Chương 1 thực hiện giới thiệu các vấn đề cơ bản liên quan đến nghiên cứu như vấn đề, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và đóng góp của nghiên cứu Chương 2 xem xét tổng quan về thị trường XHTNDN và trình bày các nội dung về cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu liên quan về phát triển thị trường XHTNDN Chương 3 đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất, thu thập số liệu và kỹ thuật phân tích dữ liệu để phù hợp với khung lý thuyết được thiết lập trong chương 2. Chương 4 trình bày phân tích về đánh giá thực nghiệm của các vấn đề liên quan đến phát triển thị trường từ đánh giá của các cá nhân và doanh nghiệp tại Việt Nam. Đồng thời trình bày tổng hợp và thảo luận về những phát hiện thu được giúp gắn liền với câu hỏi nghiên cứu và hợp lý hóa các mục tiêu đề xuất trong nghiên cứu này. Chương 5 kết luận những phát hiện chính của nghiên cứu về các đóng góp, hạn chế cũng như định hướng nghiên cứu tiếp theo.
Chương này đưa ra các khuyến nghị đối với các bên liên quan cho việc phát triển thị trường XHTNDN tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP Trong phần này, nghiên cứu xem xét giới thiệu tổng quan về phát triển thị trường XHTNDN. Tiếp sau, nghiên cứu thực hiện giới thiệu về các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến phát triển thị trường XHTNDN. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM DOANH NGHIỆP 2.
XHTN doanh nghiệp và phát triển thị trường XHTN doanh nghiệp 2. XHTN doanh nghiệp và thị trường XHTN doanh nghiệp XHTNDN là một tiến trình đánh giá và phân loại mức độ tín nhiệm tương ứng với các cấp độ rủi ro khác nhau, mỗi kết quả xếp hạng là một sự phản ánh rõ ràng về khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp được xếp hạng, đồng thời XHTN còn là quá trình sử dụng các thông tin đã biết và thông tin hiện thời để dự báo kết quả tương lai (Ong, 2003). Khi một nhà đầu tư cung cấp một khoản tài chính cho nhà phát hành chứng khoán nợ, nhà đầu tư thường không biết về khả năng được hoàn trả (lựa chọn bất lợi) hoặc liệu nhà phát hành sẽ sử dụng số tiền đã nhận được một cách hiệu quả đúng như đã thoả thuận trong hợp đồng gốc (rủi ro đạo đức). Nhà đầu tư có thể thực hiện lựa chọn các nhà phát hành bằng cách sàng lọc thông qua nhiều cơ chế và có thể tham gia vào các quá trình giám sát để đảm bảo rằng con nợ đưa các khoản tiền nhận để sử dụng hiệu quả theo thỏa thuận.
Tuy nhiên, những nỗ lực sàng lọc và giám sát có thể rất tốn kém cho một nhà đầu tư và không hiệu quả như các nhà đầu tư lớn. Không có cơ chế để khắc phục sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức được mô tả ở trên, các nhà đầu tư sẽ rất khó đưa ra quyết định tham gia vào thị trường, hoặc phải phụ thuộc vào các trung gian đầu tư lớn, các khoản đầu tư sau đó cũng kém thanh khoản bởi vì người tham gia thị trường bị thiếu hụt thông tin và những lo lắng lựa chọn bất lợi khi mua một khoản nợ thứ cấp trên thị trường. Từ đó, thúc đẩy việc sử dụng các dịch vụ chuyên nghiệp bên ngoài để kiểm tra và giám sát như XHTN là một phương pháp tương đối tiết kiệm, chính xác để khắc phục sự lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Có 10 thể thấy, thị trường XHTNDN là một thị trường được hình thành bởi sự tham gia của các nhà đầu tư, doanh nghiệp phát hành, tổ chức XHTN và các bên liên quan khác để cung cấp các dịch vụ XHTNDN và thực hiện vai trò của thị trường trung gian thông tin trong nền kinh tế (European Union, 2016).
Phát triển thị trường XHTNDN Theo Ponce (2012), thị trường XHTNDN có CRA đóng vai trò trung gian thông tin trong thị trường phục vụ cả hai bên (two-sided market) gồm nhà phát hành và nhà đầu tư. Do đó, phát triển thị trường XHTNDN được xem xét trên các góc độ đánh giá hoạt động từ phía nhà phát hành, nhà đầu tư về bản thân các CRA với mô hình kinh doanh hợp lý trên thị trường XHTNDN. Phát triển thị trường XHTNDN khi các dịch vụ XHTNDN phải hình thành mô hình tạo lợi nhuận cho CRA và các ý kiến đưa ra của CRA được thị trường đánh giá là có hiệu quả thông qua phản ứng của thị trường với kết quả xếp hạng. Theo European Union (2016), tại Châu Âu, khi thị trường CRA doanh nghiệp đã có lịch sử lâu đời và hoạt động ở mức cao thì việc phát triển thị trường XHTNDN được nhấn mạnh đến tiếp tục duy trì tầm quan trọng về chuyên môn và danh tiếng của CRA và thông qua các biện pháp hiệu quả để thúc đẩy cạnh tranh.
Các biện pháp khuyến khích và tạo điều kiện phát triển những thế mạnh của các CRA sẵn có, đồng thời tạo điều kiện để đẩy nhanh quá trình CRA mới thành lập tạo được uy tín trên thị trường. Với các quốc gia đang phát triển mới hình thành sơ khai thị trường XHTNDN, Todhanakasem (2001) cho rằng phát triển của thị trường XHTN được thể hiện qua sự hình thành và mở rộng hoạt động của các CRA có đủ danh tiếng trên thị trường đó. Trong nghiên cứu này, quan điểm của White (2013) kết hợp với Todhanakasem (2001) được sử dụng để làm rõ về phát triển thị trường XHTNDN tại Việt Nam thông qua việc đánh giá mức độ thu hút tham gia đầy đủ của các chủ thể 11 trong thị trường cả về phía cung và phía cầu, tạo nên phản ứng tích cực về hiệu quả của hoạt động XHTN và mở rộng hoạt động của các CRA trên thị trường. Ashcraft, Schuermann (2008), White (2002), White (2013) đã khẳng định việc phát triển thị trường XHTNDN nói chung và các CRA nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Cụ thể là thị trường XHTNDN sẽ thực hiện hiệu quả vai trò chức năng chính là cung cấp dịch vụ thông tin (information services) và cung cấp dịch vụ giám sát (monitoring services) trên thị trường tài chính và nền kinh tế. Trong đó chức năng cung cấp dịch vụ thông tin là chức năng cơ bản, đầu tiên và quan trọng. Chức năng cung cấp dịch vụ thông tin được CRA thực hiện thông qua việc đưa ra các đánh giá độc lập về khả năng thanh toán nghĩa vụ tài chính của các chủ thể, từ đó giảm chi phí thông tin, thúc đẩy các thị trường tài chính, gia tăng tính thanh khoản cho thị trường. CRA với vai trò cung cấp thông tin sẽ thúc đẩy minh bạch thông tin thị trường, bằng cách đánh giá chất lượng tín dụng xếp hạng đại diện cho việc phổ biến thông tin cho những người tham gia thị trường về mức độ rủi ro của các nhà phát hành, khoản nghĩa vụ tài chính được phát hành.
Các tổ chức XHTN đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính, các nhà đầu tư sử dụng kết quả xếp hạng để đánh giá rủi ro tài chính của các công cụ tài chính. Việc tự đưa ra các phân tích, đánh giá đòi hỏi nhà đầu tư phải có nhiều thông tin, kiến thức, chi phí và rất nhiều thời gian để có được kết quả. Đối với các nhà đầu tư cá nhân thì điều này càng trở nên khó khăn hơn, do đó việc họ dựa vào kết quả đánh giá của tổ chức xếp hạng sẽ giúp giải quyết các khó khăn này. Với việc đánh giá rủi ro tài chính, các tổ chức xếp hạng có một tác động rất quan trọng đến mức lãi suất mà các chủ thể vay nợ phải thanh toán cho nhà đầu tư.
Nhà đầu tư căn cứ trên kết quả xếp hạng để quyết định mức lãi suất phù hợp cho việc đầu tư của họ. Việc giảm hạng tín nhiệm có thể dẫn đến việc tăng lãi suất, thậm chí việc giảm hạng xuống dưới mức đầu tư có thể dẫn đến tăng biến động trên thị trường, tâm lý hành động bầy đàn, hình thành vòng xoáy giảm giá của các công cụ tài chính (European Commission (2010b)). Do đó, các hành động của tổ chức xếp hạng việc phát ra thông tin ảnh hưởng rất nhiều đến thanh khoản và ổn định của thị trường. XHTN cũng đóng một vai trò quan trọng trong các việc 12 hình thành hợp đồng đầu tư của các tổ chức và quy định của cơ quan quản lý.
Đánh giá dựa trên quy định thường xuất hiện trong khoản vay thỏa thuận, giao ước trái phiếu và các quy tắc đầu tư nội bộ. Chẳng hạn, Quy tắc 2a-7 theo Đạo luật Công ty Đầu tư (1940) của Hoa Kỳ quy định giới hạn các quỹ thị trường tiền tệ chỉ được đầu tư vào các công cụ ngắn hạn có chất lượng cao, trong đó các tiêu chuẩn đầu tư chất lượng tối thiểu được dựa trên xếp hạng được công bố bởi CRA (Beaver, Shakespeare & Soliman, 2006). Chức năng giám sát của thị trường XHTNDN được Ashcraft, Schuermann (2008), White (2002), White (2013) xem xét vai trò quan trọng như chức năng cung cấp thông tin. Chức năng này của CRA thông qua việc tác động liên tục đến các chủ thể được xếp hạng khiến cho các chủ thể này cần có các hành động khắc phục vấn đề một các liên tục trong quá trình giám sát để tránh bị giảm hạng tín nhiệm.
Boot, Milbourn & Schmeits (2005) cho rằng vai trò giám sát liên tục của CRA thông qua các thủ tục theo dõi tín dụng của họ thường bị bỏ qua trong một số các nghiên cứu trước đây và đó là một điều sai lầm. Tác giả chứng minh rằng công việc của CRA không chỉ là phổ biến thông tin ban đầu, mà là phát huy vai trò rất lớn trong khía cạnh giám sát liên tục thông qua các thủ tục theo dõi tín dụng. Cụ thể, CRA sẽ tương tác với công ty mà nó đánh giá một cách liên tục. Đó là một điều kiện ràng buộc bắt buộc trong hợp đồng khi họ cung cấp dịch vụ xếp hạng cũng như các quy định về xếp hạng của CRA đó công bố ra bên ngoài.
Các CRA sẽ xem xét các nguy cơ thay đổi về đặc điểm của công ty và/hoặc tình hình thị trường đe dọa ảnh hưởng đến XHTN của nó. Việc thực hiện chức năng giám sát giúp cho CRA có thể thực hiện các hành động cụ thể để giảm thiểu sự suy giảm khả năng của tình trạng rủi ro tín dụng thông qua các kết quả xếp hạng của họ, từ đó giúp cho các nhà đầu tư trên thị trường có thể đưa ra các quyết định của mình một cách chính xác hơn.