Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến quản lý đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo tiếp cận đảm bảo chất lượng 1. Các nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Đào tạo được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, kết nối toàn bộ các hoạt động trong các cơ sở giáo dục. Mục tiêu đào tạo luôn thống nhất với mục tiêu phát triển của mỗi nhà trường và chất lượng đào tạo sẽ tạo nên chất lượng, thương hiệu của nhà trường.
Ở nước ngoài, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đào tạo, QLĐT ở các cơ sở GDNN theo các cách tiếp cận khác nhau. Nhà giáo dục học người Nga X. Batusép (1982), trong cuốn sách: “Cơ sở giáo dục nghề nghiệp” đã viết “Giáo dục học và GDNN có những khác biệt. Dạy thực hành (dạy sản xuất) trong các trường dạy nghề là một đặc điểm, chính việc dạy thực hành là một bộ phận quan trọng nhất của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp” [69, tr.
Đề cập đến việc phát triển chương trình đào tạo, tác giả cho rằng khâu mấu chốt của QLĐT trong GDNN là xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực thực hiện của người học. Trong việc này, chủ thể quản lý phải tiến hành phân tích hoạt động nghề nghiệp và nhu cầu của người học, xây dựng hồ sơ năng lực người học, xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần tiếp tục hình thành, phát triển ở họ, trên cơ sở đó thiết kế và vận hành chương trình đào tạo theo các gói phát triển năng lực thực hiện của từng ngành nghề [93]. Cuốn sách: “Managing Training strategies for Developing Countries” (Chiến lược QLĐT ở các nước phát triển) của tác giả John E.Kerrigan và Jeff S. Tác giả Shirley Fletcher (1997), trong cuốn sách: “Designing Competence Based Training” (Thiết kế năng lực đào tạo cơ bản) một trong những tài liệu bàn sâu về đào tạo theo năng lực gắn với chuẩn đầu ra được ấn hành thập niên cuối Thế kỷ XX, đã đề cập đến các cơ sở khoa học của việc thiết lập các tiêu chuẩn đào tạo, các kỹ thuật phân tích nhu cầu người học và phân tích công việc, xây dựng mô đun của chương trình đào tạo để đạt tới chuẩn đầu ra [87].
Cuốn sách: “Managing TVET to meet Labor Makert Demand” (Quản lý TVET tương ứng với nhu cầu của thị trường lao động) của R.Noonan (1997), đã tiếp cận và đưa những kiến nghị đối với các cơ sở GDNN cần tuân thủ các 17 quy luật của thị trường trong quản lý GDNN, đặc biệt là quy luật cung cầu, GDNN gắn với nhu cầu về số lượng và chất lượng của doanh nghiệp, thị trường việc làm, nhu cầu của người học. Tác giả cũng đưa ra một số biện pháp quản lý GDNN đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động như: biện pháp xác định nhu cầu đào tạo theo thị trường lao động; biện pháp về quản lý hoạt động đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động [80]. Theo nhận định của các nhà khoa học Rothwell, W. Tác giả Vladimir Gasskov (2000), trong cuốn sách: “Managing vocational training systems” (Quản lý hệ thống đào tạo nghề) đã nêu ra những nội dung QLĐT chủ yếu là: quản lý cơ cấu tổ chức và nguồn lực con người trong đào tạo, thiết lập mục tiêu, kế hoạch đào tạo, quản lý nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo, quản lý tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, … [91].
Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF), Hiệp hội thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở nước ngoài (APEFE) của Vương quốc Bỉ và Tổng cục dạy nghề Việt Nam (nay là Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) (2012), đã ấn hành bộ tài liệu “Phương pháp tiếp cận theo năng lực trong đào tạo nghề” trong đó chỉ rõ việc triển khai một hệ thống đào tạo nghề dựa trên phương pháp tiếp cận theo năng lực nghề nghiệp mở đường cho việc áp dụng các bộ chuẩn năng lực, từ đó làm cơ sở cho việc xác 18 định chuẩn đầu ra, chuẩn đào tạo, kế hoạch đào tạo, xây dựng chuẩn đánh giá trong đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp [2]. Như vậy, cùng với những nghiên cứu về đào tạo, vấn đề QLĐT cũng được nhiều tổ chức, nhà khoa học và QLGD ở nước ngoài quan tâm. Ở lĩnh vực GDNN, tiến trình phát triển của các cơ sở GDNN gắn liền với sự phát triển hoạt động lao động của con người. Từ thời tiền sử với kiểu truyền nghề bắt chước tự nhiên, thời cổ đại với kiểu truyền nghề bắt chước có ý thức, thời trung cổ và phục hưng với kiểu truyền nghề có tổ chức, thời cận đại với hình thức GDNN chính quy và đến thời đương đại với hình thức GDNN phát triển.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về QLĐT ở các cơ sở GDNN của các tác giả nước ngoài đã chỉ rõ các nội dung của QLĐT và nghiên cứu sâu theo từng nội dung quản lý như mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp dạy học thực hành; đã phân tích các yếu tố tác động, yêu cầu, nguyên tắc, xu hướng,… của QLĐT trong GDNN, đặc biệt là quan hệ giữa GDNN với thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo và QLĐT ở lĩnh vực GDNN. Tác giả Nguyễn Viết Sự (2005), trong cuốn sách: “Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải pháp” đã nhận diện những vấn đề tồn tại phổ biến trong hệ thống GDNN của Việt Nam, từ chương trình, phương pháp, nội dung, đội ngũ giáo viên, chất lượng giảng dạy, khả năng thích ứng với môi trường làm việc, tác phong nghề nghiệp, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống GDNN, như chuẩn hóa các điều kiện ĐBCL, nhất là các điều kiện về chương trình, giáo trình, nhà giáo, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất… [49]. 19 Tác giả Phan Văn Kha (2007), trong cuốn: “Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã đưa ra các yêu cầu xã hội về năng lực của nguồn nhân lực trước bối cảnh kinh tế thị trường và các yêu cầu về tổ chức đào tạo nhằm hình thành và phát triển năng lực hành nghề cho người lao động; mà các yêu cầu về năng lực đó có thể được xem là chuẩn đầu ra cần được vận dụng trong đào tạo [36].
Cùng với những nghiên cứu về đào tạo, các nhà khoa học ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLĐT ở các cơ sở giáo dục nói chung và các trường trung cấp nói riêng. Tác giả Trần Khánh Đức (2010), trong cuốn sách: “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” đã đưa ra bốn chức năng cơ bản của quản lý đó là: (i) Dự báo và lập kế hoạch; (ii) Tổ chức; (iii) Lãnh đạo/ chỉ đạo; (iv) Kiểm tra đánh giá. Đây cũng là những chức năng phổ biến với mọi nhà quản lý, trong đó có quản lý nhà trường và QLĐT trong nhà trường [19]. Trong cuốn: “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục” tác giả Trần Kiểm (2013), đã chỉ ra những yếu tố đầu vào trong giáo dục, đào tạo cũng như đầu ra của giáo dục, đào tạo là con người sản phẩm đào tạo của nhà trường với nhân cách được hình thành và phát triển theo mục tiêu giáo dục.
Ở đây có thể hiểu mục tiêu giáo dục đó chính là chuẩn đầu ra của ngành đào tạo mà các cơ sở giáo dục và đào tạo phải đạt tới là phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài [37]. 20 Tác giả đã đề cập đến tiếp cận phức hợp, khi đó nhà quản lý nhìn nhận đối tượng quản lý như một chỉnh thể, các thành tố trong quá trình QLĐT gắn bó hữu cơ, tương tác lẫn nhau nên quản lý cũng cần có cái nhìn biện chứng, chất lượng ở đây là chất lượng tổng thể, có chăng các thành tố chủ đạo trong đào tạo sẽ cần được đầu tư, coi trọng cải tiến đúng mức nhằm đạt được chất lượng những mục tiêu. Cũng trong cuốn sách này, tác giả cho rằng cần tăng quyền tự chủ cho cơ sở đào tạo về ngân sách, nhân sự, chương trình dạy học. Cơ sở đào tạo là cơ sở có quyền ra quyết định, giải quyết các vấn đề nảy sinh ngay tại chỗ với sự tham gia đông đảo của các thành viên liên quan [37].
Nghiên cứu về QLĐT ở các cơ sở GDNN, trong đó có các trường trung cấp, tác giả Nguyễn Minh Đường (2006), trong đề tài cấp nhà nước KX 05 10: “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” đã xác định: chuẩn các trình độ, các ngành nghề trong hệ thống đào tạo là những yêu cầu khách quan từ thị trường lao động, nó xuất phát từ nhu cầu của các ngành kinh tế xã hội, các cơ sở GDNN phải căn cứ vào đó mà xây dựng mục tiêu đào tạo. Để có thể đánh giá theo chuẩn mực mục, tiêu đào tạo phải được thiết kế một cách rất cụ thể, rõ ràng theo thang giá trị nhất định của các tiêu chí về năng lực thực hiện hay năng lực chuyên môn nghề, hoặc năng lực thực hành nghề mà học sinh, sinh viên tốt nghiệp cần phải có [20]. Tác giả Phan Chính Thức (2003), trong luận án tiến sĩ: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cho rằng đào tạo nghề là quá trình phát triển một cách có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề 21 nghiệp; đào tạo nghề là nhằm hướng vào hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội. Mục tiêu đào tạo là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và được hiểu là chất lượng cần đạt tới đối với người học sau quá trình đào tạo.
Mục tiêu của đào tạo nghề được phân tích trên hai vấn đề: hiệu quả trong (nhân cách) và hiệu quả ngoài (chức năng và nhiệm vụ xã hội) [59]. Những nội dung trên mà tác giả Phan Chính Thức đưa ra đối với đào tạo nghề cũng chính là những vấn đề mà các trường trung cấp đang hướng tới.