Tổng quan luận án
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, việc thiết lập "ấp chiến lược" được Mỹ và chính quyền Sài Gòn xác định là một "quốc sách", giữ vai trò "xương sống" trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 – 1965) tại chiến trường miền Nam. Mục tiêu của biện pháp này là chiếm đất giành dân, kiểm soát nông thôn, phá vỡ hậu phương và căn cứ cách mạng, nhằm cô lập và tiêu diệt các lực lượng kháng chiến. Sau cuộc đảo chính tháng 11-1963, mô hình này được điều chỉnh tên gọi thành "ấp tân sinh" nhưng bản chất bình định vẫn không thay đổi. Miền Tây Nam Bộ là địa bàn chiến lược trọng yếu, vùng nông nghiệp trù phú và là nơi phong trào chống phá ấp chiến lược diễn ra sôi nổi, quyết liệt. Luận án chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: trước đây đã có một số công trình đề cập đến ấp chiến lược nói chung, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về phong trào chống phá ấp chiến lược trên địa bàn miền Tây Nam Bộ giai đoạn 1961 – 1965.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trình bày có hệ thống tiến trình phong trào chống phá ấp chiến lược của quân và dân miền Tây Nam Bộ từ năm 1961 đến năm 1965; từ đó rút ra các đặc điểm, vai trò, hạn chế và bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm bốn nội dung:
- Phân tích âm mưu, thủ đoạn thiết lập ấp chiến lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, cùng bối cảnh lịch sử của phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 – 1965).
- Trình bày các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống của địa bàn; phân tích các chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam và sự vận dụng của Khu ủy, Đảng bộ địa phương vào thực tiễn đấu tranh.
- Tái hiện quá trình quân và dân miền Tây Nam Bộ từng bước đánh bại các thủ đoạn gom dân, lập ấp chiến lược của đối phương qua từng giai đoạn cụ thể.
- Đưa ra những nhận xét về đặc điểm nổi bật, vai trò, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử.
Đối tượng nghiên cứu là phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược của quân và dân miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1961 – 1965.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1961 – 1965, mốc thời gian Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt".
- Phạm vi không gian: Địa bàn Khu ủy miền Tây Nam Bộ (mật danh T3) theo phân chia của Trung ương Cục miền Nam, gồm các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (gồm Hậu Giang), Rạch Giá, Sóc Trăng (gồm phần lớn tỉnh Bạc Liêu) và Cà Mau (gồm huyện Đông Hải - Bạc Liêu). Địa bàn này tương ứng với các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Chương Thiện, Kiên Giang, Ba Xuyên, An Xuyên dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm cụ thể:
Nhóm công trình trong nước về cuộc kháng chiến chống Mỹ:
- Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học (1995) của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, phân tích đường lối và phương thức tiến công tổng hợp ba mũi giáp công làm phá sản quốc sách ấp chiến lược.
- Khu VIII - Trung Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) (2004) do Trung tướng Nguyễn Minh Đường chủ biên, cung cấp tư liệu về địa bàn giáp ranh và tác động từ chiến thắng Ấp Bắc (1963) đến chiến trường Tây Nam Bộ.
- Công trình của Giáo sư Trần Văn Giàu trong Miền Nam giữ vững thành đồng (in lại trong Tổng tập Trần Văn Giàu, 2006) và bài báo trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (số 105, 1968), phân tích cơ chế ba mũi giáp công và sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đồng bào tôn giáo, dân tộc Khmer.
- Các công trình của Hà Minh Hồng: Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969-1975) (2000) và Nam Bộ 1945 - 1975 - Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng (2008), khái quát đặc điểm chiến tranh du kích và sự kết hợp giữa nông thôn với đô thị.
- Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2010) của Hội đồng Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến.
- Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (Tập 3, 2010) do Nguyễn Văn Minh chủ biên (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam), phân tích các chiến thắng tiêu biểu như Ấp Bắc (1963), Đầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (1963), Lộc Ninh (1963), Vĩnh Thuận (1964).
- Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975) (2010) do Nguyễn Quý chủ biên.
- Chung một bóng cờ (2010) do Trần Bạch Đằng chủ biên, với các bài viết của nguyên Bí thư Khu ủy miền Tây Nam Bộ Nguyễn Thành Thơ và Vũ Đình Liệu.
- Lịch sử phong trào đấu tranh chống phá bình định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (Tập 2, 2015) do Nguyễn Huy Thục chủ biên, đúc kết phương châm "bốn bám" và phương thức "hai chân, ba mũi".
Nhóm công trình của các tác giả nước ngoài:
- Sir Robert Thompson với Defeating communist insurgency: The lesson of Malaya and Vietnam (1965) và Make for the Hills: Memories of Far Eastern Wars - No Exit From Vietnam (1989), lý giải sự thất bại của chương trình do áp đặt chính trị từ trên xuống và sự khác biệt giữa cấu trúc nông thôn Việt Nam với Malaya.
- Báo cáo của Lầu Năm Góc: The Strategic Hamlet Program 1961 - 1963 (1971), đánh giá toàn diện chương trình ấp chiến lược dưới góc độ viện trợ và chiến lược chống nổi dậy.
- James M. Higgin (1989) với luận văn thạc sĩ The Misapplication of the Malayan Counterinsurgency Model to the Strategic Hamlet Program.
- Peter Francis Leahy (1990) với luận văn Why did the strategic hamlet program fail?, phân tích 12 nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chương trình.
- Stanley Karnow với tác phẩm Vietnam - A History (1983); Gabriel Kolko với Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (1985); Robert McNamara với In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam (1995); George C. Herring với America's Longest War: The United States and Vietnam, 1950-1975 (1998); Neil Sheehan với A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam (1988); William Colby với Một chiến thắng bị bỏ lỡ (2007); James A. Henretta và David Brody (2010); Edward Miller với Misalliance: Ngo Dinh Diem, The United States and Fate of South Vietnam (2013); cùng các nghiên cứu của Clutterbuck & Richard L. Brigadier (1966), Benjamin Bradle (1976), Herbert A. Friedman (2000), Peter Busch (2003).
Nhóm công trình chuyên khảo và bài báo về ấp chiến lược:
- Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thu Hương: Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961-1965) (2003).
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Công Thục: Phong trào chống phá ấp chiến lược 1963-1964 (2006) và bài viết trên tạp chí Lịch sử quân sự (1999).
- Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Liêm: Phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Đông Nam Bộ (1961-1965) (2006).
- Luận văn của Học viện Quốc gia Hành chánh Sài Gòn: Nguyễn Viết Danh (1963), Nguyễn Văn Tương (1969).
- Các bài báo của Duy Nghĩa (Tạp chí Học tập, 1963) và Phạm Quang Toàn (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 1976).
Nhóm công trình lịch sử địa phương và quân sự Tây Nam Bộ:
- Bộ sách Những trận đánh của lực lượng vũ trang đồng bằng sông Cửu Long (9 tập, 1989 – 1997) và Quân Khu 9 - 30 năm kháng chiến (1995) của Bộ Tư lệnh Quân khu 9.
- Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến và Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến 1954-1975.
- Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia năm 2013: 50 năm chiến thắng Đầm Dơi - Cái Nước - Chà Là, Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm với các tham luận của Phạm Văn Trà, Mai Quang Phấn, Vũ Quang Đạo, Đinh Quang Hải, Hồ Khang - Trần Hữu Huy, Trần Ngọc Long, Hồ Sơn Đài, Mai Triều Tiên.
- Lịch sử Đảng bộ các tỉnh: Bạc Liêu, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Minh Hải, Kiên Giang và các huyện: Đầm Dơi, Thốt Nốt, Ô Môn, Châu Thành, Duyên Hải, Phú Quốc, Vĩnh Thuận, Giồng Riềng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết:
Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu ở quy mô toàn miền Nam, tập trung vào địa bàn Đông Nam Bộ hoặc phản ánh các sự kiện riêng lẻ trong lịch sử địa phương. Luận án đi sâu tái hiện toàn diện, có hệ thống phong trào chống phá ấp chiến lược tại miền Tây Nam Bộ từ năm 1961 đến năm 1965, phân tích tính đặc thù địa bàn sông nước, vai trò của khối đoàn kết Việt - Khmer và nghệ thuật kết hợp ba mũi giáp công tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Quan điểm lịch sử được soi chiếu qua các chủ trương, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy miền Tây Nam Bộ.
Khái niệm và thuật ngữ then chốt:
- Ấp chiến lược (ACL): Khu gom dân ở nông thôn do Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra từ năm 1961, hoạt động như cứ điểm phòng vệ nhằm tách rời quần chúng khỏi lực lượng cách mạng ("tát nước bắt cá"), kiểm soát bằng biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội theo quy chuẩn nghiêm ngặt (hàng rào, hào chiến đấu, ngũ gia liên bảo).
- Ấp tân sinh: Tên gọi điều chỉnh của ấp chiến lược sau cuộc đảo chính tháng 11-1963, sử dụng biện pháp mị dân kết hợp hệ thống phòng thủ thay đổi từ rào kín sang lực lượng vũ trang tuần tra bên ngoài, song bản chất bình định vẫn giữ nguyên.
- Ba mũi giáp công: Phương thức kết hợp ba hình thức đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận trong chiến tranh cách mạng miền Nam.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chủ đạo: Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình sự kiện gắn với việc rút ra quy luật, bản chất và đặc điểm của phong trào.
- Phương pháp cụ thể: Sưu tầm tư liệu, điền dã thực địa, phỏng vấn nhân chứng lịch sử, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp.
Nguồn tư liệu thực hiện:
- Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy Khu 9.
- Khối tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh): hồ sơ Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa, Bộ Nội vụ, Bộ Công chính và Giao thông, Hội đồng Quân nhân Cách mạng, Bộ Đặc nhiệm Văn hóa Xã hội (công văn số 07682-BNV/CTI8M ngày 15-12-1961; Sắc lệnh số 11-TTP ngày 3-2-1962; Quyết nghị số 1214-CT/LP ngày 19-4-1962).
- Tài liệu lưu trữ tại Phòng Khoa học Quân khu 9 và trung tâm lưu trữ các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
- Hồi ký, biên bản lời kể của các đồng chí lão thành cách mạng và tài liệu khảo sát điền dã tại các địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này (độ dài 26 trang) tập trung xác định bối cảnh vấn đề nghiên cứu và phân tích tình hình tài liệu trong và ngoài nước. Tác giả chỉ rõ ấp chiến lược được Mỹ và chính quyền Sài Gòn xem là quốc sách và là "xương sống" của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt". Chương 1 tổng kết các nhóm công trình trong nước, công trình nước ngoài, các công trình chuyên khảo và hệ thống lịch sử địa phương tại Tây Nam Bộ; từ đó chỉ ra các nội dung kế thừa về phương pháp luận, cơ sở lý luận của chiến tranh giải phóng và xác lập những khoảng trống khoa học cần được luận án giải quyết.
Chương 2: Phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 – 1963)
Chương này (độ dài 66 trang) phân tích các nhân tố tác động và diễn trình phong trào trong giai đoạn đầu:
- Nhân tố tác động: Điều kiện địa lý sông ngòi chằng chịt, diện tích nông nghiệp trù phú (đóng góp 40% sản lượng lúa gạo cả nước), địa bàn cư trú của hơn 300.000 đồng bào Khmer gắn với hệ thống chùa và phum sóc; căn cứ địa U Minh, rừng tràm, rừng ngập mặn; truyền thống yêu nước qua các phong trào kháng Pháp của Nguyễn Trung Trực, Đốc binh Lê Cẩn, vụ Đồng Nọc Nạng (1928), Khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) và cuộc kháng chiến 1954 – 1960.
- Kế hoạch của đối phương: Chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Chương Thiện (21-12-1961) nhằm cắt đứt liên lạc giữa căn cứ U Minh với Cần Thơ; thành lập Ủy ban liên Bộ đặc trách Ấp chiến lược (Sắc lệnh 11-TTP ngày 3-2-1962); chọn ấp Phước Ngươn B (xã Phước Hậu, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long) làm "ấp chiến lược kiểu mẫu" thí điểm từ tháng 2-1962; áp dụng chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận".
- Tiến trình đấu tranh: Quán triệt các chỉ thị của Đảng, quân dân miền Tây Nam Bộ từng bước chuyển từ đối phó lúng túng sang chủ động tiến công. Phong trào trải qua bước đầu (1961 – 1962), sau đó hưởng ứng phong trào "thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công" trong năm 1963, đỉnh cao là các chiến thắng quân sự hỗ trợ quần chúng phá ấp như chiến dịch Đầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (1963).
Chương 3: Phong trào chống phá ấp chiến lược (ấp tân sinh) ở miền Tây Nam Bộ (1964 – 1965)
Chương này (độ dài 36 trang) trình bày phong trào trong bối cảnh chính quyền Sài Gòn khủng hoảng sau cuộc đảo chính tháng 11-1963:
- Mỹ và chính quyền Sài Gòn điều chỉnh hình thức bình định từ quốc sách "ấp chiến lược" thành chính sách "ấp tân sinh", phân chia lại địa bàn quản lý quân sự thành Khu chiến thuật 41 và Khu chiến thuật 42 thuộc Vùng IV chiến thuật (từ tháng 11-1964).
- Quân dân miền Tây Nam Bộ thực hiện chủ trương của Trung ương Cục và Khu ủy T3, mở các đợt cao trào chống phá ấp chiến lược/ấp tân sinh trong năm 1964.
- Trong năm 1965, phong trào tiếp tục được đẩy mạnh kết hợp với các đòn tiến công quân sự tiêu biểu (như chiến thắng Vĩnh Thuận), phá vỡ từng mảng lớn hệ thống kìm kẹp ở nông thôn, góp phần làm thất bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ trên chiến trường Tây Nam Bộ.
Chương 4: Một số nhận xét về phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961 – 1965)
Chương này (độ dài 34 trang) đúc kết các vấn đề lý luận và thực tiễn:
- Đặc điểm: Phong trào mang tính linh hoạt, gắn chặt với địa hình sông nước kênh rạch; mang tính chất bảo vệ các giá trị văn hóa nông thôn truyền thống chống lại sự cưỡng bức gom dân; có sự tham gia đông đảo của đồng bào Khmer và giới sư sãi.
- Vai trò: Góp phần đánh bại chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"; mở rộng và củng cố vùng giải phóng nông thôn Tây Nam Bộ; giữ vững hành lang tiếp nhận chi viện vũ khí từ miền Bắc qua đường biển; khẳng định hiệu quả của phương thức "ba mũi giáp công" và củng cố khối đoàn kết Việt - Khmer.
- Hạn chế: Giai đoạn đầu còn bộc lộ sự lúng túng, chủ quan trước các phương tiện chiến thuật mới của đối phương.
- Bài học kinh nghiệm: (1) Đánh giá chính xác âm mưu của đối phương để đề ra chủ trương sát hợp; (2) Kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công gắn với xây dựng thế trận lòng dân; (3) Tôn trọng phong tục và phát huy vai trò của đồng bào Khmer.
| Ký hiệu bảng trong luận án |
Tên bảng thống kê |
Giai đoạn/Thời điểm phản ánh |
| Bảng 2.1 |
Thống kê ngân khoản xây dựng ấp chiến lược |
1962 – 1963 |
| Bảng 2.2 |
Tổng kết công tác lập ấp chiến lược |
Đến trung tuần tháng 4-1963 |
| Bảng 2.3 |
Thống kê ấp chiến lược |
Tính đến tháng 11-1962 |
| Bảng 3.1 |
Thống kê ấp chiến lược |
Tính đến tháng 10-1963 |
| Bảng 3.2 |
Bảng tổng hợp tình hình an ninh |
Từ ngày 1-11-1963 đến 15-11-1963 |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu rõ bốn đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Trình bày có hệ thống và toàn diện các âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong việc triển khai quốc sách ấp chiến lược tại miền Nam và cụ thể hóa trên địa bàn miền Tây Nam Bộ.
- Tái hiện một cách hệ thống tiến trình phong trào chống phá ấp chiến lược của quân và dân Tây Nam Bộ (1961 – 1965), làm sáng tỏ nghệ thuật kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận ("ba mũi giáp công") trong điều kiện chiến trường sông nước.
- Phân tích, làm rõ những đặc điểm mang tính đặc thù của miền Tây Nam Bộ (vai trò của địa hình kênh rạch, sự tham gia của đồng bào Khmer, tính chất bảo vệ văn hóa làng xóm); đánh giá khách quan vai trò, hạn chế và đúc kết ba bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
- Bổ sung và xử lý nguồn tư liệu lịch sử mới được khai thác từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Phòng Khoa học Quân khu 9 và lời kể của các nhân chứng lịch sử, phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch sử.
Kiến nghị và giải pháp:
Luận án đề xuất ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại ở các trường đại học, cao đẳng và tích hợp vào chương trình giáo dục lịch sử địa phương tại các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long; đồng thời vận dụng bài học về "thế trận lòng dân" và đại đoàn kết dân tộc vào công tác quốc phòng - an ninh tại địa phương hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 1961 đến năm 1965 gắn với giai đoạn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", chưa mở rộng nghiên cứu giai đoạn chống phá bình định nông thôn trong "Chiến tranh cục bộ" (1965 – 1968) và "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969 – 1975) trên địa bàn Tây Nam Bộ. Nguồn tư liệu lời kể nhân chứng lịch sử chịu ảnh hưởng bởi độ lùi thời gian.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu phong trào chống phá bình định nông thôn giữa miền Tây Nam Bộ với các chiến trường khác (như miền Đông Nam Bộ, Khu V, Tây Nguyên) qua các giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về phong trào đấu tranh của đồng bào Khmer tại từng tiểu vùng Tây Nam Bộ trong suốt tiến trình lịch sử 1954 – 1975.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu của luận án cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, giáo viên lịch sử: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy chuyên đề lịch sử kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) và biên soạn bài giảng lịch sử địa phương tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử: Khai thác hệ thống tư liệu lưu trữ từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Phòng Khoa học Quân khu 9 và phương pháp tiếp cận lịch sử quân sự kết hợp lịch sử địa phương.
- Cơ quan tham mưu chính sách, lực lượng vũ trang: Tham khảo các bài học kinh nghiệm về vận động quần chúng, củng cố thế trận lòng dân, kết hợp ba mũi giáp công và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Kinh - Khmer trên địa bàn chiến lược Tây Nam Bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa bàn miền Tây Nam Bộ trong phạm vi nghiên cứu của luận án gồm những tỉnh nào?
Theo phân chia của Khu ủy miền Tây Nam Bộ (mật danh T3) trực thuộc Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1961 – 1965, địa bàn nghiên cứu gồm các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (gồm Hậu Giang), Rạch Giá, Sóc Trăng (gồm phần lớn tỉnh Bạc Liêu) và Cà Mau (gồm huyện Đông Hải/Giá Rai - Bạc Liêu). Địa bàn này tương ứng với các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Phong Dinh, Chương Thiện, Kiên Giang, Ba Xuyên, An Xuyên của chính quyền Sài Gòn.
2. Điểm thí điểm xây dựng "ấp chiến lược kiểu mẫu" đầu tiên tại Tây Nam Bộ được thực hiện ở đâu và vào thời gian nào?
Chính quyền Sài Gòn chọn tỉnh Vĩnh Long (cùng với Quảng Ngãi ở Trung Bộ) làm thí điểm. Vào tháng 2-1962, mô hình "ấp chiến lược kiểu mẫu" được triển khai tại ấp Phước Ngươn B, xã Phước Hậu, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long, sau đó nhân rộng ra toàn tỉnh và các địa phương khác ở miền Tây Nam Bộ.
3. Vì sao chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Chương Thiện vào cuối năm 1961?
Ngày 21-12-1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành nghị định thành lập tỉnh Chương Thiện (tách một phần từ Phong Dinh và Kiên Giang) nhằm cắt đứt tuyến liên lạc, chi viện của cách mạng từ căn cứ kháng chiến U Minh về chiến trường Cần Thơ, thiết lập vành đai bảo vệ Bộ chỉ huy Vùng IV chiến thuật và cơ quan lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ, đồng thời tạo bàn đạp tiến công vào căn cứ U Minh.
4. Phong trào chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ có những nét đặc thù nào so với các địa bàn khác?
Phong trào diễn ra trên địa bàn địa hình sông nước kênh rạch chằng chịt, gắn liền với các hoạt động chống càn quét và bẻ gãy chiến thuật "hạm đội nhỏ trên sông". Phong trào còn mang tính chất bảo vệ giá trị văn hóa xóm làng truyền thống của cư dân nông thôn và có sự tham gia đông đảo, giữ vai trò quan trọng của hơn 300.000 đồng bào cùng giới sư sãi Khmer tại các phum sóc, chùa chiền.
5. Sau tháng 11-1963, chính sách ấp chiến lược được điều chỉnh như thế nào?
Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm (1-11-1963), chính quyền Sài Gòn và Mỹ đổi tên "ấp chiến lược" thành "ấp tân sinh". Về bản chất, đây vẫn là biện pháp bình định nông thôn ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn cuối của "Chiến tranh đặc biệt", nhưng áp dụng các biện pháp mị dân xảo quyệt hơn và thay thế hệ thống rào kín bằng lực lượng vũ trang tuần tra từ bên ngoài.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Đức Thuận là công trình nghiên cứu chuyên khảo về phong trào chống phá ấp chiến lược tại miền Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1961 – 1965. Tác giả đã tái hiện có hệ thống các chủ trương của Đảng, quá trình triển khai chính sách bình định của đối phương và các bước phát triển của phong trào đấu tranh của quân dân Khu 9 qua từng giai đoạn lịch sử. Công trình làm sáng tỏ sự kết hợp giữa ba mũi giáp công với nghệ thuật chiến tranh nhân dân trên địa hình sông nước, đồng thời khẳng định vai trò của khối đoàn kết dân tộc Việt - Khmer. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tư liệu và rút ra ba bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cho công tác nghiên cứu, giáo dục lịch sử và xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay.