Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục "Phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi" của nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Phượng (chuyên ngành Lí luận và Lịch sử Giáo dục, mã số 9.14.01.02 / 9.02, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2021) giải quyết vấn đề can thiệp giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính lứa tuổi mầm non thông qua việc hoàn thiện năng lực giao tiếp bằng lời nói.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghe – nói là cặp hoạt động ngôn ngữ âm thanh trực tiếp, kết hợp giữa tiếp nhận và tạo lập lời nói, giữ vai trò nền tảng đối với hoạt động nhận thức và tương tác xã hội của trẻ em. Đối với trẻ khiếm thính, việc suy giảm thính lực gây cản trở nghiêm trọng đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ nói tự nhiên. Mặc dù sự phát triển của công nghệ thính học (máy trợ thính, điện cực ốc tai) đã giúp trẻ tiếp cận được âm thanh lời nói, song các thiết bị này chỉ có tác dụng khuếch đại và truyền dẫn tín hiệu âm thanh chứ không thể tự phục hồi chức năng ngôn ngữ nếu thiếu quá trình huấn luyện chuyên biệt.
Giai đoạn 3 – 6 tuổi là thời kỳ then chốt định hình chất lượng ngôn ngữ nói nhằm chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Tại Việt Nam, đa số trẻ khiếm thính trong độ tuổi này sau khi đeo thiết bị trợ thính vẫn gặp nhiều rào cản: vốn từ nghèo nàn (chủ yếu là danh từ cụ thể), khó tiếp nhận các câu mệnh lệnh phức tạp (từ 2 – 3 yêu cầu), phát âm sai thanh điệu, phụ âm, ngắt quãng và ngữ pháp chưa hoàn chỉnh. Trong khi đó, đội ngũ giáo viên tại các lớp mẫu giáo hòa nhập phần lớn chưa qua đào tạo chuyên sâu về giáo dục đặc biệt, thiếu tài liệu hướng dẫn và thiếu hệ thống biện pháp can thiệp có tính sư phạm được xây dựng bài bản.
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi ở lớp mẫu giáo hòa nhập nhằm giúp trẻ giao tiếp, phát triển ngôn ngữ theo độ tuổi và hòa nhập cùng các bạn.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận của phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi ở lớp mẫu giáo hòa nhập.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng kỹ năng nghe – nói của trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi và thực trạng phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi ở lớp mẫu giáo hòa nhập.
- Đề xuất biện pháp và thực nghiệm biện pháp phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi ở lớp mẫu giáo hòa nhập.
Giả thuyết khoa học
Kỹ năng nghe – nói của trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi còn nhiều hạn chế mặc dù đã được trang bị thiết bị trợ thính. Nếu xây dựng và thực hiện được các biện pháp phát triển kỹ năng nghe – nói phù hợp với khả năng và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi, khai thác tốt các yếu tố lợi thế của môi trường giáo dục hòa nhập, kết hợp hài hòa giữa việc phát triển kỹ năng nghe – nói trong các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày và hoạt động hỗ trợ cá nhân thì sẽ giúp trẻ khiếm thính phát triển kỹ năng nghe – nói, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ giao tiếp và hòa nhập cùng các bạn ở lớp mẫu giáo hòa nhập.
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi.
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa hoạt động giáo dục phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi ở lớp mẫu giáo hòa nhập và mức phát triển kỹ năng nghe – nói của trẻ.
- Phạm vi nội dung: Kỹ năng nghe – nói trong hoạt động giao tiếp theo tiếp cận nghe – nói (Oral/Aural approach).
- Phạm vi khách thể khảo sát: Trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi đang học tại các lớp mẫu giáo hòa nhập, có sử dụng thiết bị trợ thính (máy trợ thính hoặc điện cực ốc tai) và có ngưỡng nghe khi đeo thiết bị dưới 50 dB trong dải tần số 250 – 4000 Hz. Mẫu khảo sát thực trạng gồm 36 trẻ khiếm thính và 127 giáo viên mầm non trực tiếp giảng dạy tại 15 trường mầm non thuộc 05 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Ninh Bình, Thái Nguyên, Yên Bái, Quảng Ngãi.
- Phạm vi thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm theo phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) trên 03 trẻ khiếm thính điển hình tại các trường mầm non hòa nhập trên địa bàn TP. Hà Nội và TP. Thái Nguyên.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Lịch sử giáo dục trẻ khiếm thính ghi nhận sự tranh luận kéo dài giữa hai trường phái: sử dụng ngôn ngữ ký hiệu (Abblé de l’Epée) và coi trọng lời nói cùng sức nghe còn lại (Samuel Heinicke). Đến Hội nghị Milan (Italia, 1880), xu hướng sử dụng tiếp cận nghe – nói được khẳng định ưu thế nhằm thúc đẩy hòa nhập xã hội. Về mặt kỹ thuật và thính học, Jean Marc Itard (1775–1835) đã đặt nền móng đo sức nghe còn lại và luyện nghe bằng nhạc cụ (trống, chuông, sáo); Arthur Whipple (1830–1895) đề xuất phương pháp nghe – nhìn (hear-seen method); Jaap Groen (1945) phát minh thiết bị khuếch đại âm thanh lời nói.
Các nghiên cứu ngôn ngữ học và can thiệp thính học hiện đại đã chỉ ra:
- Đặc điểm thụ đắc ngôn ngữ: Yoshinaga-Itano & Seedy (1998), Ling D. (1982, 2017) xác nhận trẻ khiếm thính có sự chậm trễ về ngữ pháp và từ vựng ngay cả ở mức độ suy giảm thính lực nhẹ. Skarakis & Prutting (1977), Curtiss, Prutting & Lowell (1979), Kuder S. phát hiện chức năng ngữ dụng của trẻ khiếm thính tương đương trẻ nghe nhỏ tuổi hơn, nhưng chức năng ngữ nghĩa bị chậm đáng kể. Geers & Moog (1989) khảo sát 100 thanh thiếu niên khiếm thính (suy giảm thính lực > 85 dB HL) chứng minh việc giáo dục bằng lời nói có thể giúp trẻ tiệm cận trình độ ngôn ngữ của người bình thường.
- Vai trò của can thiệp sớm và thiết bị: Nicholas & Geers (2006) và Betty Vohr cùng cộng sự (2011) khẳng định trẻ được cấy điện cực ốc tai và can thiệp trước 3 tháng tuổi đạt mức phát triển ngôn ngữ tương đương trẻ bình thường. Các mốc can thiệp trước 11 tháng (Moeller, 2000), trước 16 tháng (Greenstein, Convill & Stelline, 1975) và trước 18 tháng (White & White, 1987) đều chứng minh ưu thế vượt trội về vốn từ. Svirsky và cộng sự (2014) nhấn mạnh sự cần thiết của việc duy trì hỗ trợ thính học liên tục.
- Phương pháp can thiệp: McLean (2000) chia việc dạy phát âm thành hai mức độ: ngữ âm (phonetic) và âm vị học (phonological). Marc Marschark, Harry G. Lang & John A. Albertini (2002) chứng minh ngôn ngữ được học tốt nhất qua các tình huống tự nhiên thay vì dạy trực tiếp bảng từ vựng. Hai mô hình can thiệp chính là Trị liệu Thính giác – Lời nói (Auditory-Verbal Therapy - AVT), lấy phụ huynh làm trung tâm và tận dụng tối đa thính giác; và Phương pháp Thính giác – Hình miệng (Auditory/Oral - A/O), kết hợp đọc hình miệng và tín hiệu ngữ cảnh. Calderon (2017) chỉ ra sự tham gia của cha mẹ và giáo viên là nhân tố quyết định thành công.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Đặc điểm ngôn ngữ trẻ khiếm thính: Phạm Thị Cơi (cuối những năm 1980) chỉ ra vốn từ của trẻ khiếm thính mẫu giáo chỉ đạt khoảng 30 – 50 từ (chủ yếu là danh từ cụ thể, câu một từ), độ rõ ràng lời nói hạn chế. Bùi Thị Lâm (2012) khảo sát trẻ 3 – 4 tuổi khiếm thính, khẳng định khả năng nghe hiểu kém và đề xuất phát triển ngôn ngữ qua hoạt động chơi.
- Quy luật phát triển ngôn ngữ chung: Lưu Thị Lan (1994) phân tích các bước phát triển ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của trẻ 1 – 6 tuổi. Nguyễn Thị Hoàng Yến (1997, 2002) nghiên cứu băng minh họa phát triển ngôn ngữ trẻ 3 – 6 tuổi và đề xuất các biện pháp giáo dục hòa nhập chuẩn bị cho trẻ khiếm thính vào lớp 1. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Đinh Hồng Thái (2006), Bùi Kim Tuyến, Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thanh Hồng xây dựng phương pháp phát triển lời nói cho trẻ mầm non bình thường.
- Giao tiếp trong giáo dục hòa nhập: Lê Văn Tạc (2000) chứng minh mối tương quan thuận giữa ngôn ngữ biểu đạt và ngôn ngữ cảm thụ trong môi trường hòa nhập; Vương Hồng Tâm (2009) khẳng định việc xem ngôn ngữ nói là ngôn ngữ thứ nhất và sử dụng phương pháp tiếp cận nghe – nói là giải pháp cơ bản.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ nói chung, giáo dục hòa nhập diện rộng hoặc khảo sát khi công nghệ trợ thính còn sơ khai. Thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về quy trình, phương pháp và biện pháp can thiệp phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi có đeo thiết bị trợ thính học tập trong môi trường lớp mẫu giáo hòa nhập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Khái niệm trẻ khiếm thính và phân loại sức nghe: Luận án tiếp cận định nghĩa trẻ khiếm thính là trẻ bị suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau dẫn đến khó khăn trong tri giác âm thanh lời nói, làm hạn chế khả năng giao tiếp và nhận thức. Luận án áp dụng thang phân loại 4 mức độ giảm thính lực phổ biến tại Việt Nam:
| Mức độ |
Ngưỡng nghe |
Khả năng nghe thực tế |
| Mức 1: Điếc nhẹ |
21 dB – 40 dB |
Nghe được âm thanh to hơn bình thường, không nghe được tiếng nói thầm. |
| Mức 2: Điếc vừa |
41 dB – 70 dB |
Nghe được tiếng nói to, không nghe được tiếng nói chuyện bình thường. |
| Mức 3: Điếc nặng |
71 dB – 90 dB |
Chỉ nghe được tiếng nói to sát tai. |
| Mức 4: Điếc sâu |
Trên 90 dB |
Hầu như không nghe được âm thanh, trừ tiếng động cực lớn (sấm, trống to). |
- Lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Dựa trên quan điểm của Lev Vygotsky, A.A. Leontiev:
- Giao tiếp ngôn ngữ lấy mục đích tác động (nhận thức, tình cảm, hành động) làm trọng tâm, thông tin là phương tiện.
- Mô hình giao tiếp gồm quá trình mã hóa (người phát tin $S$, ngôn ngữ $N$, nội dung $D$) thành lời nói và giải mã (người nhận tin $S'$, ngôn ngữ $N'$, nội dung $D'$).
- Yếu tố "Nhiễu" (tiếng ồn, âm vang môi trường) làm sai lệch khoảng cách giữa $D$ và $D'$. Phát triển kỹ năng nghe – nói đòi hỏi giáo viên phải kiểm soát và khử nhiễu.
- Các quan điểm tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận cá nhân hóa; Tiếp cận hoạt động – giao tiếp; Tiếp cận giáo dục hòa nhập; Tiếp cận tích hợp.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa tài liệu chuyên ngành thính học, giáo dục đặc biệt, tâm lý học lứa tuổi.
- Phương pháp điều tra thực tiễn:
- Quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động nghe – nói của trẻ trong sinh hoạt, học tập, vui chơi.
- Điều tra bảng hỏi: Khảo sát 127 giáo viên mầm non về nhận thức, nội dung, phương pháp và khó khăn khi dạy trẻ khiếm thính.
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn giáo viên và chuyên gia giáo dục đặc biệt.
- Phương pháp trắc nghiệm/đánh giá: Thiết kế bộ công cụ đánh giá kỹ năng nghe – nói của trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi gồm 11 tiêu chí.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích kế hoạch giáo dục cá nhân và phát ngôn thực tế của trẻ.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế thực nghiệm nghiên cứu trường hợp (case study) trên 03 trẻ khiếm thính nhằm đo lường sự biến đổi các kỹ năng thành phần trước và sau tác động.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0, tính điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), phân tích tương quan và kiểm định thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lý luận của phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở tâm lý, giáo dục và ngôn ngữ học của việc rèn luyện kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính:
- Đặc điểm tâm lý – giác quan: Trẻ khiếm thính có tri giác nhìn phát triển mạnh để bù trừ cho thính giác; khả năng chú ý và ghi nhớ thị giác chiếm ưu thế nhưng dễ phân tán bởi các yếu tố trực quan xung quanh.
- Tiến trình phát triển kỹ năng: Trẻ trải qua 5 giai đoạn (chú ý âm thanh lời nói $\rightarrow$ hiểu nghĩa từ $\rightarrow$ nhập tâm thu nạp vốn từ $\rightarrow$ nói bắt chước $\rightarrow$ nói chủ động). Đối với trẻ bình thường: lứa tuổi 3 – 4 tuổi đạt 800 – 1200 từ; 4 – 5 tuổi đạt 1300 – 2000 từ; 5 – 6 tuổi đạt 2000 – 3000 từ và hoàn thiện ngữ pháp. Đối với trẻ khiếm thính, tiến trình này bị gián đoạn cho đến khi được đeo máy và cần can thiệp có chủ đích.
- Mục tiêu và nội dung phát triển kỹ năng: Luận án cấu trúc nội dung phát triển thành 2 nhóm với 11 tiêu chí cụ thể:
| Nhóm kỹ năng |
Các tiêu chí thành phần |
| Kỹ năng nghe (5 tiêu chí) |
1. Nhận diện 6 âm Ling (/m/, /a/, /u/, /i/, /s/, /x/). 2. Nghe hiểu từ chỉ sự vật, hành động, hiện tượng quen thuộc. 3. Nghe hiểu từ chỉ đặc điểm, tính chất, công dụng, biểu cảm. 4. Nghe hiểu và thực hiện từ 1 đến 3 yêu cầu. 5. Nghe hiểu nội dung câu chuyện, bài thơ. |
| Kỹ năng nói (6 tiêu chí) |
6. Phát âm các tiếng, từ, câu rõ ràng. 7. Sử dụng lời nói với từ thông dụng (sự vật, hành động). 8. Sử dụng lời nói với từ chỉ đặc điểm, tính chất, biểu cảm. 9. Thể hiện nhu cầu, cảm xúc, hiểu biết bằng lời nói. 10. Kể lại các sự việc đơn giản. 11. Kể lại câu chuyện đơn giản đã nghe. |
- Phương pháp và hình thức tổ chức: Vận dụng phương pháp tự nhiên (học qua tình huống thực), phương pháp trị liệu thính giác – lời nói (AVT), phương pháp thính giác – hình miệng (A/O). Tổ chức lồng ghép trong chế độ sinh hoạt hằng ngày và các tiết hỗ trợ cá nhân tại phòng hỗ trợ giáo dục hòa nhập.
Chương 2. Thực trạng phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi ở các lớp mẫu giáo hòa nhập
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát trên 36 trẻ khiếm thính và 127 giáo viên tại 15 trường mầm non thuộc 5 tỉnh/thành:
- Thực trạng kỹ năng nghe – nói của trẻ khiếm thính:
- Kỹ năng nhận diện 6 âm Ling đạt kết quả tương đối tốt ở các âm tần số thấp và trung bình (/m/, /a/, /u/, /i/), nhưng gặp khó khăn lớn ở các âm tần số cao (/s/, /x/).
- Khả năng nghe hiểu và sử dụng từ vựng chủ yếu giới hạn ở danh từ cụ thể, quen thuộc; điểm số ở nhóm từ chỉ đặc điểm, tính chất, công dụng và biểu cảm đạt mức rất thấp.
- Về kỹ năng nói, phần lớn trẻ phát âm sai thanh điệu (đặc biệt là thanh ngã, thanh hỏi), mất phụ âm cuối, nói ngắt quãng từng từ, cấu trúc ngữ pháp câu còn lộn xộn hoặc chỉ dùng câu cụt một từ kèm điệu bộ.
- Mối tương quan giữa kỹ năng nghe – nói và các yếu tố can thiệp: Luận án xử lý thống kê cho thấy kỹ năng nghe – nói của trẻ có tương quan chặt chẽ với 3 yếu tố cốt lõi:
- Loại thiết bị trợ thính: Trẻ cấy điện cực ốc tai đạt kết quả nhận diện âm thanh và nghe hiểu vượt trội so với trẻ chỉ dùng máy trợ thính thông thường.
- Tuổi nghe (thời gian sử dụng thiết bị liên tục): Trẻ có tuổi nghe càng dài thì kỹ năng phát âm và vốn từ càng hoàn thiện.
- Thời điểm tham gia can thiệp sớm: Trẻ được can thiệp sớm trước 2 tuổi có mức độ phát triển kỹ năng nghe – nói cao hơn rõ rệt so với nhóm can thiệp muộn.
- Thực trạng hoạt động sư phạm của giáo viên:
- 100% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính.
- Hạn chế thực tiễn: Giáo viên gặp khó khăn trong việc điều chỉnh kế hoạch bài dạy, chưa biết cách kiểm tra thiết bị trợ thính đầu giờ, thiếu kỹ năng xử lý âm học phòng học (chống ồn, chống vang), và chủ yếu sử dụng phương pháp trực quan thay vì kích thích tối đa thính giác của trẻ.
Chương 3. Biện pháp phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi
Chương 3 xây dựng hệ thống biện pháp dựa trên 4 nguyên tắc: Đảm bảo phù hợp mục tiêu chương trình giáo dục mầm non và tâm sinh lý trẻ; Đảm bảo tính toàn diện, phát triển, hệ thống; Đảm bảo tính cá biệt hóa; Đảm bảo phát huy tính tích cực, tự giác của trẻ.
Hệ thống gồm 3 nhóm biện pháp:
HỆ THỐNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGHE - NÓI
- Thực nghiệm sư phạm (Nghiên cứu trường hợp):
Thực nghiệm được triển khai trên 03 trẻ khiếm thính (bé Đ.N, bé N.M, bé P.K) đại diện cho các độ tuổi từ 3 đến 6, khác nhau về mức độ khiếm thính, loại thiết bị trợ thính và thời gian can thiệp:
- Bé Đ.N (3–4 tuổi): Sử dụng máy trợ thính, tuổi nghe ngắn. Biện pháp tập trung vào nhận biết âm thanh môi trường, nhận diện âm Ling và xây dựng vốn từ chỉ đồ vật quen thuộc.
- Bé N.M (4–5 tuổi): Cấy điện cực ốc tai một bên. Biện pháp tập trung vào sửa lỗi phát âm thanh điệu, nghe hiểu mệnh lệnh 2 bước và trả lời câu hỏi đơn giản.
- Bé P.K (5–6 tuổi): Cấy điện cực ốc tai, chuẩn bị vào lớp 1. Biện pháp tập trung vào nghe hiểu câu chuyện, mở rộng từ chỉ đặc điểm, rèn luyện cấu trúc câu phức và kỹ năng kể lại sự việc.
Kết quả thực nghiệm cho thấy sau thời gian tác động, cả 3 trẻ đều có sự chuyển biến rõ rệt về điểm số ở cả 11 tiêu chí đánh giá kỹ năng nghe và nói, giảm thiểu việc sử dụng cử chỉ điệu bộ và tăng cường giao tiếp chủ động bằng lời nói với giáo viên và các bạn trong lớp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại Việt Nam, cụ thể hóa lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào quá trình phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ khiếm thính lứa tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi).
- Xác định và chứng minh được tác động của 3 yếu tố quyết định đối với sự tiến bộ ngôn ngữ của trẻ khiếm thính trong môi trường hòa nhập: (1) Loại thiết bị trợ thính; (2) Tuổi nghe của trẻ; (3) Việc tham gia chương trình can thiệp sớm.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Xây dựng bộ thang đánh giá thực trạng kỹ năng nghe – nói của trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi gồm 11 tiêu chí cụ thể, rõ ràng, làm công cụ đo lường thực chứng cho giáo viên và các nhà nghiên cứu.
- Khảo sát và phản ánh bức tranh thực trạng năng lực ngôn ngữ của 36 trẻ khiếm thính và thực trạng tổ chức dạy học của 127 giáo viên tại 5 địa phương đại diện cho các vùng miền.
- Đề xuất hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ, kết hợp giữa môi trường sinh hoạt tập thể và can thiệp cá nhân hóa. Quy trình thực nghiệm chứng minh tính khả thi của hệ thống biện pháp đối với sự tiến bộ của trẻ khiếm thính trong thực tế trường mầm non hòa nhập.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với cơ quan quản lý giáo dục: Xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên môn định kỳ về giáo dục đặc biệt và kỹ năng hỗ trợ trẻ khiếm thính cho giáo viên mầm non; biên soạn tài liệu hướng dẫn can thiệp ngôn ngữ trong lớp hòa nhập.
- Đối với cơ sở giáo dục mầm non: Bố trí phòng hỗ trợ giáo dục cá nhân; trang bị thảm, rèm để giảm thiểu tiếng vang; tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên đứng lớp và giáo viên hỗ trợ đặc biệt.
- Đối với gia đình trẻ: Duy trì việc đeo máy liên tục cho trẻ trong toàn bộ thời gian thức; tích cực trò chuyện, mở rộng ngôn ngữ cho trẻ thông qua các tình huống sinh hoạt tại gia đình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do đặc thù của đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm khuyết tật giác quan có tần suất xuất hiện thấp trong quần thể, mẫu khảo sát thực nghiệm sâu chỉ giới hạn ở 03 trường hợp nghiên cứu điển hình (case study), chưa thể triển khai thực nghiệm đối chứng quy mô lớn trên hàng trăm trẻ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm trên các nhóm trẻ khiếm thính có thêm các dạng tật thứ cấp (đa tật).
- Tiếp tục theo dõi dọc (longitudinal study) sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính từ giai đoạn mầm non chuyển tiếp lên bậc tiểu học (lớp 1) để đánh giá độ bền vững của các biện pháp can thiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Giáo dục học và Giáo dục đặc biệt: Luận án cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về tiếp cận hoạt động – giao tiếp, phương pháp kiểm tra thính lực chức năng (6 âm Ling), cùng hệ thống trích dẫn tài liệu quốc tế chuyên sâu về can thiệp thính học.
- Đối với giáo viên mầm non dạy lớp hòa nhập: Cung cấp bộ công cụ 11 tiêu chí để theo dõi tiến độ của trẻ và tài liệu hướng dẫn tổ chức các trò chơi ngôn ngữ, cách điều chỉnh vị trí ngồi, kỹ thuật giao tiếp khẩu hình kết hợp âm thanh trong các thời điểm sinh hoạt hằng ngày.
- Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp dữ liệu thực chứng về nhu cầu bồi dưỡng giáo viên và tầm quan trọng của việc thành lập hệ thống phòng hỗ trợ cá nhân tại các trường mầm non công lập.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí chọn mẫu trẻ khiếm thính khảo sát và thực nghiệm trong luận án là gì?
Trẻ khiếm thính tham gia khảo sát và thực nghiệm nằm trong độ tuổi 3 – 6 tuổi, đang theo học tại các lớp mẫu giáo hòa nhập, có sử dụng thiết bị trợ thính (máy trợ thính hoặc điện cực ốc tai), tiếp cận theo hướng nghe – nói, và có ngưỡng nghe sau khi đeo thiết bị đạt dưới 50 dB trong dải tần số lời nói từ 250 Hz đến 4000 Hz.
2. Bộ công cụ đánh giá kỹ năng nghe – nói của luận án gồm những tiêu chí nào?
Bộ công cụ gồm 11 tiêu chí, chia thành 2 nhóm:
- Nhóm kỹ năng nghe (5 tiêu chí): Nhận diện 6 âm Ling; Nghe hiểu từ chỉ sự vật/hành động; Nghe hiểu từ chỉ đặc điểm/tính chất/biểu cảm; Nghe hiểu và thực hiện 1 – 3 yêu cầu; Nghe hiểu nội dung câu chuyện/bài thơ.
- Nhóm kỹ năng nói (6 tiêu chí): Phát âm rõ ràng tiếng/từ/câu; Sử dụng từ thông dụng; Sử dụng từ chỉ đặc điểm/biểu cảm; Thể hiện nhu cầu/cảm xúc bằng lời nói; Kể lại sự việc đơn giản; Kể lại câu chuyện đơn giản.
3. Sáu âm Ling được sử dụng trong luận án gồm những âm nào và có vai trò gì?
Sáu âm Ling gồm: /m/, /u/, /a/, /i/, /s/, /x/ (hoặc /sh/). Đây là các âm đại diện trải đều cho toàn bộ dải tần số của tiếng nói con người (từ tần số thấp đến tần số cao), dùng để kiểm tra nhanh khả năng phát hiện và nhận diện âm thanh của trẻ qua thiết bị trợ thính trước mỗi buổi học.
4. Ba yếu tố nào ảnh hưởng đáng kể nhất đến mức độ phát triển kỹ năng nghe – nói của trẻ khiếm thính?
Phân tích thống kê của luận án chỉ ra 3 yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất gồm: (1) Loại thiết bị trợ thính mà trẻ sử dụng (điện cực ốc tai cho kết quả tối ưu hơn máy trợ thính thông thường ở các dải tần khó); (2) Tuổi nghe (tổng thời gian trẻ đeo thiết bị trợ thính liên tục); (3) Việc trẻ được tham gia chương trình can thiệp sớm ngay sau khi phát hiện khiếm thính.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm biện pháp phát triển kỹ năng nghe – nói cho trẻ?
Tác giả đề xuất 3 nhóm biện pháp đồng bộ:
- Nhóm biện pháp điều kiện: Đảm bảo thiết bị trợ thính hoạt động tốt, xây dựng môi trường âm học giảm ồn, phối hợp với phụ huynh.
- Nhóm biện pháp trong chế độ sinh hoạt hằng ngày: Lồng ghép rèn luyện kỹ năng nghe – nói trong giờ đón/trả trẻ, hoạt động học, hoạt động chơi góc/ngoài trời, và giờ ăn/vệ sinh.
- Nhóm biện pháp trong hoạt động hỗ trợ cá nhân: Luyện nghe phân biệt âm thanh, sửa lỗi phát âm, mở rộng vốn từ và rèn luyện kể chuyện tại phòng hỗ trợ riêng.
Kết luận
Luận án của NCS. Nguyễn Minh Phượng đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của giáo dục hòa nhập mầm non thông qua việc xây dựng cơ sở lý luận vững chắc dựa trên tiếp cận hoạt động – giao tiếp và công nghệ trợ thính hiện đại. Tác giả đã khảo sát thực trạng toàn diện trên 36 trẻ khiếm thính và 127 giáo viên tại 5 tỉnh/thành, làm rõ các khó khăn điển hình về vốn từ, ngữ âm và ngữ pháp của trẻ. Hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm đề xuất đã được kiểm chứng qua thực nghiệm nghiên cứu trường hợp trên 3 trẻ điển hình, chứng minh tính khả thi trong việc nâng cao kỹ năng nghe – nói, giúp trẻ khiếm thính 3 – 6 tuổi tự tin giao tiếp và hòa nhập bền vững vào trường phổ thông.