Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị với đề tài "Quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Nga thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hồ Thanh Thủy, bảo vệ năm 2023 (Mã số chuyên ngành: 9 31 01 02).
Về tính cấp thiết, thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng; doanh thu bán lẻ TMĐT B2C năm 2022 đạt 16,4 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia có tốc độ tăng trưởng TMĐT hàng đầu thế giới và xếp thứ hai trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN). TMĐT mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình vận hành đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn, xung đột lợi ích: tình trạng hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại và xâm phạm sở hữu trí tuệ diễn biến phức tạp; 68% người tiêu dùng lo ngại về chất lượng sản phẩm và 52% lo ngại về việc lộ thông tin cá nhân; ngành thuế ước tính thất thu khoảng 85% số thuế phải thu từ các nền tảng số; các giao dịch có yếu tố nước ngoài và kinh doanh trên mạng xã hội chưa có cơ chế điều chỉnh đồng bộ.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trước thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình khoa học nào xây dựng khung lý luận hoàn chỉnh về quan hệ lợi ích (QHLI) trong lĩnh vực TMĐT dưới góc độ kinh tế chính trị; chưa có công trình phân tích toàn diện hệ thống chủ thể, tiêu chí đánh giá, các nhân tố tác động cũng như các mâu thuẫn lợi ích tương tác giữa các bên trong TMĐT tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ lý luận về QHLI trong lĩnh vực TMĐT, phân tích và đánh giá thực trạng giai đoạn 2017 - 2022, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa QHLI trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam đến năm 2030.
Luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài để xác định kết quả kế thừa và khoảng trống cần tiếp tục giải quyết.
- Luận giải những vấn đề lý luận về QHLI trong lĩnh vực TMĐT và nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QHLI trong lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022; chỉ ra các mâu thuẫn, xung đột lợi ích và nguyên nhân.
- Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp khắc phục mâu thuẫn, xung đột nhằm tạo sự hài hòa QHLI trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: QHLI trong lĩnh vực TMĐT, trọng tâm là QHLI kinh tế.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mô hình TMĐT bán lẻ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C). Luận án tập trung vào 4 chủ thể chính (doanh nghiệp bán hàng, người tiêu dùng, bên cung cấp dịch vụ TMĐT - sàn TMĐT, Nhà nước) và 3 mối QHLI cơ bản: (1) giữa doanh nghiệp, bên cung cấp dịch vụ TMĐT và người tiêu dùng; (2) giữa doanh nghiệp và Nhà nước; (3) giữa người tiêu dùng và Nhà nước. Giải pháp được tiếp cận chủ yếu dưới giác độ quản lý của Nhà nước.
- Phạm vi không gian: Lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại Hàn Quốc và Trung Quốc.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2017 đến năm 2022; các giải pháp định hướng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành các nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu về lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế:
- Về lý luận kinh điển: Luận án điểm lại luận điểm của Adam Smith (1776/1997) trong Của cải của các dân tộc về động lực lợi ích cá nhân và "bàn tay vô hình"; quan điểm của C.Mác (1995) và C.Ăngghen (1995) về lợi ích kinh tế là biểu hiện của quan hệ kinh tế và là động lực của các cuộc cách mạng xã hội; quan điểm của V.I.Lênin (1981) về tính khách quan của lợi ích.
- Về nghiên cứu trong nước: Công trình của Đào Duy Tùng và cộng sự (1982) về ba lợi ích kinh tế (cá nhân, tập thể, xã hội); Nguyễn Linh Khiếu (1999, 2002) về vai trò động lực của lợi ích và bản chất quan hệ lợi ích; các luận án tiến sĩ kinh tế chính trị nghiên cứu lợi ích kinh tế trong các lĩnh vực cụ thể như Chu Văn Cấp (1988), Nguyễn Thị Minh Loan (2015), Phạm Thị Thương (2018).
- Về khung lý thuyết bổ trợ: Lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984); Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực của Pfeffer và Salancik (1978, 2009); Lý thuyết chuỗi giá trị của Michael Porter; Thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory).
- Về quan hệ lợi ích theo ngành: Luận án của Ngô Tuấn Nghĩa (2011) về sở hữu trí tuệ; Trương Văn Thủy (2021) về chuỗi giá trị cà phê; Bùi Thị Tiến (2022) về nông nghiệp hữu cơ; Nguyễn Đức Hưng (2022) về tự chủ tài chính bệnh viện quân y.
Nhóm nghiên cứu về thương mại điện tử và quản lý thương mại điện tử:
- Khái niệm và vai trò: Các công trình của Zheng Qin (2009), OECD (2011), Anjali Gupta (2014), Mark Lund và Steven McGuire (2005), WTO (2013), Ghoneim và cộng sự (2014), Alemayehu Molla và Richard Heeks (2007), Vipin Jain và cộng sự (2021), Abdul Gaffar Khan (2016), Marchi (2001), Luisa Piris (2004).
- Thực tiễn TMĐT tại Việt Nam: Sách chuyên khảo của Trần Hữu Linh (2015), Nguyễn Tiến Hùng (2018), báo cáo của VCCI (2021) về TMĐT trên mạng xã hội, Nguyễn Thu Hà (2021) về quản trị dịch vụ TMĐT, kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia của Cục TMĐT & Kinh tế số phối hợp Đại học Thương Mại (2020), luận án của Nguyễn Ngọc Anh (2022), Lê Văn Thiệp (2016), Nguyễn Xuân Thủy (2016), Lê Văn Sơn (2017).
Nhóm nghiên cứu về các khía cạnh quan hệ lợi ích trong thương mại điện tử:
- Quản lý thuế trong TMĐT: Burcu Kuzucu Yapara và cộng sự (2015), Subhajit Basu (2007), Donald Bruce và LeAnn Luna (2009), Phạm Thái Hà (2017), Lê Thị Thùy Linh (2018), Thái Nữ Hạ Uyên (2019), luận án của Phạm Nữ Mai Anh (2019).
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Faramarz Damanpour và Jamshid Ali Damanpour (2001), Soraya Amrani Mekki (2010), Huong Ha và Sue L. T. McGregor (2013), Vũ Hải Việt (2014), Thân Thanh Sơn và Ngô Văn Quang (2018), Nguyễn Thị Thu Hằng (2019), luận án của Nguyễn Ngọc Quyên (2022).
- Chống hàng giả và gian lận thương mại: Shih-Hsien Chin và cộng sự (2021) ứng dụng học máy và IoT, Yu Zhou và cộng sự (2022) tiếp cận lý thuyết trò chơi, Hồ Thanh Trí và cộng sự (2022).
- Chính sách hỗ trợ và quản lý nhà nước: Yue Hongfei (2017) và Li L cùng cộng sự (2018) về Trung Quốc; báo cáo OECD về sáng kiến của Hàn Quốc; Alan A. Ahi và cộng sự (2023); các nghiên cứu của Đào Anh Tuấn (2013), Lê Trung Hiếu, Nguyễn Trọng Nhân và Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Trần Thị Huyền Trang, Phan Thế Thắng (2022).
- TMĐT xuyên biên giới: Feng Ding và cộng sự (2017), Ying Yang (2020), Jinjuan Hu và Ling Xu (2022).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung xây dựng hệ thống lý luận kinh tế chính trị về QHLI trong TMĐT; xác định 4 chủ thể và 3 mối quan hệ lợi ích cơ bản; thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng; phân tích toàn diện thực trạng xung đột lợi ích tương tác giữa các bên ở Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022; đề xuất giải pháp đồng bộ đứng trên lập trường quản lý nhà nước định hướng đến năm 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lợi ích và quan hệ lợi ích, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế số, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cách tiếp cận của luận án là tiếp cận kinh tế chính trị, nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm mua bán trực tuyến B2C.
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Giữ lại các yếu tố bản chất của quan hệ kinh tế để nhận diện cấu trúc QHLI trong môi trường số.
- Các phương pháp cụ thể: Phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp thống kê mô tả; phương pháp so sánh, đối chứng; phương pháp dự báo.
Về nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo của các cơ quan Đảng, Chính phủ, Bộ Công Thương (Cục TMĐT và Kinh tế số), Tổng cục Thống kê, Tổng cục Quản lý thị trường, Tổng cục Thuế, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), và các tổ chức quốc tế (OECD, WTO, WB).
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra, khảo sát bằng 3 mẫu phiếu bảng hỏi thực hiện trong năm 2021 tại 3 địa phương đại diện cho mức xếp hạng chỉ số TMĐT khác nhau: Hà Nội (mức cao), Thanh Hóa (mức trung bình), Hòa Bình (mức thấp). Bảng hỏi được khảo sát trực tiếp kết hợp trực tuyến (Google Forms), xử lý và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel với phương pháp thống kê mô tả.
| Đối tượng điều tra |
Số mẫu gửi đi |
Số mẫu thu về |
Tỷ lệ thu về (%) |
Số mẫu phân tích |
Tỷ lệ phân tích (%) |
| Chuyên gia TMĐT, cán bộ quản lý |
100 |
94 |
94,0 |
90 |
90,0 |
| Doanh nghiệp (23 lớn, 277 vừa/nhỏ/siêu nhỏ) |
300 |
267 |
89,0 |
255 |
85,0 |
| Người tiêu dùng |
400 |
388 |
97,0 |
364 |
91,0 |
| Tổng cộng |
800 |
749 |
93,3 |
709 |
88,3 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các tuyến nội dung: lý luận về lợi ích kinh tế, các lý thuyết về quan hệ lợi ích, thực trạng phát triển và quản lý TMĐT, các vấn đề chuyên sâu về thuế, bảo vệ người tiêu dùng, chống hàng giả và quản lý TMĐT xuyên biên giới. Tác giả chỉ ra điểm đồng thuận của các nghiên cứu trước đây là thừa nhận vai trò động lực của lợi ích kinh tế và sự cần thiết phải can thiệp quản lý nhà nước đối với TMĐT. Đồng thời, chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật về một khung phân tích kinh tế chính trị hoàn chỉnh về QHLI trong lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam, làm tiền đề xác lập mục tiêu, nhiệm vụ và hướng đi cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử
Chương 2 xây dựng khái niệm, đặc điểm và vai trò của QHLI trong TMĐT. Tác giả định nghĩa QHLI trong TMĐT là sự thiết lập những tương tác về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại qua phương tiện điện tử. Luận án xác định cấu trúc gồm 4 chủ thể chính (doanh nghiệp bán hàng, người tiêu dùng, bên cung cấp dịch vụ TMĐT - sàn TMĐT, Nhà nước) và 3 mối quan hệ cơ bản:
- Mối QHLI giữa doanh nghiệp, bên cung cấp dịch vụ TMĐT và người tiêu dùng.
- Mối QHLI giữa doanh nghiệp và Nhà nước.
- Mối QHLI giữa người tiêu dùng và Nhà nước.
Chương này xác định các tiêu chí đánh giá sự hài hòa QHLI, bao gồm: mức độ đáp ứng mục tiêu kinh tế của các bên (doanh thu, lợi nhuận, mức tiết kiệm chi phí, nguồn thu ngân sách); mức độ bình đẳng và công bằng trong phân chia giá trị; mức độ tin cậy và hài lòng của người tiêu dùng; mức độ kiểm soát và xử lý các xung đột, vi phạm phát sinh. Tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng (thể chế và khung khổ pháp lý, cơ sở hạ tầng công nghệ số, năng lực quản lý nhà nước, đạo đức kinh doanh và nhận thức xã hội). Đồng thời, chương 2 phân tích kinh nghiệm quản lý và điều hòa lợi ích trong TMĐT của Hàn Quốc (hoàn thiện luật pháp, hỗ trợ hạ tầng, kích cầu, hợp tác quốc tế) và Trung Quốc (phát triển TMĐT nông thôn để xóa đói giảm nghèo, kiểm soát nền tảng lớn, chính sách TMĐT xuyên biên giới), từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam
Chương 3 khái quát sự phát triển TMĐT B2C tại Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 (doanh thu tăng từ năm 2016 đến năm 2022 đạt 16,4 tỷ USD). Dựa trên số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp năm 2021 (709 mẫu phân tích), tác giả phân tích chi tiết tình hình thực hiện lợi ích ở từng mối quan hệ:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp, sàn TMĐT và người tiêu dùng: Ứng dụng TMĐT giúp doanh nghiệp mở rộng kênh bán hàng, tăng trưởng lợi nhuận (Biểu đồ 3.7, 3.8, 3.9); tuy nhiên nhiều sàn TMĐT chấp nhận lỗ giai đoạn 2019 - 2022 để mở rộng thị phần (Bảng 3.2). Quyền lợi người tiêu dùng bị ảnh hưởng do hàng giả, hàng kém chất lượng, giao hàng chậm, rủi ro bảo mật dữ liệu cá nhân (Biểu đồ 3.5, 3.12, 3.13; 68% lo ngại chất lượng, 52% lo ngại lộ thông tin). Tồn tại sự bất cân xứng quyền lực giữa bên sở hữu sàn TMĐT với doanh nghiệp bán hàng nhỏ lẻ và người tiêu dùng.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước: Đánh giá mức độ thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp và trách nhiệm kiến tạo môi trường kinh doanh của Nhà nước (Biểu đồ 3.14, 3.15, 3.16). Tình trạng trốn thuế, gian lận hóa đơn diễn ra phổ biến (ngành thuế ước tính thất thu khoảng 85% số thuế phải thu từ các nền tảng số).
- Quan hệ giữa người tiêu dùng và Nhà nước: Nhà nước xây dựng chính sách bảo vệ người tiêu dùng, tiếp nhận đơn thư khiếu nại qua Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (Biểu đồ 3.17, 3.18, 3.19); tuy nhiên nhiều người tiêu dùng chưa khiếu nại do quy trình phức tạp và giá trị đơn hàng nhỏ.
Chương 3 kết luận những mâu thuẫn chủ yếu: mâu thuẫn giữa tối đa hóa lợi nhuận của người bán/sàn TMĐT với quyền lợi của người tiêu dùng; mâu thuẫn giữa hành vi trốn thuế của doanh nghiệp/hộ kinh doanh với mục tiêu thu ngân sách nhà nước; mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý nhà nước với tính chất phi biên giới, ẩn danh của không gian số. Nguyên nhân gồm: hệ thống pháp luật chưa theo kịp mô hình mới; năng lực thanh tra, quản lý công nghệ còn hạn chế; chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe; nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ của người tiêu dùng chưa cao.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích trong lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam
Chương 4 đưa ra các quan điểm định hướng đến năm 2030: đảm bảo hài hòa QHLI gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế số bền vững; lấy bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng làm trung tâm; kết hợp cơ chế thị trường với sự điều tiết chủ đạo của Nhà nước; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền nền tảng.
Hệ thống giải pháp được cấu trúc thành 2 nhóm:
- Nhóm giải pháp đối với cơ quan Quản lý nhà nước về TMĐT:
- Hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý về TMĐT, giao dịch điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Nâng cao hiệu quả quản lý thuế: hoàn thiện quy trình thu thuế đối với nền tảng xuyên biên giới, tăng cường kết nối chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế, ngân hàng thương mại và các sàn TMĐT.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, ứng dụng công nghệ số và định danh người bán để ngăn chặn hàng giả, hàng lậu, gian lận thương mại.
- Phát triển hạ tầng logistics số, hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt an toàn.
- Nhóm giải pháp đối với các chủ thể thị trường:
- Đối với doanh nghiệp bán hàng và bên cung cấp dịch vụ TMĐT: Nâng cao đạo đức kinh doanh, thực hiện đúng cam kết chất lượng, minh bạch chính sách đổi trả, tăng cường bảo mật thông tin khách hàng, chủ động thực hiện nghĩa vụ thuế.
- Đối với người tiêu dùng: Nâng cao nhận thức, kỹ năng số, chủ động phản ánh và khiếu nại khi quyền lợi bị xâm phạm qua các kênh chính thức.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và bổ sung khung lý luận kinh tế chính trị về QHLI trong lĩnh vực TMĐT; xây dựng khái niệm QHLI trong TMĐT và đảm bảo hài hòa QHLI trong TMĐT.
- Nhận diện rõ 4 chủ thể chính và 3 mối quan hệ lợi ích cơ bản trong mô hình TMĐT B2C.
- Xác định hệ thống tiêu chí đánh giá và các nhân tố tác động đến QHLI trong TMĐT; đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc và Trung Quốc có khả năng vận dụng tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và đánh giá thực trạng QHLI trong lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 dựa trên hệ thống số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp 709 mẫu (tại Hà Nội, Thanh Hóa, Hòa Bình).
- Chỉ rõ các mâu thuẫn, xung đột lợi ích cụ thể (xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng, thất thu thuế nền tảng số, cạnh tranh không lành mạnh trên sàn TMĐT) và phân tích nguyên nhân căn bản.
- Đề xuất hệ thống quan điểm và 2 nhóm giải pháp đến năm 2030 cho các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể thị trường nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích, thúc đẩy kinh tế số phát triển.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án tập trung chủ yếu vào loại hình giao dịch B2C, chưa bao quát đầy đủ các loại hình TMĐT khác như B2B, C2C hay các giao dịch TMĐT mới nổi trên mạng xã hội.
- Về chủ thể trung gian, nghiên cứu tập trung vào các bên cung cấp dịch vụ sàn TMĐT, chưa đi sâu phân tích toàn diện các trung gian logistics, thanh toán điện tử do hạn chế về nguồn số liệu.
- Dữ liệu khảo sát thực tế thu thập tại 3 địa phương (Hà Nội, Thanh Hóa, Hòa Bình) trong năm 2021, phạm vi thời gian đánh giá số liệu thứ cấp dừng ở năm 2022.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phân tích quan hệ lợi ích trong các mô hình TMĐT B2B, TMĐT trên mạng xã hội (Social Commerce) và TMĐT xuyên biên giới phức hợp.
- Nghiên cứu sâu hơn về vai trò và lợi ích của các trung gian công nghệ tài chính (Fintech), trung gian thanh toán và chuỗi cung ứng logistics đa phương thức.
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực tế trên quy mô nhiều tỉnh, thành phố sau năm 2022 để cập nhật biến động thị trường trong bối cảnh các quy định mới về thuế và định danh số được triển khai.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị kinh doanh và Thương mại điện tử về phương pháp tiếp cận quan hệ lợi ích trong nền kinh tế số; khung lý thuyết và bảng hỏi điều tra thực tế tại phụ lục.
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Các phân tích và giải pháp trong luận án có giá trị tham khảo cho Bộ Công Thương (Cục TMĐT và Kinh tế số, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Tổng cục Quản lý thị trường) và Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) trong việc sửa đổi, bổ sung chính sách quản lý thuế, chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến.
- Đối với doanh nghiệp và các sàn TMĐT: Cung cấp cơ sở nhận diện rủi ro mâu thuẫn lợi ích với khách hàng và cơ quan quản lý, từ đó xây dựng quy chế hoạt động minh bạch và bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định những chủ thể chính và các mối quan hệ lợi ích cơ bản nào trong lĩnh vực thương mại điện tử?
Luận án xác định 4 chủ thể chính gồm: (1) Doanh nghiệp bán hàng, (2) Người tiêu dùng, (3) Bên cung cấp dịch vụ TMĐT (sàn TMĐT), (4) Nhà nước. Từ 4 chủ thể này, luận án tập trung nghiên cứu 3 mối QHLI cơ bản: mối quan hệ giữa doanh nghiệp, sàn TMĐT và người tiêu dùng; mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước; mối quan hệ giữa người tiêu dùng và Nhà nước.
2. Dữ liệu khảo sát thực tế của luận án được thu thập từ những đối tượng nào và tại các địa phương nào?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập năm 2021 tại 3 địa phương: Hà Nội (chỉ số TMĐT cao), Thanh Hóa (chỉ số TMĐT trung bình) và Hòa Bình (chỉ số TMĐT thấp). Tổng số 709 mẫu phân tích hợp lệ gồm: 90 chuyên gia TMĐT và cán bộ quản lý (trên 100 phiếu phát ra); 255 doanh nghiệp gồm 23 doanh nghiệp lớn và 277 doanh nghiệp vừa/nhỏ/siêu nhỏ (trên 300 phiếu phát ra); 364 người tiêu dùng (trên 400 phiếu phát ra).
3. Những mâu thuẫn, xung đột lợi ích chủ yếu nào trong thực tiễn TMĐT ở Việt Nam được luận án chỉ ra?
Luận án chỉ ra 3 xung đột chính: (1) Xung đột giữa mục tiêu lợi nhuận của người bán/sàn TMĐT với quyền lợi người tiêu dùng (tình trạng hàng giả, hàng nhái, rủi ro lộ 52% dữ liệu cá nhân, 68% lo ngại chất lượng); (2) Xung đột giữa doanh nghiệp và Nhà nước trong nghĩa vụ thuế (ngành thuế ước tính thất thu khoảng 85% thuế phải thu từ các nền tảng số); (3) Xung đột giữa sự phát triển nhanh của mô hình kinh doanh số với năng lực quản trị, bảo vệ người tiêu dùng của cơ quan nhà nước.
4. Khung cơ sở lý thuyết nền tảng nào được tác giả sử dụng để tiếp cận nghiên cứu?
Luận án sử dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lợi ích và quan hệ lợi ích kinh tế, kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tế chính trị. Ngoài ra, luận án kế thừa các lý thuyết kinh tế học bổ trợ gồm: Lý thuyết các bên liên quan (Freeman), Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Pfeffer & Salancik), Lý thuyết chuỗi giá trị (Michael Porter) và Thuyết lựa chọn duy lý.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chính nào nhằm đảm bảo hài hòa quan hệ lợi ích đến năm 2030?
Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp lớn: (1) Nhóm giải pháp dành cho cơ quan quản lý nhà nước (hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao hiệu quả thu thuế nền tảng số, tăng cường kiểm tra định danh người bán chống hàng giả, phát triển hạ tầng số và logistics); (2) Nhóm giải pháp dành cho các chủ thể thị trường (nâng cao đạo đức kinh doanh, bảo vệ dữ liệu khách hàng đối với doanh nghiệp và sàn TMĐT; nâng cao nhận thức, kỹ năng bảo vệ quyền lợi đối với người tiêu dùng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Nga đã giải quyết đồng bộ các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, từ việc tổng quan tài liệu, xây dựng cơ sở lý luận kinh tế chính trị về quan hệ lợi ích trong thương mại điện tử, đến đánh giá thực trạng giai đoạn 2017 - 2022 thông qua nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp (709 mẫu điều tra). Công trình đã nhận diện rõ nét các mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong hoạt động TMĐT B2C tại Việt Nam và nguyên nhân căn bản của các hiện tượng này. Hệ thống quan điểm và giải pháp đề xuất có tính hệ thống, gắn với thực tiễn quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển minh bạch, lành mạnh và hài hòa lợi ích cho các bên tham gia thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam đến năm 2030.