CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT DONG THUONG MẠI DIEN TU VA PHAP LUAT VE HOAT DONG THUONG MAI DIEN TU 1. Khái quát về hoạt động thương mại điện tử 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động thương mại điện tử Cuối thập niên 70 của thế kỳ XX TMĐT bắt đầu xuất hiện và dần khắng định được vai trò quan trọng của mình trong đời sống và hoạt động kinh tế. Cụ thể vào năm 1979 TMĐT xuất hiện lần đầu tiên với tên gọi mua sắm trực tuyến do Michael Aldrich phát minh, đến năm 1982 mô hình TMĐT đầu tiên được ra mắt rộng rãi tại Pháp, từ đó đã hình thành nên thói quen mua sắm trực tuyến của người dan?.
TMĐT được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại không giấy tờ” (paperless commerce). Vì là một nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế thời công nghệ số, khái niệm TMĐT được nhiều tô chức lớn trên thế giới nghiên cứu. Thuong mại điện tử theo nghĩa rộng Theo Liên minh Châu Âu (EU): “T7MDT là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dich vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dich điện tu thông qua mang Internet hay các mạng may tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gôm việc đặt hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dich vụ cudi cùng có thé thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công '5.Thuật ngữ “thương mại” được giới hạn ở các hoạt động mua bán, trao đôi hàng hóa hay dịch vụ.
Bên cạnh đó, dù người bán và người mua mua hàng trực tuyên song việc nhận hàng, thanh toán và vận chuyển vẫn có thể tiễn hành một cách trực tiếp. Khái niệm này mở ra nhiều cơ hội trong việc tao ra các khung khổ pháp lý liên quan dé điều chỉnh các hoạt động thanh toán và vận chuyên trong TMĐT. : MangoAds, Thuong mại điện tử là gi?, https://g2.by/ZbXL , truy cập ngày 1/4/2023. 3 Ebiz, Khái niệm day du của thương mại điện tw PI, https://aita.vn/ebiz/khai-niem-day-du-cua- thuong-mai-dien-tu-pl, truy cập ngày 2/4/2023.
7 Theo Tổ chức Thương mai thé giới (WTO): “7ÄMĐ7 bao gồm việc sản xudt, quảng cáo, bản hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mang internet 4. WTO tiếp cận TMĐT bao gồm các hoạt động như: sản xuất, quảng cáo, bán hàng, phân phối san phẩm, như vậy đây gần như là một chu trình từ lúc làm ra sản pham cho đến khâu giới thiệu và phân phối nó đến tay người tiêu dùng có nhu cầu. Tuy nhiên, tổ chức này nhắn mạnh sự tham gia của mạng internet vào các khâu trong quá trình đó, đặc biệt là việc thanh toán qua mạng, nó khác với cách tiếp cận của EU khi việc thanh toán hay vận chuyên vẫn có thể thực hiện một cách trực tiếp. Theo Uỷ ban của Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển - UNCTAD: “TMĐT dưới góc nhìn của doanh nghiệp là việc thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gém marketing, ban hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử 5.
Cách tiếp cận này có nhiều nét tương đồng với cách tiếp cận của tổ chức thương mai thé giới (WTO). Quan điểm khác thì cho răng: “T7MDT Ia hoạt động kinh doanh với sự giúp đỡ của viễn thông và các công cụ viên thông. TMĐT bao gôm các giao dịch, trao đồi dit liệu điện tử, ngân hàng tự động, mua sắm qua truyền hình, dat chỗ bằng điện thoại ”5. Theo cách tiếp cận này thì TMĐT được thực hiện thông qua nền tảng của viễn thông hoặc thông qua các mang mở khác.
Hoặc “TMPT Ia giao địch giữa doanh nghiệp với khách hang của mình thông qua fax, điện thoại, thư thoại, email, internet ””. Như vậy, điểm chung của cách tiếp cận khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng là việc gắn hoạt động thương mại với các phương tiện điện tử. Các phương tiện đó có thé là mang internet, điện thoại, truyền hình, mạng máy tinh có kết nối với nhau. những công cụ này giúp cho quá trình mua bán diễn ra nhanh chóng, thuận tiện hơn và đặc biệt là gia tăng tốc độ kết nối người bán với người mua.
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp 4 Ebiz, Khdi niém day du của thương mại điện tử P1, https://aita.vn/ebiz/khai-niem-day-du-cua- thuong-mai-dien-tu-p], truy cập ngày 1/4/2023. 5 Eblz, Khái niệm day đủ cua thương mai điện tử P1, https://aita.vn/ebiz/khai-niem-day-du-cua- thuong-mai-dien-tu-p1l, truy cập ngày 1/4/2023. 6 Phí Mạnh Cường (2022), Pháp luật về thương mại điện tứ ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. ; qv Phí Mạnh Cường (2022), Pháp luật về thương mai điện tứ ở Việt Nam, Trường Dai học Luật Ha Nội, Hà Nội, tr.
8 TMDT có thé hạn chế trọng phạm vi mua ban với khách hang bang các giao dich va trả tiền thông qua mạng công cộng như internet’. TMĐT trong cách tiếp cận này chỉ giới hạn trong các giao dịch và trả tiền thông qua internet. TMDT là hoạt động thương mại được thực hiện băng máy tính liên kết với nhau bởi mạng viễn thông. Cách định nghĩa này tiếp cận TMĐT theo hai phương diện: (1) TMĐT chỉ là các giao dịch hợp đồng trên internet bao gồm quá trình đàm phán, giao kết hợp đồng bằng thư điện tử; (2) TMĐT sẽ bao quát tất cả các hoạt động khi một doanh nghiệp sử dụng Internet như một phương tiện dé thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Tóm lại nó vẫn chỉ giới hạn TMĐT là các giao dịch được thực hiện bằng máy tính có kết nối internet. Nhìn chung, cách tiếp cận TMDT theo nghĩa hẹp chỉ giới hạn ở các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua internet mà bỏ qua các phương tiện điện tử khác như điện thoại, fax, telex,. Điều này khiến cho TMĐT sẽ bị hạn chế trong phạm vi các giao dịch với khách hang và thực hiện thanh toán thông qua internet. Nghị định 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 về TMĐT không đưa ra định nghĩa cụ thể về TMĐT.
Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 quy định về TMĐT cũng không giải thích rõ khái niệm TMĐT, tuy nhiên lại đưa ra khái niệm về hoạt động TMDT tại khoản 1 Điều 3: “Hoat động thương mại điện tử là việc tiễn hành một phân hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết noi với mang Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mang mở khác `. Như vậy, pháp luật của Việt Nam tiếp cận TMĐT theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, khi quy định về các hình thức tổ chức hoạt động TMDT thì Nghị định số 52/2013 ND- CP ngày 16/5/2013 chỉ đề cập đến hai hình thức: (1) website TMĐT bán hàng và (2) website cung cấp dịch vụ TMĐT bao gồm: sàn giao dịch TMĐT, website đấu giá trực tuyến, website khuyến mại trực tuyến, các website khác do Bộ Công thương quy định. Vậy nên căn cứ vào các hình thức tô chức hoạt động TMĐT thì TMĐT lại được tiếp cận theo nghĩa hẹp vì các hình thức tổ chức hoạt động TMĐT theo quy định hiện hành đều là các hoạt động TMĐT được thực hiện thông qua internet.
8 Mai Hồng Quy (2000), “Một số van dé pháp lý của thương mại điện tử va việc áp dụng ở Việt Nam”, Tap chi Nhà nước và Pháp luật, sô 2 (142), tr. 3 Phí Mạnh Cường (2022), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 54 Ồ Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tác giả cũng sẽ tiếp cận hoạt động TMDT theo nghĩa hẹp, xuất phát từ một số ly do sau: (1) Thuật ngữ “?zơng mại điện tử” chỉ xuất hiện khi các giao dịch thương mại được thực hiện thông qua internet (2) các giao dịch điện tử được thực hiện thông qua internet trở nên rất phô biến và trở thành xu thé tất yếu trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Từ cách tiếp cận này, TMDT là việc tiễn hành một phần hoặc toàn bộ các quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử được kết nối với nhau thông qua internet.
Trong đó, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục dich sinh lợi, bao gom mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiễn thương mai và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Hoạt động TMĐTT có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, các bên trong hoạt động TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Trong hoạt động thương mại truyền thống các bên phải gap mặt trực tiếp dé xem xét hàng hóa, dịch vụ, tiễn hành thương lượng giá cả, cách thức vận chuyên, giao nhận hàng và thanh toán, đôi khi việc mua bán được thực hiện giữa hai bên khách hàng quen thuộc của nhau từ trước. Điều này đòi hỏi giữa hai bên phải có những thông tin rõ ràng về đối phương đề xây dựng lòng tin, còn trong hoạt động TMĐT hai bên không cần gặp mặt trực tiếp, việc trao đổi thông tin hoàn toàn được diễn ra trên phương tiện điện tử.
Thứ hai, hoạt động TMDT được diễn ra trong thị trường không có biên giới. Hoạt động TMDT được thực hiện ở phạm vi quốc tế, các bên thực hiện việc trao đôi thông tin qua mạng máy tính toàn cầu. Vậy nên, dù ở bất cứ đâu các bên chỉ cần một máy tính kết nỗi mạng là có thé giao dịch với đối tác của mình một cách dé dang va thuận lợi, tiết kiệm được chi phí, thời gian đi lai”. Thứ ba, trong hoạt động TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể.
Đó là người mua, người bán và người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực - họ là những người tạo ra môi trường cho các giao dịch TMĐT. Nhà cung cấp dịch vụ mạng có nhiệm vụ chuyên và lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch 1 Dương Thị Mai Ngọc (2009), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 10 TMDT, cơ quan chứng thực có vai trò xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT, Thứ tư, hoạt động TMDT có tính rủi ro cao hơn do việc tiễn hành một phần hay toàn bộ hoạt động TMĐT được diễn ra trên môi trường “ao”.