những đối tượng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN. Khái niệm “chất lượng cao” theo quan điểm này đồng nghĩa với khái niệm talent gan với đổi mới (innovation) - NNL cho đổi mới - được xác định bởi kiến thức, kỹ năng, năng lực và các thuộc tính tạo thuận lợi cho việc tạo ra phúc lợi cá nhân, xã hội và kinh tế - đó là một đầu vào thiết yếu cho sự đổi mới [OECD, 2012]. Theo nghiên cứu của David G. Collings, Kamel Mellahi, Wayne F.
Cascio trong cuốn sách The Oxford Handbook of Talent Management (2017), khái niệm Talent: được hiểu là những người thực hiện các công việc chiến lược, trong đó hiệu suất cá nhân điển hình góp phần vào lợi thé cạnh tranh của một tổ chức. Theo nhóm tác giả, Talent management là quá trình mà thông qua đó các tô chức đáp ứng được nhu cầu của họ đối với tài năng trong các công việc chiến lược [David G. Collings, Kamel Mellahi, Wayne F. Thuật ngữ "quản ly tài nang" thường gắn liền với quản lý dựa trên năng lực (competency-based management).
Như đã phân tích ở trên khái niệm talent, những năng lực mà nhóm nhân lực này có có thể (1) do vốn sẵn có không cần đào tạo, (2) do năng lực sẵn có được phát triển qua quá trình dao tạo, học hỏi. Như vậy, có thé thay dé đánh giá nhân tài trong lĩnh vực KH&CN có thé qua (1) những thành tựu họ đạt được (trình độ, bằng cấp, đóng góp.) và (2) tác động của thành tực đó được mọi người đánh giá. Khoa học mang tính mới, công nghệ mang tính chính xác. Năng lực của nhân lực KH&CN không chỉ đánh giá qua 22 các tiêu chí chủ quan hay định lượng băng trình độ, bằng cấp mà còn qua đánh giá khách quan của CỘNG ĐÔNG thông qua giá trị, sự đóng góp và tác động của các thành tựu nghiên cứu của nhân lực đó.
Trường hợp những nhà bác học, các nhà khoa học như Newton, Ensteins.mặc dù có thé có hay không có bang cấp chứng minh năng lực thì CỘNG ĐÔNG vẫn thừa nhận họ là các nhân tài. Sự khác biệt là trong lĩnh vực KH&CN, ý tưởng và năng lực biến ý tưởng thành sản phâm nghiên cứu được coi là một tiêu chí đánh giá năng lực. Theo An Ran; Meng Jie; Zhang Xiaojing (2017), nhân lực KH&CN là chìa khóa mục tiêu cho đôi mới quốc gia. Tại Mỹ, quản lý tài năng trong lĩnh vực KH&CN thông qua việc (1) nhấn mạnh việc dao tạo nhân tài về đổi mới, (2) giới thiệu và duy trì mạng lưới nhân tài nước ngoài và các tài năng đổi mới công nghệ, (3) Thiết lập chế độ dao tạo tai năng [An Ran; Meng Jie; Zhang Xiaojing, 2017, tr.
Tại Việt Nam, từ các cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu trong nước sử dụng các định nghĩa khác nhau dé cùng nói đến một đối tượng lực lượng lao động đặc biệt: “nhân lực CLC”, “nhân lực tài năng”, “nhân tai” với nhiều quan điểm khác nhau, tiêu chí khác nhau và gắn với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực khoa học. Trong các văn bản chính sách, khái niệm “CLC” khi nói đến NNL còn khá chung chung. Khái niệm về “nhân lực CLC” và “nhân tai/tai năng” được sử dụng nhiều và được dùng thay thế lẫn nhau nhưng cũng có sự khác biệt nhất định. Trong Luật KH&CN 2013, Điều 3 đề cập khái niệm Cá nhân hoạt động KH&CN là người thực hiện hoạt động KH&CN.
Tại Việt Nam, từ các cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu trong nước sử dụng các định nghĩa cụ thể như: “nhân lực CLC”, “nhân lực tài năng”, “nhân tai” với nhiều quan điểm khác nhau, tiêu chí khác nhau và gắn với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực khoa học. Thuật ngữ NNL KH&CN CLC theo tiếp cận về lý thuyết hệ thống. Theo nghiên cứu gan đây nhất của Dé tài KX.01/16-20 về Chính sách quản lý DĐXH doi với NNL KH&CN CLC trong bối cảnh hội nhập quốc tế, có thé hiểu khái niệm nhân lực KH&CN CLC từ tiếp cận DĐXH, không chỉ xem xét chất lượng nhân lực qua địa vi xã hội mà nhân lực đó có. Bởi lẽ chất lượng nhân lực thể hiện qua bang 23 cấp trước khi nhân lực làm việc cho tổ chức chỉ được coi là một yếu tố điều kiện đầu vào (inputs) của tô chức, cũng giống như các tiêu chí như thé lực, văn hóa.mà nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới.
Trong phạm vi của luận án, tác giả lựa chọn phân tích các đặc điểm của nhân lực KH&CN trong các trường đại học — với vai trò của một thành tố của hệ thống đổi mới (innovation). Cộng đồng KH&CN trong trường ĐH có lẽ là một trong những cộng đồng có nhiều nét đặc thù nhất. Đó là một cộng đồng luôn hướng tới sự tìm tòi, khám phá băng lao động trí tuệ và đóng góp cho nhân loại những sản phẩm của lao động trí tuệ. Vì vậy, nghiên cứu các khía cạnh xã hội của cộng đồng này là một việc làm cần thiết mang nhiều ý nghĩa.
Chất lượng của NNL này không chỉ được đánh giá qua băng cấp mà còn dựa vào kinh nghiệm DĐXH và các năng lực ở dạng tiềm năng. * Các nghiên cứu về DĐXH và van dé chảy chất xám, tuần hoàn chất xám Theo tiếp cận xã hội học, khái niệm di động (mobility) được hiểu là sự thay đôi của một hay nhiều cá thé giữa các đơn vị được quy định của một hệ thống. Khái niệm DĐXH được hình thành trong quá trình hình thành các lý thuyết cơ bản trong xã hội học, là nền tảng cho việc vận dụng nghiên cứu về DĐXH. Bàn về DĐXH và cách mạng kỹ thuật, năm 1939, học gia người Anh J.
Bernal đã giới thiệu khái niệm "Cách mạng khoa học - kỹ thuật" trong tác phẩm "The Social Function of Science" (Chức năng xã hội của khoa học) dé mô tả vai trò mới của khoa học - kỹ thuật trong tiến trình phát triển của xã hội. Các cuộc cách mạng khoa học và cách mạng khoa học kỹ thuật từ cuối thế ky XVII dén thé ky XX không chi dẫn đến sự biến đôi các khung mau xã hội (paradigma) mà còn tao ra tiền dé dé các nhà khoa học có điều kiện và môi trường nghiên cứu và ngược lại. Đây là một trong những nghiên cứu đã chỉ ra phân tích tính di động của NNL khoa học tách bạch với các luồng di cư và gắn với các thành tựu từ cuộc Cánh mạng khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, còn có nhiều nghiên cứu tập trung vào phát triển lý thuyết về DĐXH như: Anthony Giddens “Tinh DDXH” (trong Introductory Sociology); 24 Elekxander Matejko: “Các điểu kiện tâm lý xã hội của lao động trong các nhóm khoa học”; Stuart S.Blume: “Siw phán tang và các chuẩn mực khoa hoc” (trong Toward a political Sociology of Science).
Các tac giả và tác pham sau đây đều có đề cập đến DĐXH ở những giác độ khác nhau: Neil J.Smelser: “Sociology” (1988); Joel M.Charon: “Sociology Aconceptual approach” (1989); The new introducing Sociology (1992); Harold R.Kerbo: “Social Stratification and Inequality” (1996).