Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Kinh tế Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

204
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1. Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến luận án

1.1.1. Khái quát kết quả các công trình đã công bố có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử

2.2. Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử

2.3. Kinh nghiệm đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử của một số quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

3.1. Khái quát về tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam

3.2. Tình hình thực hiện quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022

3.3. Đánh giá thực trạng quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HÀI HÒA QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

4.1. Quan điểm đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam

4.2. Giải pháp đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về thương mại điện tử và quan hệ lợi ích

Thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế số tại Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng trung bình hơn 20%/năm, Việt Nam được xếp vào nhóm 5 quốc gia có tốc độ phát triển TMĐT hàng đầu thế giới. Quan hệ lợi ích (QHLI) trong TMĐT là mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia, bao gồm doanh nghiệp, người tiêu dùng, trung gian và Nhà nước. Luận án này tập trung phân tích các mối QHLI trong lĩnh vực TMĐT, đặc biệt là loại hình B2C (Doanh nghiệp với Người tiêu dùng), chiếm tỷ trọng lớn tại Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của QHLI trong TMĐT

Quan hệ lợi ích trong TMĐT được định nghĩa là mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào quá trình mua bán trực tuyến, bao gồm doanh nghiệp, người tiêu dùng, trung gian và Nhà nước. Đặc điểm nổi bật của QHLI trong TMĐT là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể, trong đó lợi ích của một bên có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên khác. Ví dụ, việc doanh nghiệp cung cấp sản phẩm chất lượng thấp sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng và uy tín của trung gian.

1.2. Vai trò của QHLI trong phát triển TMĐT

Quan hệ lợi ích đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của TMĐT. Khi các mối QHLI được hài hòa, người tiêu dùng sẽ có niềm tin hơn vào các nền tảng mua sắm trực tuyến, doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường và tăng doanh thu, trong khi Nhà nước thu được nguồn thu từ thuế. Ngược lại, sự mất cân bằng trong QHLI có thể dẫn đến xung đột, làm suy giảm lòng tin của người tiêu dùng và cản trở sự phát triển của TMĐT.

II. Thực trạng QHLI trong TMĐT tại Việt Nam

Thực trạng quan hệ lợi ích trong TMĐT tại Việt Nam giai đoạn 2017-2022 cho thấy nhiều mâu thuẫn và xung đột. Các vấn đề như hàng giả, hàng cấm, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc trốn thuế trong TMĐT cũng gây thiệt hại lớn cho ngân sách Nhà nước.

2.1. Mâu thuẫn giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng

Một trong những mâu thuẫn nổi bật là việc doanh nghiệp cung cấp sản phẩm không đảm bảo chất lượng, giao hàng chậm hoặc hủy đơn hàng không có lý do. Điều này làm giảm lòng tin của người tiêu dùng vào TMĐT. Theo khảo sát, 68% người tiêu dùng lo ngại về chất lượng hàng hóa khi mua sắm trực tuyến, trong khi 52% lo ngại về việc thông tin cá nhân bị tiết lộ.

2.2. Vấn đề trốn thuế và bất công bằng

Hoạt động trốn thuế trong TMĐT đã gây ra sự bất công bằng giữa các doanh nghiệp. Ước tính mỗi năm ngành thuế thất thu khoảng 85% thuế phải thu từ các nền tảng số. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước mà còn tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.

III. Giải pháp đảm bảo hài hòa QHLI trong TMĐT

Để đảm bảo sự hài hòa trong quan hệ lợi ích trong TMĐT, luận án đề xuất một số giải pháp cụ thể. Nhà nước cần đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tiết và quản lý các hoạt động TMĐT, đồng thời tăng cường các chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và doanh nghiệp.

3.1. Tăng cường quản lý Nhà nước

Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến TMĐT, đặc biệt là các quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và chống trốn thuế. Đồng thời, cần tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong TMĐT.

3.2. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần nâng cao trách nhiệm trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, cần tuân thủ các quy định pháp luật về thuế và cạnh tranh để tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh.

13/02/2025
Luận án tiến sĩ quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về QHLI trong lĩnh vực TMĐT Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về QHLI trong lĩnh vực TMĐT Chương 3: Thực trạng QHLI trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp đảm bảo hài hòa QHLI trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG LĨNH VỰC THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Nhóm các nghiên cứu liên quan đến lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về lợi ích kinh tế Vấn đề lợi ích và LIKT đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Các công trình tập trung về những vấn đề lý luận: khái niệm, bản chất, nội dung, vai trò động lực của lợi ích và LIKT trong đời sống xã hội.

Điển hình có thể kể đến một số công trình tiêu biểu: Tác giả Adam Smith (1997) trong cuốn sách “Của cải của các dân tộc” cho rằng hàng động của mỗi người xuất phát từ lợi ích riêng của bản thân họ, “mỗi người đều có lợi ích riêng” [3, tr.123] và “không phải vì lòng nhân từ, rộng lượng của người hàng thịt, người làm rượu bia hay người làm bánh mì mà chúng ta có một bữa ăn, mà vì sự quan tâm của họ lợi ích riêng của họ” [3, tr. Vì xuất phát từ tính vị kỷ của con người, trong quá trình theo đuổi lợi ích cá nhân của mình, việc thực hiện lợi ích của chủ thế này có thể mâu thuẫn với lợi ích của chủ thể khác, thậm chí mâu thuẫn với lợi ích của xã hội: “lợi ích của giới chủ không có mối liên hệ với lợi ích chung của toàn xã hội… vì họ luôn luôn chỉ nghĩ đến lợi ích của ngành kinh doanh riêng của họ hơn là nghĩ đến lợi ích chung của toàn xã hội… Người buôn bán trong một ngành thương mại hay công nghiệp riêng biệt lại có lợi ích đôi khi khác và thậm chí còn ngược lại với lợi ích của quần chúng nhân dân” [3, tr. Nhưng nhìn một cách tổng quát thì việc mọi người theo đuổi lợi ích riêng của mình sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển của xã hội: “Khi theo đuổi lợi ích riêng, anh ta thực ra đã thúc đẩy lợi ích chung của toàn xã hội nhiều hơn là khi thực sự có ý định làm như vậy” [3, tr.460] “Từng cá nhân chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình, nhưng một “bàn tay vô hình” lại dẫn dắt họ 12 thúc đẩy lợi ích chung” [3, tr. Có thể thấy đây là những quan điểm rất tiến bộ và thực tế của Adam Smith về vấn đề lợi ích.

Từ rất sớm, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nhận thức và chỉ ra bản chất, vai trò quan trọng của lợi ích và LIKT đối với sự vận động và phát triển của xã hội. Trong “Những cuộc tranh luận về tự do báo chí và về việc công bố các biên bản của hội nghị của đẳng cấp”, C.Mác (1995) chỉ ra rằng, “tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành lấy đều dính liền với lợi ích của họ” [39, tr.Ăngghen cũng đã chỉ ra bản chất của lợi ích: “Những quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích’’ [41, tr. Lợi ích đóng vai trò quan trọng như vậy là vì, trong tiến trình lịch sử “chính lợi ích là cái liên kết các thành viên của xã hội” [41, tr.183] lại với nhau và bởi, những “con người độc lập chỉ liên hệ với người khác thông qua cái nút là lợi ích” [41, tr.Ăngghen đã khẳng định: "xét đến cùng mọi cuộc cách mạng đều được tiến hành vì để giải phóng về LIKT" [38, tr. LIKT được coi là một trong những động lực cơ bản của sự tiến bộ xã hội nói chung, của phát triển kinh tế - xã hội và sản xuất kinh doanh nói riêng.

Bên cạnh đó, LIKT còn là cơ sở hình thành và thực hiện các lợi ích khác. Vai trò này được C.Ăngghen chỉ rõ trong những cuộc đấu tranh giai cấp: “Động lực của toàn bộ lịch sử hiện đại.chính là cuộc đấu tranh của ba giai cấp lớn đó và những xung đột về lợi ích của họ” và “…trước hết, vấn đề là ở những LIKT - để thỏa mãn những LIKT thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm một phương tiện đơn thuần” [40, tr. Trong các tác phẩm của mình V. Lênin (1981) tiếp tục nghiên cứu cụ thể vấn đề LIKT trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, Lênin cho rằng cần phải thấy những lợi ích là khách quan khi nói: “Lợi ích thúc đẩy cuộc sống các dân tộc” [33, tr.82], đồng thời lợi ích là phạm trù có tính chất chủ thể - xác định, tức là bất kỳ một lợi ích nhất định nào cũng đều là cái vốn có của những chủ thể (những con người, những giai cấp,…) tương ứng.

13 Tác giả Đào Duy Tùng và các cộng sự (1982) trong cuốn sách “Bàn về LIKT” [80] cho rằng: LIKT là hình thức biểu hiện những quan hệ kinh tế, quan hệ giữa người và người trong sản xuất. Các tác giả cũng khẳng định vai trò, động lực quan trọng của LIKT trong các hoạt động kinh tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích mối quan hệ của ba LIKT: LIKT cá nhân, tập thể và xã hội, sự thống nhất căn bản và mối quan hệ hữu cơ, quyện vào nhau, thâm nhập vào nhau, giữa ba lợi ích đó. Các tác giả cũng thẳng thắn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ trong quản lý kinh tế của nhà nước trong giai đoạn này là chưa quan tâm đúng mức đến LIKT của mỗi cá nhân.

Vì vậy, các tác giả đã đề xuất cần quan tâm thích đáng đến lợi ích của cá nhân người lao động, làm cho lợi ích của người lao động được đáp ứng để họ hăng hái lao động. Nghiên cứu về những vấn đề lợi ích ở nước ta còn có tác giả Nguyễn Linh Khiếu (1999) với công trình “Lợi ích động lực phát triển xã hội”. Ông đã đưa ra những vấn đề lý luận về khái niệm, vị trí, vai trò của lợi ích. Ngoài ra, tác giả còn phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, ông cho rằng: “các lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi ích tinh thần.

Và thực hiện được các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật chất mới" [30, tr. Nghiên cứu LIKT trong các lĩnh vực cụ thể tiêu biểu có luận án “LIKT trong thời kỳ quá độ các hình thức phát triển và thực hiện trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (1988) của tác giả Chu Văn Cấp [9], hay luận án “LIKT của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội” (2015) của tác giả Nguyễn Thị Minh Loan [37]; luận án “LIKT của người lao động trong các doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh Thừa Thiên Huế” (2018) của tác giả Phạm Thị Thương [72]. Các công trình đều thống nhất rằng LIKT có thể hiểu là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ thể kinh tế khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Các tác giả đều xác định LIKT có vai trò và tầm quan trọng to lớn đối với các hoạt động kinh tế của cá nhân trong xã hội, nó đóng vai trò là động lực thúc 14 đẩy sự phát triển của sản xuất xã hội.

LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, không tuỳ thuộc ở chỗ là con người có nhận thức được nó hay không, mà do địa vị của họ trong quan hệ sản xuất quyết định. Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về QHLI Trước hết, một số lý thuyết liên quan đến quan hệ lợi ích có thể kể đến: Lý thuyết các bên liên quan đã được đưa vào các ngành quản lý từ năm 1970 và dần dần được phát triển bởi Freeman (1984) kết hợp giữa trách nhiệm doanh nghiệp với một loạt các bên liên quan. Theo Freeman, bên liên quan của một doanh nghiệp là một nhóm người hay cá nhân bất kỳ có thể tác động lên hay bị tác động bởi kết quả và quá trình đạt mục tiêu của doanh nghiệp đó. Theo lý thuyết này, doanh nghiệp được xem xét như một chủ thể trong một tập thể lớn với nhiều thành phần.

Tác giả đã cho rằng, doanh nghiệp hoạt động không chỉ vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông mà còn cần phải quan tâm, xem xét đến các bên có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Các bên liên quan của doanh nghiệp, gồm: trong nội bộ doanh nghiệp (người lao động, hội đồng quản trị, ban quản lý…); các bên liên quan có quan hệ đối tác (cổ đông, khách hàng, nhà tài trợ…); các tổ chức, cá nhân bên ngoài doanh nghiệp (chính phủ, các hiệp hội, cộng đồng…). Có thể thấy rằng, lý thuyết các bên liên quan là một sự mở rộng về trách nhiệm của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp TMĐT nói riêng, không chỉ quan tâm tới lợi ích của doanh nghiệp mình mà cần chú ý tới lợi ích của các chủ thể có liên quan khác [96]. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực dựa trên giả định là các nguồn lực có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định và hành động của một công ty.

Mặt khác các nguồn lực này của công ty bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài và các công ty khác cũng mong muốn đạt được nguồn lực đó [110]. Do đó, các chiến lược của các công ty nhằm đạt được nguồn lực và sử dụng nguồn lực hiệu quả sẽ làm tăng sự phụ thuộc của công ty với môi trường bên ngoài. Ba yếu tố cơ bản trong sự phụ thuộc nguồn lực của các công ty đó là sự tập trung của nguồn lực, tính không chắc chắn của sự sẵn có của nguồn lực và sự 15 liên kết của các nguồn lực. Các công ty giảm sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài bằng cách gia tăng sức mạnh của tổ chức, tạo ra các nguồn lực sẵn có để giảm thiểu tính không chắc chắn của nguồn lực khan hiếm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về quan hệ lợi ích trong thương mại điện tử tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về các mối quan hệ lợi ích giữa các bên tham gia trong lĩnh vực thương mại điện tử. Tài liệu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà các doanh nghiệp và người tiêu dùng phải đối mặt. Đặc biệt, luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường thương mại điện tử minh bạch và công bằng, từ đó giúp nâng cao niềm tin của người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến thương mại điện tử, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ tác động của dịch covid 19 đến hành vi mua sắm trực tuyến của ngƣời tiêu dùng tại thành phố hồ chí minh, nơi phân tích ảnh hưởng của đại dịch đến thói quen tiêu dùng trực tuyến. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp tp hcm kinh nghiệm của thái lan sẽ cung cấp những bài học quý giá từ Thái Lan trong việc phát triển thương mại điện tử. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ luật học giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử ở việt nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan đến thương mại điện tử tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực thương mại điện tử và các vấn đề liên quan.