Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục tại TP Hồ Chí Minh - Phạm Thị Tuyết Minh

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục tại TP Hồ Chí Minh": { "ai_description": "Quản lý nhà nước đối với

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

229
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về giáo dục mầm non tư thục

Quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục (GDMNTT) là hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm điều chỉnh, kiểm soát và phát triển hệ thống giáo dục mầm non ngoài công lập. Tại Việt Nam, GDMNTT đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu gửi con của phụ huynh, đặc biệt tại các đô thị lớn. Hệ thống pháp luật hiện hành bao gồm Luật Giáo dục, Nghị định 46/2017/NĐ-CP về điều kiện đầu tư hoạt động giáo dục và các thông tư liên quan quy định rõ tiêu chí thành lập, hoạt động và quản lý cơ sở GDMNTT. Nhà nước thực hiện quản lý thông qua các công cụ pháp lý, kinh tế, hành chính và kiểm tra thanh tra. Mục tiêu nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục, quyền lợi trẻ em và sự phát triển bền vững của loại hình giáo dục này trong hệ thống giáo dục quốc dân.

1.1. Khái niệm và đặc điểm giáo dục mầm non tư thục

Giáo dục mầm non tư thục là loại hình cơ sở giáo dục do tổ chức, cá nhân không thuộc cơ quan nhà nước đầu tư vốn xây dựng và hoạt động theo quy định của pháp luật. Các cơ sở này được thành lập trên cơ sở nhu cầu thực tế của xã hội, không sử dụng ngân sách nhà nước và hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Đặc điểm nổi bật bao gồm tính tự chủ cao trong quản lý tài chính, chương trình giáo dục phải tuân thủ khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đội ngũ giáo viên phải đạt chuẩn trình độ theo quy định. Tại thành phố Hồ Chí Minh, GDMNTT phát triển mạnh mẽ do tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu gửi trẻ ngày càng tăng.

1.2. Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục

Hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về GDMNTT bao gồm nhiều văn bản từ cấp luật đến nghị định, thông tư. Luật Giáo dục 2019 quy định nguyên tắc quản lý giáo dục, quyền và nghĩa vụ của cơ sở giáo dục tư thục. Nghị định 46/2017/NĐ-CP quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Thông tư 13/2015/TT-BGDĐT ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường mầm non. Ngoài ra, các quyết định của UBND thành phố Hồ Chí Minh cũng ban hành quy định cụ thể về quản lý GDMNTT trên địa bàn, bao gồm điều kiện cấp phép, quy mô lớp học và tiêu chuẩn cơ sở vật chất.

II. Phân tích thực trạng quản lý giáo dục mầm non tư thục TP

Thực trạng quản lý nhà nước đối với GDMNTT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhiều kết quả đạt được cùng không ít hạn chế cần khắc phục. Về mặt tích cực, số lượng cơ sở GDMNTT tăng trưởng nhanh, đáp ứng khoảng 30-40% nhu cầu gửi trẻ của phụ huynh trên địa bàn. Công tác cấp phép, quản lý hồ sơ từng bước đi vào nền nếp. Tuy nhiên, nhiều vấn đề tồn tại như tình trạng cơ sở hoạt động không phép vẫn diễn ra ở một số quận huyện ngoại thành. Chất lượng giáo viên chưa đồng đều, nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ. Cơ sở vật chất tại một số cơ sở không bảo đảm an toàn cho trẻ. Công tác thanh tra, kiểm tra còn mang tính hình thức, chưa thường xuyên. Quản lý tài chính, học phí thiếu minh bạch. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ, dẫn đến khoảng trống trong quản lý.

2.1. Kết quả đạt được trong quản lý giáo dục mầm non tư thục

Công tác quản lý nhà nước đối với GDMNTT tại thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện địa phương. Số lượng cơ sở GDMNTT được cấp phép tăng trưởng ổn định, phân bố tương đối hợp lý giữa các quận huyện. Công tác quy hoạch mạng lưới trường mầm non được chú trọng, giảm áp lực cho hệ thống công lập. Nhiều cơ sở tư thục đầu tư mạnh về cơ sở vật chất, chương trình giáo dục tiên tiến. Đội ngũ quản lý tại các Sở, Phòng Giáo dục được kiện toàn, từng bước nâng cao năng lực quản lý.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lý giáo dục mầm non tư thục

Bên cạnh kết quả đạt được, quản lý nhà nước đối với GDMNTT tại thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều hạn chế. Tình trạng cơ sở hoạt động không phép, sai phép vẫn tồn tại ở các quận huyện vùng ven. Công tác kiểm tra định kỳ chưa được thực hiện đều đặn. Chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Nguyên nhân chính bao gồm: nguồn lực quản lý còn hạn chế so với quy mô đối tượng quản lý lớn; sự phối hợp liên ngành chưa hiệu quả; một số quy định pháp luật chưa theo kịp thực tiễn; nhận thức của một số chủ cơ sở về tuân thủ pháp luật còn thấp; áp lực dân số cơ học tăng nhanh tạo thách thức lớn cho công tác quy hoạch và quản lý.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục mầm non tư thục

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với GDMNTT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ trên nhiều phương diện. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các quy định cụ thể phù hợp với đặc thù thành phố. Thứ hai, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cấp quận huyện và phường xã. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện về cơ sở GDMNTT. Thứ tư, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra theo hướng chuyên sâu và thường xuyên hơn. Thứ năm, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả giữa giáo dục, y tế, xây dựng, công an. Thứ sáu, phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục độc lập để đánh giá khách quan chất lượng các cơ sở.

3.1. Hoàn thiện thể chế và tăng cường năng lực quản lý

Giải pháp hoàn thiện thể chế bao gồm rà soát, sửa đổi các quy định hiện hành cho phù hợp với thực tiễn quản lý GDMNTT tại thành phố Hồ Chí Minh. Cần ban hành quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá chất lượng, quy mô tối đa lớp học, tỷ lệ giáo viên trên trẻ. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Xây dựng quy trình quản lý chuẩn hóa từ cấp phép, giám sát đến xử lý vi phạm. Đẩy mạnh phân cấp quản lý, gắn trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý cơ sở GDMNTT trên địa bàn.

3.2. Đổi mới thanh tra kiểm tra và kiểm định chất lượng

Công tác thanh tra, kiểm tra cần được đổi mới toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Xây dựng kế hoạch thanh tra định kỳ và đột xuất, tập trung vào các cơ sở có dấu hiệu vi phạm. Áp dụng tiêu chí đánh giá đa chiều bao gồm cơ sở vật chất, chương trình giáo dục, đội ngũ giáo viên, an toàn thực phẩm. Phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục độc lập, minh bạch. Công khai kết quả thanh tra, kiểm tra trên phương tiện truyền thông để phụ huynh có thông tin lựa chọn. Xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm, bảo đảm tính răn đe và thượng tôn pháp luật.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non tư thục trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ thống quản lý nhà nước đối với GDMNTT đã hình thành và từng bước hoàn thiện, song vẫn còn nhiều bất cập cần khắc phục. Các giải pháp đề xuất mang tính hệ thống, bao gồm hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý, đổi mới thanh tra kiểm tra và phát triển kiểm định chất lượng. Ý nghĩa khoa học của luận án nằm ở việc hệ thống hóa lý luận về quản lý nhà nước đối với GDMNTT trong bối cảnh đô thị hóa. Ý nghĩa thực tiễn thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh trong hoạch định chính sách, quy hoạch mạng lưới trường học và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tư thục.

4.1. Đóng góp lý luận của luận án

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với GDMNTT, làm rõ khái niệm, nội dung, nguyên tắc và các công cụ quản lý. Nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và quyền tự chủ của cơ sở GDMNTT. Luận án cung cấp khung phân tích đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước dựa trên các tiêu chí: hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, quy trình quản lý và kết quả đầu ra. Các lý thuyết quản lý công mới, quản lý dựa trên kết quả và quản trị tốt được vận dụng phù hợp với bối cảnh giáo dục mầm non Việt Nam.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và khuyến nghị

Kết quả luận án có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác quản lý giáo dục mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác. Hệ thống giải pháp đề xuất được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế, có thể triển khai trong trung hạn. Khuyến nghị chính bao gồm: UBND thành phố cần ưu tiên nguồn lực cho quản lý GDMNTT; Sở Giáo dục xây dựng cơ sở dữ liệu toàn diện; Phòng Giáo dục tăng cường giám sát cơ sở; các cơ sở GDMNTT cần chủ động nâng cao chất lượng. Phụ huynh được khuyến khích tham gia giám sát chất lượng giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ qlnn đối với giáo dục mầm non tư thục trên địa bàn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục mầm non tƣ thục Chƣơng 3. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục mầm non tƣ thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục mầm non tƣ thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến luận án Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 9 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu về giáo dục mầm non tƣ thục Giáo dục là một lĩnh vực đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới quan tâm bởi tầm quan trọng và sự ảnh hƣởng của nó đến quá trình phát triển KT-XH của quốc gia, GDMNTT là loại hình trƣờng mầm non đƣợc thành lập và đảm bảo kinh phí hoạt động bởi một tổ chức hoặc cá nhân và nguồn vốn đầu tƣ cho hoạt động của cơ sở này từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nƣớc.

GDMNTT xuất hiện nhiều ở các nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Có thể điểm qua các nghiên cứu về GDMNTT nhƣ sau: 1. Các công trình trên thế giới Ở một số nƣớc, cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập đã có từ lâu và đang trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển. Các nƣớc này đã ban hành những bộ luật giáo dục ngoài công lập và nhờ đó cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập phát triển một cách có hiệu quả.

Ở Pháp các điều luật này đã có từ thế kỷ thứ XIX, ở Hàn Quốc có Luật giáo dục tư thục từ năm 1963, Thái Lan có Điều luật các trường tư thục từ năm 1982, Trung Quốc có Luật phát triển giáo dục ngoài công lập từ năm 2002. Trong cuốn Nền giáo dục cho thế kỷ XXI - Những triển vọng của châu Á - Thái Bình Dương, ông Raja Roy Singh - nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng [61] đã khẳng định: Không một hệ thống giáo dục nào có thể vƣơn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó. Tác giả đề cập đến các vấn đề về hệ thống nhà trƣờng, xu hƣớng phát triển giáo dục, phƣơng pháp giáo dục và mô hình nhân cách, trong đó nhấn mạnh con ngƣời là trung tâm của giáo dục. Ý kiến trên có giá trị đặc biệt cho GD nhiều nƣớc, cụ thể, ngƣời thầy không chỉ là ngƣời truyền đạt tri thức, mà là ngƣời biết truyền đạo, biết thụ nghiệp và biết giải đáp những băn khoăn, thắc mắc cho thế hệ trẻ.

Trong đó, tác giả cũng đề cập đến giáo dục ngoài công lập và khẳng định phải có sự tồn tại của giáo dục ngoài công lập 10 song song với giáo dục của nhà nƣớc. Đây là nền tảng cho sự phát triển giáo dục của thế kỷ mới. Tài liệu Global Education Monitoring Report Summary 2017/8: Accountability in education: Meeting our commitments (Tóm tắt Báo cáo Giám sát Giáo dục Toàn cầu 2017/8: Trách nhiệm trong giáo dục: Đáp ứng các cam kết của chúng tôi) [105] có nội dung đề cập đến giáo dục tƣ thục và mầm non tƣ thục. Nhóm tác giả nghiên cứu cho rằng: Giáo dục tƣ thục đã phát triển rộng rãi.

Số lƣợng quốc gia có trên 20% học sinh nhập học tƣ thục tăng lên trong giai đoạn 2005-2015. Ở một số quốc gia thuộc Tiểu vùng Sahara Châu Phi và Nam Á, nhiều trƣờng tƣ thục không đƣợc kiểm soát, đặc biệt là những trƣờng thu phí thấp phục vụ các nhóm dân cƣ nghèo, khi tốc độ tăng dân số ở những khu vực này vƣợt quá khả năng đáp ứng của chính phủ. Một số nhà trƣờng đến nay vẫn chƣa đăng ký với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền nhằm tránh phải tuân thủ các quy định khắt khe. Việc kiểm soát và quản lý hệ thống trƣờng tƣ thục nhằm cải thiện sự công bằng đòi hỏi các bên phải chung tay hành động.

Môi trƣờng quản lý nhà nƣớc yếu kém là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng khi các chuỗi cung ứng giáo dục tƣ thục quy mô lớn nhanh chóng lan rộng. Công tác thanh tra ở Kê-ni-a và U-gan-đa phát hiện ra những GV chƣa đạt chuẩn, thiếu thốn cơ sở vật chất, trang thiết bị và giảng dạy chƣơng trình giáo dục không có giấy phép của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, đồng thời các tòa án đã kiên quyết yêu cầu Bộ giáo dục phải có những động thái đóng cửa một số nhà trƣờng. Access to the system for better educational outcomes (Tiếp cận hệ thống cho kết quả giáo dục tốt hơn - SABER) [116] của Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 2010-2015 chỉ ra rằng chỉ có 14 trong 34 quốc gia thu nhập thấp và thu nhập trung bình xây dựng tiêu chuẩn GDMN và hệ thống giám sát mức độ tuân thủ. Liên quan đến đảm bảo chất lƣợng, các quốc gia thƣờng ƣa chuộng những đặc trƣng dễ đo lƣờng và dễ quan sát, chẳng hạn nhƣ điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và tỷ lệ HS/GV.

Cho dù nhƣ vậy, các quốc gia thƣờng phải rất vất vả để có thể giám sát sự tuân thủ một cách hệ thống. 11 Một số hệ thống giáo dục khác cố gắng đánh giá các khía cạnh tinh vi hơn trong thực tiễn sƣ phạm. Ở Chi-lê, các nhà giáo dục ở tất cả các trƣờng đô thị đều đƣợc đánh giá 4 năm một lần dựa vào tiêu chuẩn của khung dạy học tốt, một quy trình bao gồm tự đánh giá, dự giờ giảng, đánh giá lẫn nhau và đánh giá hồ sơ. Những GV bị xếp “chƣa đạt” sẽ đƣợc đánh giá lại vào năm sau và sẽ bị cấm đứng lớp nếu không thể hiện sự tiến bộ.

Một số công cụ, chẳng hạn nhƣ thang đo môi trƣờng GDMN, giúp đánh giá chất lƣợng tƣơng tác giữa GV và HS. Đƣợc xây dựng và áp dụng rộng rãi tại Mỹ, thang đo này cũng đã đƣợc hiệu chỉnh để áp dụng tại các quốc gia thu nhập cao khác, bao gồm Đức và I-ta-li-a. Sự đóng góp của cộng đồng, đặc biệt là phụ huynh, là vô cùng quan trọng để đảm bảo chất lƣợng GDMN. Ở Pháp, Quỹ Phân bổ Gia đình Quốc gia tiến hành rà soát định kỳ dựa trên kết quả khảo sát mức độ hài lòng của phụ huynh, và những đại diện phụ huynh đƣợc lựa chọn trong các khảo sát này sẽ tham mƣu cho Ủy ban Giáo dục Mầm non của Đại hội đồng.

Cuốn sách Giáo dục Nhật Bản nhìn từ thế giới [45] đƣợc xuất bản tại Nhật đã đề cập đến đặc trƣng của giảo dục mầm non tại Nhật Bản, mô tả lại hoạt động diễn ra trong các trƣờng mầm non, mẫu giáo Nhật Bản, thời gian học tập, những sinh hoạt cũng nhƣ phƣơng pháp GD trẻ em mầm non ở các trƣờng mầm non của Nhật. Hầu hết các trƣờng mầm non tại Nhật Bản có hai hình thức: trƣờng mẫu giáo và nhà trẻ. Nhà trẻ (yochien) hoạt động dƣới sự giám sát của Bộ Văn hóa, dành cho trẻ em ở độ tuổi từ 3-5 tuổi, nhận trông trẻ khoảng 5 tiếng/ ngày. Trƣờng mẫu giáo (hoikuen) đƣợc thành lập bởi Quỹ Phúc lợi, chủ yếu dành cho trẻ em ở những gia đình có mẹ đang đi làm.

Các dạng trƣờng mầm non này dành cho trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi và nhận trông giữ 8 tiếng/ngày. Ở mọi khía cạnh, hai loại hình tổ chức này có nhiều điểm tƣơng đồng nhƣ cơ sở vật chất, chƣơng trình giảng dạy, phong cách giảng dạy và các hoạt động trong lớp học. Tỷ lệ trẻ em Nhật Bản theo học trƣờng mầm non rất lớn, 40% trẻ em 3 tuổi và 92% trẻ em từ 4-5 tuổi tham dự hoặc trƣờng mẫu giáo, hoặc nhà trẻ. Hiếm ai để con thôi học sau khi đã tham gia những lớp học này.

12 Cả hai loại hình trƣờng học trên đều mất học phí. Các phụ huynh cho rằng nhà trẻ có mức giá phù hợp với thu nhập của họ. Ngoài các khoản thu từ học phí, các tổ chức tiền tiểu học này còn nhận đƣợc trợ cấp từ Chính phủ. Tuy nhiên tác giả chƣa đi sâu phân tích các đặc trƣng của từng loại hình trƣờng những ƣu điểm, hạn chế của từng loại hình trƣờng này.

Amanda Ripley, tác giả của cuốn The smartest kids in the world: And How that got that way (Những đứa trẻ thông minh nhất thế giới: Và làm thế nào để có đƣợc cách đó) [102] đã so sánh mô hình GD trẻ em ở Mỹ và ở Hàn Quốc. Tác giả cho rằng: Hàn Quốc cũng nhƣ ở nhiều nƣớc châu Á khác, có trƣờng công lập và trƣờng tƣ thục. Tuy nhiên, quy mô lớp học ở trƣờng công lập rất lớn – đây là điều cực kỳ không mong muốn đối với phụ huynh Mỹ. Các trƣờng mầm non công lập và cả tƣ thục ở Hàn Quốc đều xác định mục tiêu của GD là giáo viên dẫn dắt lớp học trở thành một cộng đồng, và phát triển các mối quan hệ giữa học sinh với nhau.

Ở Mỹ, Bộ Giáo dục không thực hiện chức năng quản lý trực tiếp và toàn diện đối với toàn hệ thống giáo dục liên bang. Chính quyền các bang, các phòng giáo dục quận và nhà trƣờng có quyền tự chủ rất cao trong quản lý mọi mặt hoạt động của các trƣờng ngoài công lập theo khuôn khổ pháp luật (Luật Liên bang và từng bang). Kinh phí cho giáo dục từ các bang và các phòng giáo dục quận, kinh phí liên bang chỉ một phần nhỏ và chủ yếu dành phục vụ các đối tƣợng khó khăn. Các cơ quan quản lý của bang có trách nhiệm và quyền hạn lớn trong phạm vi, xây dựng kế hoạch chiến lƣợc phát triển giáo dục của bang cho đến phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên, quyết định nội dung chƣơng trình đào tạo của các loại hình giáo dục cả công lập và ngoài công lập.

Những nghiên cứu về chi phí và lợi ích của một số chƣơng trình cụ thể ở Mỹ cho thấy, lợi ích đầu tƣ vào các chƣơng trình chăm sóc giáo dục mầm non ngoài công lập là tích cực. Does the autistic child have a “Theory of mind”?-Cognition (Đứa trẻ tự kỷ có lý thuyết về tâm trí không?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ