phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của Luận án đƣợc cấu trúc trong 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về giáo dục trung học phổ thông tƣ thục Chƣơng 3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về giáo dục trung học phổ thông tƣ thục trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh Chƣơng 4. Định hƣớng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về giáo dục trung học phổ thông tƣ thục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh./ 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TƢ THỤC 1.
Những công trình của các tác giả ngoài nước Giáo dục phổ thông tƣ thục trên thế giới đã phát triển từ rất sớm và kèm theo đó là nhiều công trình nghiên cứu về loại hình trƣờng này của nhiều tác giả. Trong cuốn: Public policy and private education in Japan (1988), các tác giả Estelle James, Gail R. Benjamin quan tâm tới hệ thống trƣờng học công lập và tƣ thục tại Nhật Bản và cách mà các bên tƣơng tác với nhau tạo nên nền giáo dục phổ biến, rộng rãi của Nhật Bản. Do các mục tiêu chính trị nhằm hạn chế quy mô của lĩnh vực công lập và thị trƣờng lao động làm cho giáo dục trở nên thu hút về mặt kinh tế đối với các nhà đầu tƣ mà khu vực giáo dục tƣ nhân tại Nhật Bản rất rộng, đặc biệt là cấp Trung học trở lên.
Cuốn sách là một nghiên cứu nghiêm túc về những lựa chọn chính sách giáo dục của Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản đã thành công trong việc tạo dựng sự phù hợp giữa khu vực công lập và tƣ thục trong giáo dục [135]. Với công trình Chuẩn thị trường và chính sách xã hội (Quasi - markets and Social Policy, (1993), Macmillan, London, các tác giả Le Grand, J. cho rằng thị trƣờng giáo dục là một thực tế đã đƣợc chấp nhận trong giáo dục.
Đó là một thị trƣờng đặc biệt, khác với thị trƣờng hàng hóa hoặc thị trƣờng trong các lĩnh vực dịch vụ khác. Trong thị trƣờng giáo dục, bên cạnh cơ chế cạnh tranh và các nhà cung ứng giáo dục tƣ nhân, nhà nƣớc vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng giáo dục, quản lý chất lƣợng, bảo vệ quyền lợi ngƣời học nhằm đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục [142]. Các tác giả Marlaine Lockheed và Emmanuel Jimenez (1994) trong công trình nghiên cứu Public and private secondary schools in developing countries: What are the differences and Why do they persist? (1994) đã tìm hiểu thực trạng về sự cân bằng giữa nhà nƣớc và tƣ nhân trong giáo dục và những tranh luận chính sách xung 10 quanh vấn đề này. Nghiên cứu trình bày các kết quả so sánh hiệu quả của trƣờng công lập và trƣờng tƣ thục tại 5 quốc gia đang phát triển, có nền giáo dục đa dạng đó là Colombia, Cộng hòa Dominican, Philippines, Tanzania và Thái Lan; tập trung phân tích khác biệt về đầu vào, quy trình và quản lý trƣờng học theo hai cách: sử dụng các dữ liệu sẵn có và trực tiếp thu thập thông tin chi tiết từ một vài mẫu nhỏ là trƣờng công lập và tƣ thục tại 5 quốc gia này.
Nghiên cứu có sức ảnh hƣởng quan trọng tới chính sách giáo dục công lập khi khẳng định các trƣờng công lập có thể đạt đƣợc hiệu quả bằng cách áp dụng cách thức quản lý của trƣờng tƣ thục [138]. Tooley, James (1999): Công nghiệp giáo dục toàn cầu, những bài học từ giáo dục tư thục ở các nước đang phát triển (The Global Education Industry, Lessons from Private Education in Developing Countries), Institute of Economic Affairs, London. Cuốn sách đã chỉ ra trong quá trình xây dựng một nền giáo dục tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội; tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, mỗi quốc gia có những phƣơng thức và con đƣờng đi khác nhau [143]. Trong công trình nghiên cứu về các chính sách giáo dục tƣ và công tại các nƣớc Mỹ La tinh: Private Education and Public Policy in Latin America (2005), các tác giả Laurence Wolff, Juan Carlos Navarro và Pablo González đã đánh giá các chính sách công trong khu vực ảnh hƣởng tới hoạt động của các trƣờng tƣ thục.
Cuốn sách mô tả thực trạng những chính sách và các mối quan hệ giữa 2 khu vực công và tƣ trong giáo dục tại 6 nƣớc: Argentina, Chile, Colombia, Guatemala, Peru và Venezula. Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của giáo dục tƣ thục và khái niệm về “tƣ nhân hóa” trong giáo dục đã là một khái niệm lỗi thời. Hay nói đúng hơn, sự khác biệt giữa trƣờng công và trƣờng tƣ không quan trọng bằng những lợi ích cộng đồng đã đƣợc thừa nhận của mỗi bên. Với các chính sách đúng đắn, giáo dục công lập chất lƣợng cao có thể cùng tồn tại với sự phát triển của giáo dục tƣ thục.
Các tác giả cũng chỉ ra rằng, trái với các giả định chung, giáo dục tƣ thục không chỉ phục vụ cho tầng lớp khá giả mà còn phục vụ cho cả tầng lớp nghèo và thiếu thốn trong xã hội [144]. Đặc biệt hai tác giả nƣớc ngoài nghiên cứu về giáo dục ngoài công lập của Việt Nam đó là tác giả Paul Glewwe và Harry Anthony Patrinos với công trình 11 nghiên cứu The Role of the Private Sector in Education in Vietnam: Evidence from the Vietnam Living Standards Survey (1988). Nghiên cứu đã phân tích thực trạng của Giáo dục ngoài công lập tại Việt Nam và sử dụng dữ liệu từ cuộc Khảo sát năm 1992-1993 về Mức sống ở Việt Nam để thu thập nguyên nhân các hộ gia đình lựa chọn trƣờng học công lập hay tƣ thục cho con em họ và chi phí cũng nhƣ lợi ích của các trƣờng tƣ thục. Nghiên cứu có phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và địa lý.
Các hộ gia đình khá giả của Việt Nam thƣờng ít có xu hƣớng lựa chọn các trƣờng tƣ thục, nhƣng lại có xu hƣớng lựa chọn các trƣờng tƣ thục cho con theo học khi thu nhập của các hộ gia đình tăng có thể dẫn tới mức độ sẵn sàng chi tiền cho giáo dục cũng sẽ tăng. Tôn giáo và tộc ngƣời có ảnh hƣởng không đáng kể tới việc lựa chọn trƣờng công hay tƣ. Ngoài ra, về chính sách tiền lƣơng, các cá nhân làm việc cho trƣờng tƣ sẽ nhận đƣợc mức lƣơng cao hơn so với các cá nhân làm việc cho trƣờng công [136]. Những công trình của các tác giả trong nước Việt Nam có những nét đặc thù riêng về thể chế, là nƣớc đang phát triển – tiếp cận nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đang trong quá trình hội nhập quốc tế.
Từ chủ trƣơng đổi mới, qua quá trình XHHGD và phát triển hệ thống trƣờng tƣ thục cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thị trƣờng dịch vụ giáo dục; mô hình, hoạt động của trƣờng phổ thông tƣ thục; chính sách và một số lĩnh vực thuộc phạm vi QLNN có liên quan: Tác giả Nguyễn Văn Đản chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp Bộ Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng qui chế trường phổ thông ngoài công lập [55]. Đề tài đã chỉ ra những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng quy chế trƣờng phổ thông tƣ thục nhƣ: xuất phát từ quan điểm, đƣờng lối của Đảng về giáo dục và xã hội hóa giáo dục, vai trò của sự tham gia xã hội vào công tác giáo dục, thực trạng tổ chức và hoạt động của các trƣờng phổ thông tƣ thục trƣớc năm 2000 để làm căn cứ xây dựng quy chế trƣờng phổ thông tƣ thục. Đề tài Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập quốc tế do PGS. Trần Quốc Toản làm chủ nhiệm [122].
Đây là 12 công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc đã nghiên cứu tƣơng đối toàn diện những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa giáo dục và thị trƣờng trên cả hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Một số nhà khoa học, học giả Việt Nam nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm của một số nƣớc nhƣ Trung Quốc, Liên bang Nga về nhận thức, quan điểm, phát triển và quản lý hệ thống trƣờng tƣ thục. Trên cơ sở đó, các tác giả khuyến nghị những giải pháp về phát triển và quản lý hệ thống trƣờng tƣ thục của Việt Nam. Có thể kể đến một số công trình của các tác giả : - Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI do Vũ Đình Cự chủ biên [48]; - Từ tình hình phát triển các trường ngoài công lập Liên bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam: thử tìm giải pháp có tính đột phá về lĩnh vực này của Nguyễn Nhƣ Ất [4]; - Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI của các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Kiều, Đặng Bá Lãm, Nghiêm Đình Vỳ [75]; - Cải cách giáo dục cho thế kỷ XXI – Bảo đảm để dẫn đầu trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa do Nguyễn Quang Kính biên dịch [89].
Liên quan đến giáo dục ngoài công lập, cần nhắc đến đề tài khoa học cấp thành phố năm 2006 của Trƣơng Thị Thảo Anh : Thực trạng và giải pháp củng cố, phát triển các trường ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội [1]. Nội dung đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng các trƣờng ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội từ khi đổi mới đến 2004 và đề xuất các giải pháp củng cố, phát triển chúng. Về thực trạng, đề tài đã nêu ra những kết quả đạt đƣợc của các trƣờng ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội nhƣ: Sự phát triển về số lƣợng các trƣờng, số học sinh; sự phát triển về cơ sở vật chất, đổi mới nội dung, phƣơng pháp giáo dục; bên cạnh đó, đề tài chỉ ra những yếu kém nhƣ: năng lực quản lý của Hội đồng quản trị, hiệu trƣởng, sự thiếu hụt của đội ngũ giảng viên cơ hữu; chất lƣợng giáo dục; bất cập trong quản lý nhà nƣớc đối với các trƣờng ngoài công lập ngành học mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Nội.